Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2006 ghi dấu một sự kiện trọng đại, Việt Nam được kết nạp làm
thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (ngày 7/11).
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nước Mỹ cũng chính thức ký phê chuẩn
việc trao Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam
(ngày 21/12). Những ký kết lịch sử mang tầm quốc tế này sẽ tạo ra rất nhiều
những cơ hội mới, thúc đẩy sự tăng trưởng hoạt động thương mại quốc tế của
Việt Nam với các nước trên toàn thế giới trong thời gian tới. Dự báo trên đây
là hoàn toàn có cơ sở vì hàng hoá của Việt Nam không còn bị phân biệt đối
xử và chịu những rào cản thương mại của các nước thành viên WTO nữa. Các
doanh nghiệp lớn hay cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam sẽ có
nhiều cơ hội để bán hàng hoá ra nước ngoài và nhập khẩu những mặt hàng,
dịch vụ cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình với mức thuế
ưu đãi được các nước thành viên của WTO dành cho nhau. Một điều đương
nhiên, khi đã hội nhập và chấp nhận tham gia quan hệ thương mại quốc tế,
các doanh nghiệp Việt Nam phải tuân theo các tập quán và thông lệ quốc tế -
một "luật chơi chung" áp dụng cho mọi chủ thể tham gia quan hệ thương mại
này.
Theo kết quả đàm phán gia nhập WTO, về cam kết đa phương, Việt
Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và quy định mang tính ràng buộc
của WTO từ thời điểm gia nhập. Do đó, khi tham gia hoạt động xuất nhập
khẩu, dù với tư cách là người bán hàng (người xuất khẩu) hay người mua
hàng (người nhập khẩu), các doanh nghiệp Việt Nam đều phải thỏa thuận với
bên nước ngoài về các điều kiện và phương thức thanh toán thích hợp. Nhờ có
phương thức thanh toán mà người bán hàng có thể thu được tiền về từ người
mua hàng và ngược lại, người mua hàng có thể trả tiền cho người bán hàng và
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
1
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
nhận được đủ số hàng theo hợp đồng. Trong mua bán hàng hoá quốc tế,
trong hợp đồng và vụ việc được đưa ra giải quyết tại Tòa án nước ngoài hoặc
một cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khác theo yêu cầu của một
trong các bên, thì doanh nghiệp Việt Nam bị đặt vào tình thế yếu lý, gặp khó
khăn trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thậm chí bị
thua kiện. Chính vì những lí do và tồn tại kể trên mà rất cần có những giải
pháp cho sự phát triển nghiệp vụ Thanh toán quốc tế, đặc biệt là nghiệp vụ
Thanh toán quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ ở các ngân hàng
Thương mại. Lợi ích từ việc làm này đem lại đó là góp phần thúc đẩy hoạt
động xuất nhập khẩu của Việt Nam phát triển, tận dụng được các cơ hội giao
thương với nước ngoài mang về nguồn thu cho đất nước. Bên cạnh đó các
ngân hàng thương mại sẽ khẳng định được vai trò trung gian thanh toán rất
cần thiết và quan trọng của mình thông qua việc cung cấp nhanh chóng, kịp
thời và chất lượng các dịch vụ thanh toán quốc tế, tìm kiếm được lợi nhuận
cho chính mình, từng bước góp phần nâng cao chất lượng hoạt động ngân
hàng.
Trên cơ sở nghiên cứu và nắm bắt những đòi hỏi của thực tế này, trong
một thời gian dài vừa qua Ngân hàng NHTMCP VPBank – Chi nhánh Hoàn
Kiếm đã không ngừng đổi mới, nâng cao các quy trình nghiệp vụ để hoàn
thiện và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của mình, trong đó tập trung
vào phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ. Cho đến nay, ngân hàng
Ngân hàng NHTMCP VPBank – Chi nhánh Hoàn Kiếm, Hà Nội cũng đã thu
được một số thành công nhất định nhưng để làm cho hoạt động thanh toán
quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ trở thành một thế mạnh thực sự
mang tính cạnh tranh, mũi nhọn, rất cần tiếp tục nghiên cứu, thực hiện một số
các giải pháp đồng bộ khác. Xuất phát từ cơ sở đó, qua thời gian thực tập tại
Ngân hàng NHTMCP VPBank – Chi nhánh Hoàn Kiếm, Hà Nội em xin được
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
3
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
chọn đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện và phát triển hoạt động Thanh
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
5
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN
QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về Thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại
1.1.1. Các cơ sở hình thành hoạt động Thanh toán quốc tế
Xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa và thanh toán quốc tế có mối quan hệ
mật thiết, ràng buộc lẫn nhau trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của
thương mại quốc tế. Không có XNK thì không có thanh toán quốc tế, nhưng
mặt khác nếu không có một phương thức thanh toán quốc tế an toàn, hợp lý
được các bên cùng chấp nhận thì cũng không có hoạt động XNK. Qua đây có
thể thấy cơ sở hình thành hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt động thương
mại quốc tế và mục đích chính của hoạt động thanh toán quốc tế là để hỗ trợ
và phục vụ cho hoạt động XNK giữa các nước diễn ra một cách trôi chảy và
hiệu quả. Hơn nữa hoạt động ngoại thương và hoạt động thanh toán quốc tế
liên quan và gắn liền với nhiều lĩnh vực khác, mỗi lĩnh vực hoạt động là một
mắt xích không thể thiếu trong một dây chuyền hoạt động kinh tế đối ngoại
của mỗi quốc gia nói riêng và trên quy mô toàn thế giới nói chung. Tuy nhiên
thanh toán quốc tế là khâu có ý nghĩa cực kì quan trọng và nhiều khi là khâu
quyết định đến hiệu quả và tăng trưởng ngoại thương, bởi vì khi hoạt động
thanh toán có an toàn và trôi chảy thì người bán mới thu được tiền và người
mua nhận được hàng, đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động thương mại quốc
tế tồn tại và phát triển.
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
6
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
1.1.2. Khái niệm Thanh toán quốc tế
tham gia, hỗ trợ về kĩ thuật nghiệp vụ và tài chính của ngân hàng. Ngân hàng
cung cấp các phương án lựa chọn phương thức thanh toán quốc tế, tài trợ
XNK, đảm bảo an toàn và quyền lợi cho cả hai bên mua bán, thông qua đó
thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển, mở rộng quan hệ với các quốc gia trên
thế giới.
1.2. Hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ
tại ngân hàng thương mại
1.2.1./ Giới thiệu về phương thức Tín dụng chứng từ (Documentary
Credit)
Trong các hoạt động giao thương quốc tế ngày nay, thanh toán theo
phương thức Tín dụng chứng từ luôn là phương thức thanh toán quan trọng
nhất giữa những doanh nghiệp bởi nó an toàn nhất và tương đối công bằng
trong buôn bán quốc tế. Việc phát hành và thanh toán các Tín dụng thư trong
phương thức tín dụng chứng từ được thực hiện giữa ngân hàng của người mua
và ngân hàng của người bán hàng theo nguyên tắc "thanh toán trước, khiếu
nại sau" khi các chứng từ của người bán phù hợp với toàn bộ các điều kiện
trong tín dụng thư (chứng từ hoàn hảo).
1.2.1.1. Khái niệm
Phương thức Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một
ngân hàng (ngân hàng mở Thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng cam kết
sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người thứ ba - người hưởng
lợi số tiền của Thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba này
ký phát trong phạm vi số tiền đó, trong thời gian qui định, khi người này xuất
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
8
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định
đề ra trong một văn bản gọi là Thư tín dụng (Letter of Credit – L/C).
Nguồn pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng phương thức Tín
dụng chứng từ hiện nay: Quy tắc và các thực hành thống nhất về tín dụng
- Ngân hàng trung gian: Là ngân hàng tham gia vào quá trình thanh
toán bằng phương thức Tín dụng chứng từ nhưng không phải là ngân
hàng khởi tạo hoặc ngân hàng thanh toán mà có thể là ngân hàng thông
báo Thư tín dụng tại nước người XK. Ngân hàng trung gian có thể thực
hiện nhiệm vụ xác nhận (Confirming), đứng ra cam kết trả tiền chon
người XK.
- Ngân hàng trích tiền: Là ngân hàng giữ tài khoản của Ngân hàng khởi
tạo thực hiện lệnh trích tài khoản của ngân hàng khởi tạo chuyển tiền
cho người hưởng lợi.
1.2.1.3. Quy trình tiến hành nghiệp vụ Thanh toán quốc tế bằng phương
thức Tín dụng chứng từ
Quy trình Thanh toán quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ bao gồm
8 bước như sau:
(1)
(5)
(2) (8) (6) (4)
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
10
Người mua
(Người NK)
Người bán
(Người XK)
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
(7)
(3)
(1): Người mua làm đơn xin mở L/C và gửi cho ngân hàng khởi tạo L/
C, yêu cầu mở L/C cho người bán hưởng.
(2): Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
1.2.1.4.1. Khái niệm, đặc điểm Thư tín dụng
Để tiến hành thanh toán quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ,
bắt buộc phải có một Thư tín dụng. Đây là một văn bản pháp lý quan trọng
của phương thức thanh toán này, vì nếu không có Thư tín dụng thì bên xuất
khẩu sẽ không giao hàng và như vậy phương thức Tín dụng chứng từ cũng sẽ
không hình thành được.
Tín dụng thư là văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở tín dụng thư
cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình đầy đủ bộ chứng
từ thanh toán phù hợp với nội dung của Thư tín dụng đã mở.
Thư tín dụng hoạt động theo 02 nguyên tắc: Độc lập và tuân thủ
nghiêm ngặt. Thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng thương mại,
tức là phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu của hợp đồng để người nhập khẩu
làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở Thư tín dụng. Nhưng sau khi đã được mở,
Thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hoạt động thương mại đó. Điều đó có
nghĩa là khi thanh toán, ngân hàng chỉ căn cứ vào nội dung Thư tín dụng mà
thôi.
1.2.1.4.2. Nội dung của một Thư tín dụng
- Số hiệu của Thư tín dụng: tạo thuận tiện trong việc trao đổi thông tin
giữa các bên có liên quan trong quá trình giao dịch thanh toán và ghi vào các
chứng từ liên quan trong bộ chứng từ thanh toán.
- Ðịa điểm và ngày mở Thư tín dụng:
+ Ðịa điểm mở Thư tín dụng là nơi ngân hàng mở phát hành Thư tín
dụng để cam kết trả tiền cho người hưởng lợi. Ðịa điểm này có ý nghĩa quan
trọng, vì nó liên quan đến việc tham chiếu luật lệ áp dụng, để giải quyết
những bất đồng xảy ra (nếu có).
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
12
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
+ Ngày mở L/C là ngày bắt đầu phát sinh và có hiệu lực sự cam kết của
trình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của Thư tín dụng:
- Thời hạn giao hàng: Ðược ghi trong Thư tín dụng và cũng do hợp
đồng mua bán ngoại thương quy định. Ðây là thời hạn quy định bên bán phải
chuyển giao xong hàng cho bên mua, kể từ khi Thư tín dụng có hiệu lực. Thời
hạn giao hàng liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của Thư tín dụng. Nếu
hai bên thoả thuận kéo dài thời gian giao hàng thêm một số ngày thì ngân
hàng mở Thư tín dụng cũng sẽ hiểu rằng thời hạn hiệu lực của Thư tín dụng
cũng được kéo dài thêm một số ngày tương ứng. Những nội dung liên quan
tới hàng hoá: tên hàng,số lượng,trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao
bì, ký mã hiệu... cũng được ghi cụ thể trong nội dung Thư tín dụng. Những
nội dung về vận chuyển giao nhận hàng hoá: điều kiện cơ sở về giao hàng
(FOB, CIF...), nơi giao hàng, cách vận chuyển, cách giao hàng,... cũng được
thể hiện đầy đủ và cụ thể trong nội dung Thư tín dụng.
- Các chứng từ mà người hưởng lợi phải xuất trình: Ðây cũng là một
nội dung rất quan trọng của Thư tín dụng. Bộ chứng từ thanh toán là căn cứ
để ngân hàng kiểm tra mức độ hoàn thanh nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá của
người xuất khẩu để tiến hành việc trả tiền cho người hưởng lợi. Ngân hàng
mở Thư tín dụng thường yêu cầu người hưởng lợi đáp ứng những yếu tố liên
quan tới chứng từ sau (Các loại chứng từ phải xuất trình căn cứ theo yêu cầu
đã được thoả thuận trong hợp đồng thương mại):
*Thông thường một bộ chứng từ gồm có:
\ Hối phiếu thương mại (Commerial Bill of Exchange)
\ Hoá đơn thương mại (Commercial Invoice)
\ Vận đơn hàng hải (Ocean Bill of Lading)
\ Chứng nhận bảo hiểm (Insurance Policy)
\ Chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin)
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
14
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
\ Chứng nhận trọng lượng (Certificate of quality)
ngang lại được chia làm một số loại như sau:
+ Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận: Là loại Thư tín dụng
không thể huỷ bỏ, được một ngân hàng khác xác nhân - đảm bảo trả tiền theo
yêu cầu của ngân hàng mở Thư tín dụng. Với loại L/C này người XK kí phát
hối phiếu đòi tiền ngân hàng mở L/C nhưng gửi thẳng cho ngân hàng xác
nhận để thanh toán. Do trách nhiệm của ngân hàng xác nhận nặng hơn ngân
hàng mở L/C nên ngân hàng mở L/C phải trả thủ tục phí xác nhận thường rất
cao, có khi là 1% giá trị L/C và đặt cọc tiền kí quĩ thậm chí 100% trị giá L/C.
Nguyên nhân có loại L/C này là do người XK không hoàn toàn tin tưởng vào
ngân hàng mở L/C và giá trị của L/C tương đối lớn. Loại L/C này đảm bảo
nhất cho quyền lợi của người XK và người XK thu tiền về cũng rất nhanh.
+ Thư tín dụng không huỷ ngang miễn truy đòi (Irrevocable without
recource L/C): Là loại L/C mà sau khi người XK đã được trả tiền thì ngân
hàng mở L/C không có quyền đòi lại từ người XK trong bất cứ trường hợp
nào. Khi dùng loại L/C này, người XK khi kí phát hối phiếu phải ghi câu
“without recource to drawers” (miễn truy đòi lại người kí phát) và trong L/C
cũng phải ghi như vậy. Loại L/C không hủy ngang miễn truy đòi cũng được
sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế.
+ Ngoài ra xét về mặt thực hiện, có thể có các loại Thư tín dụng khác
như Thư tín dụng trả tiền ngay (At sight) hay trả tiền sau (With deferred
payment) hoặc Thư tín dụng chuyển nhượng đựoc (Transferable). Thư tín
dụng chuyển nhượng được: Là loại Thư tín dụng không thể huỷ bỏ, trong đó
quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả hoàn toàn hay trả một phần
của thư tín cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
16
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
1.2.2. Quyền lợi và trách nhiệm của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại có trách nhiệm phải tư vấn cho khách hàng
trước và trong quá trình đàm phán hợp đồng, đặc biệt là những hợp đồng có
hiện ra những sai sót, nhầm lẫn hay không chặt chẽ trong việc yêu cầu người
NK kí quĩ khi mở L/C hoặc không truy đòi được các khoản phải thu, khoản
tài trợ, các loại phí về thông báo sửa đổi L/C do trong quá trình kinh doanh
khách hàng gặp phải khó khăn bị phá sản, giải thể hay khách hàng cố ý
không thanh toán,...
Trường hợp có ngân hàng xác nhận L/C cho người XK, thì ngân hàng
xác nhận sẽ phải chịu rủi ro thanh toán cho người XK nếu ngân hàng phát
hành ở nước ngoài và chính phủ nước ngoài có thể áp đặt các qui định về
quản lí hối đoái hoặc các hạn chế khác như: Khó khăn về khả năng thanh toán
của ngân hàng phát hành, không nhận được tiền bán hàng do bên thứ ba yêu
cầu Tòa án phong tỏa số tiền đó để thu nợ…, gây cản trở việc thanh toán
khiến cho XK phải chịu thiệt hại do thanh toán chậm, không thanh toán được.
Tuy nhiên trên thực tế hầu như không xảy ra những rủi ro thanh toán
khi áp dụng phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ.
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
18
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG
PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CHI NHÁNH
NH TMCP NGOÀI QUÔC DOANH HOÀN KIẾM
2.1. Giới thiệu khái quát về chi nhánh Ngân hàng VP Bank Hoàn Kiếm
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh VP Bank Hoàn
Kiếm
Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt
Nam (VPBANK) được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm
1993 với thời gian hoạt động 99 năm. Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày
04 tháng 9 năm 1993 theo Giấy phép thành lập số 1535/QĐ-UB ngày 04
tháng 09 năm 1993.
2.1.2. Chức năng và các nghiệp vụ thực hiện tại NH VPBank - Chi nhánh
Hoàn Kiếm, Hà Nội
NH VPBank – Chi nhánh Hoàn Kiếm, Hà Nội được giao thực hiện các
chức năng như sau:
- Sử dụng có hiệu quả, bảo quản và phát triển nguồn vốn, nguồn lực
của Chi nhánh.
- Tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh đảm bảo an toàn, hiệu quả,
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
20
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
- Thực hiện các nghĩa vụ về tài chính theo quy định của pháp luật và
của NH TMCP VN.
Để thực hiện các chức năng kể trên và căn cứ vào năng lực xử lý
nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ và khả năng phát triển thị trường chi nhánh
được phép thực hiện các nghiệp vụ:
- Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gưỉ không kỳ hạn, tiền gửi nhanh của các
tổ chức và dân cư trong, ngoài nước bằng VNĐ và ngoại tệ. Phát hành các
loại chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và các hình
thức huy động vốn khác phục vụ yêu cầu phát triển của ngân hàng
- Cho vay trung và dài hạn, ngắn hạn bằng VNĐ và ngoại tệ đối với các
tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế theo cơ chế
tín dụng của NHNN và NH TMCP VN.
- Chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ trị giá
bằng tiền theo quy định.
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán bảo lãnh và tái bảo lãnh, kinh doanh
ngoại tệ theo quy định.
- Thực hiện nghiệp vụ tư vấn về tiền tệ, quản lý tiền vốn, các dự án đầu
tư phát triển theo yêu cầu thanh toán của khách hàng.
- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế như Bảo lãnh nước ngoài
kinh doanh ngoại tệ, chuyển tiền và chi trả kiều hối, séc du lịch... Sự phát
triển của hoạt động kinh doanh quốc tế trong mối quan hệ với kinh doanh đối
nội sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh, và hội nhập. Tính
đến nay với những kết quả đã đạt được thì NH VPBank – Chi nhánh Hoàn
Kiếm, Hà Nội đã từng bước khẳng định được mình trong môi trường kinh
doanh mới nhiều cơ hội nhưng cũng mang đầy tính cạnh tranh, khó khăn và
thách thức.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của NHCT VN – Chi nhánh
Hoàn Kiếm, Hà Nội
Theo quyết định số 125/QĐ-HĐQT-NHCT1 của Hội đồng quản trị NH
VPBank, thì NH VPBank – Chi nhánh Hoàn Kiếm, Hà Nội được thành lập
với các phòng, ban chính như sau:
- Ban Giám đốc:
+/ Một Giám đốc
+/ Bốn Phó giám đốc
- Các phòng, ban chức năng khác đựoc quy định chức năng và nhiệm
vụ cụ thể cho phù hợp với mô hình tổ chức và phương thức quản lý nhưng
không trái với chức năng và nhiệm vụ cơ bản do Hội đồng quản trị NH
VPBank đã quy định, bao gồm 11 phòng, ban như sau:
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
23
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Hiển Trường Đại học KTQD
1) Phòng Kế toán giao dịch: Phòng Kế toán giao dịch là phòng nghiệp
vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng, cung cấp các dịch vụ
ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch
theo quy định của NHTM CP và của NH VPBank. Quản lý và chịu trách
nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng
giao dịch viên, thực hiện các nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các
sản phảm dịch vụ của ngân hàng và thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám
đốc giao.
quản lý tiền mặt theo quy định của NH TMCP và NH VPBank. Ứng và thu
tiền cho các điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các đơn
vị co thu chi tiền mặt lớn.
9) Phòng Thông tin điện toán: Là phòng thực hiện công tác quản lý, duy
trì hệ thống thông tin điện toán tại chi nhánh. Bảo trì, bảo dưỡng máy tính
đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống mạng máy tính của chi nhánh.
10) Phòng Kế toán tài chính: Là phòng nghiệp vụ có chức năng giúp
cho Giám đốc thực hiện nhiệm vụ chi tiêu trong nội bộ tại chi nhánh theo
đúng quy định của NH TMCP và của NH VPBank.
11) Phòng Kiểm tra nội bộ: Là phòng nghiệp vụ có chức năng giúp
Giám đốc giám sát, kiểm tra, kiểm toán các hoạt động kinh doanh của chi
nhánh nhằm đảm bảo công việc thực hiện theo đúng pháp luật của Nhà nước
và cơ chế quản lý của ngành.
Trịnh Thị Phương Thảo Ngân hàng - Tài chính – K36
25