154 Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương chi nhánh Long An - Pdf 23

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển và đang hội nhập với nền kinh tế thế
giới. Chính sách mở cửa của Việt nam đã làm tăng sự giao thương giữa nước ta với
các nước trên thế giới làm cho hoạt động XNK cũng không ngừng phát triển. Để hoà
nhòp vào sự phát triển đó, các ngân hàng thương mại cũng đã có nhiều thay đổi trong
việc đa dạng hoá các sản phẩm dòch vụ, trong đó thanh toán quốc tế là một dòch vụ
ngày càng trở nên quan trọng.
Ngân hàng Công thương chi nhánh Long an là một trong những chi nhánh trực
thuộc Ngân hàng Công thương Việt nam cũng thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc
tế nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán XNK của doanh nghiệp. Thực hiện nghiệp vụ
này, chi nhánh đã hỗ trợ cho việc thanh toán của các doanh nghiệp trên đòa bàn được
thực hiện thông suốt, góp phần vào việc đa dạng hoá các sản phẩm dòch vụ, tăng
nguồn thu cho Ngân hàng. Hoạt độngï thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngày càng
phát triển, chiếm thò phần lớn trên đòa bàn, nhưng so với tiềm năng hoạt động XNK
của tỉnh, hoạt động thanh toán quốc tế tại chi nhánh chưa nhiều. Vì vậy, hoạt động
thanh toán quốc tế đặc biệt là thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ tại
Ngân hàng Công thương chi nhánh Long an cần được mở rộng, phát triển hơn nữa để
nhằm khai thác tiềm năng còn rất lớn trên đòa bàn tỉnh.
Với lí do nêu trên nên tôi đã chọn đề tài “ Giải pháp phát triển hoạt động
thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công
thương chi nhánh Long an”. 3
5. Ý nghóa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Luận văn dựa trên tình hình hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín
dụng chứng từ của chi nhánh, đưa ra những vấn đề còn tồn tại, những hạn chế. Từ đó
có các ý kiến đề xuất phù hợp với thực tế của chi nhánh.
Qua việc nghiên cứu về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại chi
nhánh, tôi mong muốn những suy nghó và đề xuất của mình được sự quan tâm của
lãnh đạo chi nhánh nhằm giúp cho cho hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương
thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngày càng phát triển.
6. Kết cấu của luận văn:
Chương 1: Thanh toán quốc tế và phương thức tín dụng chứng từ
Chương 2: Tình hình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân
hàng Công thương chi nhánh Long an.
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương
thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương chi nhánh Long an


rộng khắp trên thế giới nhằm thực hiện các khoản thanh toán nhanh chóng và an
toàn.
5
- Hoạt động thanh toán quốc tế chòu ảnh hưởng bởi các chính sách kinh tế,
chính sách ngoại thương và ngoại hối quốc gia.
- Kỹ thuật thanh toán của ngân hàng được thực hiện dựa trên chứng từ chứ
không dựa vào hàng hoá, nên bộ chứng từ đóng vai trò quan trọng trong thanh toán
quốc tế.
1.1.3. Vai trò của thanh toán quốc tế trong nền kinh tế:
- Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán giúp
cho quá trình thanh toán được tiến hành an toàn, nhanh chóng, tiện lợi và giảm bớt
chi phí thay vì thanh toán bằng tiền mặt. Với sự ủy thác của khách hàng, ngân hàng
không chỉ bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong giao dòch thanh toán, mà còn tư
vấn cho khách hàng nhằm tạo sự an tâm tin tưởng và hạn chế rủi ro trong quan hệ
giao dòch mua bán và thanh toán với nước ngoài.
Thanh toán không chỉ làm tăng thu nhập của ngân hàng bằng những khoản
phí, hoa hồng mà còn tạo điều kiện cho ngân hàng tăng thêm nguồn vốn của mình
do khách hàng mở tài khoản, hoặc ký quỹ tại ngân hàng. Đồng thời ngân hàng có
thể thực hiện các nghiệp vụ khác như: chấp nhận hối phiếu, chiết khấu hối phiếu,
cung cấp tín dụng tài trợ, bảo lãnh thanh toán cho khách hàng,…
Như vậy, thực hiện tốt thanh toán quốc tế sẽ tạo điều kiện phát triển các
nghiệp vụ và mở rộng qui mô hoạt động của ngân hàng, nâng cao uy tín của ngân
hàng trên thương trường quốc tế.
- Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng kết thúc quá trình lưu thông hàng hoá,

mua, nước người bán hoặc nước thứ ba, thông thường là các ngoại tệ mạnh. Tuy
nhiên để xác đònh điều kiện tiền tệ trong các hợp đồng mua bán giữa các nước với
nhau thì dựa vào các yếu tố sau:
7
- So sánh tương quan lực lượng của bên mua và bên bán, năng lực kinh doanh
của các bên và mối quan hệ cung cầu về hàng hoá mà hai bên mua bán trên thò
trường.
- Vò trí của đồng tiền trên thế giới.
- Tập quán sử dụng đồng tiền trong thanh toán quốc tế.
Trong quan hệ thanh toán quốc tế người mua và người bán muốn dùng đồng
tiền của mình để tính toán và thanh toán vì những lí do sau:
- Không phải xuất ngoại tệ để trả nợ.
- Tránh được sự biến động của tỉ giá.
- Nâng cao uy tín của đồng tiền nước mình trên thế giới.
+ Lựa chọn kỹ thuật đảm bảo khi tỷ giá biến động: để tránh rủi ro cho các
nhà xuất nhập khẩu khi tỉ giá tăng ảnh hưởng đến khoản thanh toán chi trả cho nhà
nhập khẩu, và ngược lại khi tỉ giá giảm ảnh hưởng đến thu nhập của nhà xuất khẩu.
Cho nên khi ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương, đôi bên cần thiết bàn bạc lựa
chọn đưa vào điều kiện đảm bảo trong hợp đồng nhằm đảm bảo quyền lợi và nghóa
vụ giữa các bên. Thông thường các điều kiện đảm bảo bao gồm:
a. Đảm bảo vàng: Theo điều kiện đảm bảo vàng có ba cách:
v Đảm bảo theo khối lượng vàng: khi ký kết hợp đồng, qui đònh đơn giá
và tổng giá trò hợp đồng được qui đổi trực tiếp bằng một khối lượng vàng nhất đònh.
Khi thanh toán dựa vào khối lượng vàng đã tính toán để thanh toán.

Đây là điều kiện rất quan trọng vì thời gian thanh toán càng ngắn càng giảm
được chi phí thanh toán, tránh được những biến động về tỉ giá, ảnh hưởng lớn đến
việc luân chuyển vốn và các khoản thu nhập của các bên. Trong điều kiện về thời
hạn thanh toán có thể lựa chọn một trong ba cách qui đònh sau:
9
v Trả tiền trước: Việc trả tiền trước một phần giá trò hợp đồng được thực
hiện sau khi ký hợp đồng hoặc nhận đơn đặt hàng, nhưng phải trước khi giao hàng.
Thực chất trả tiền trước chính là nhà nhập khẩu cấp tín dụng ngắn hạn cho nhà xuất
khẩu, trong trường hợp nhà xuất khẩu thiếu vốn, số tiền trả trước tương đối lớn và
thời gian trả tương đối dài. Nếu với mục đích nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng thì
số tiền ít hơn và thời gian trả trước ngắn hơn, số tiền trả trước mang tính chất như
một khoản tiền đặt cọc.
v Trả tiền ngay: Việc trả tiền được thực hiện ngay sau khi người bán
hoàn thành nghóa vụ giao hàng theo như qui đònh trong hợp đồng, tức là trong
khoảng thời gian từ lúc chuẩn bò xong hàng, giao hàng cho người chuyên chở cho
đến khi hàng được giao người mua theo đúng qui đònh.
v Trả tiền sau: Việc trả tiền của người mua được thực hiện trong các
trường hợp sau:
- Người mua trả tiền sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận được thông báo của
người bán đã hoàn thanh nghóa vụ giao hàng tại nơi qui đònh.
- Người mua trả tiền sau bao nhiêu ngày kể từ ngày chấp nhận hối phiếu.
- Người mua trả tiền sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận được bộ chứng từ.
- Người mua trả tiền sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận hàng.
1.1.4.4. Điều kiện về phương thức thanh toán:

- Các nguồn luật và công ước quốc tế về vận tải và bảo hiểm …
Ø Các nguồn luật quốc gia:
- Bộ luật dân sự
- Luật thương mại
- Luật các công cụ chuyển nhượng
- Pháp lệnh ngoại hối,…
11
Ø Thông lệ và tập quán quốc tế:
- Qui tắc thống nhất về tập quán và thực hành tín dụng chứng từ (Uniform
Customs and Pratice for Documentary Credit – UCP)
- Qui tắc thống nhất về nhờ thu (Uniform Rules for Collection – URC)
- Qui tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng ( The Uniform Rules
for Bank to Bank Reimbursement under Documentary credit- URR)
- Điều kiện thương mại quốc tế (International Commercial Terms-
INCOTERM)
1.2. Phương thức tín dụng chứng từ:
Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán phổ biến trong giao dòch thương
mại hiện nay. Bởi vì đây là phương thức thanh toán vừa đảm bảo cho người bán,
người xuất khẩu thu được tiền một cách chắc chắn, vừa đảm bảo cho người mua,
người nhập khẩu nhận được hàng hoá, dòch vụ phù hợp với số tiền mà mình đã thanh
toán một cách kòp thời.
1.2.1. Khái niệm về tín dụng chứng từ:
Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó ngân hàng (ngân hàng mở
thư tín dụng) cam kết thanh toán một số tiền nhất đònh cho người thứ ba (người

- ISBP-681: Văn bản về thực hành kiểm tra chứng từ theo tiêu chuẩn ngân
hàng quốc tế đối với phương thức tín dụng chứng từ (International Standard Banking
Practice for examination of document under documentary credit). ISBP-681 bao
gồm 185 nội dung được chắt lọc từ kinh nghiệm thực tiễn q báu về kiểm tra chứng
từ của các ngân hàng thương mại trên thế giới đồng thời phù hợp với tinh thần sửa
đổi của UCP600.
- Một số văn bản pháp lý khác: Incoterm 2000, luật hối phiếu,… các tập quán
thương mại quốc tế.
13
1.2.3. Qui trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ:
1.2.3.1. Các đối tượng liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ:
v Người xin mở thư tín dụng (the applicant, the importer, the buyer, accountee):
là người mua, nhà nhập khẩu, người trả tiền.
v Người thụ hưởng (the beneficiary, the seller, the exporter): Người bán, nhà
xuất khẩu, hay một người bất kỳ do người hưởng lợi chỉ đònh, cũng chính là người ký
phát hối phiếu.
v Ngân hàng mở thư tín dụng (the opening bank, the issuing Bank): là ngân phục
vụ cho nhà nhập khẩu, sẵn sàng cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu.
v Ngân hàng thông báo thư tín dụng (the advising Bank): là ngân hàng có nhiệm
vụ thông báo thư tín dụng cho nhà xuất khẩu thường là ngân hàng đại lý của ngân
hàng mở thư tín dụng ở nước người hưởng lợi.
v Ngân hàng xác nhận (the confirming Bank): là một ngân hàng khác đứng ra
cam kết thanh toán thư tín dụng, được áp trong trường hợp người hưởng lợi nghi ngờ
khả năng tài chính của ngân hàng mở thư tín dụng. Ngân hàng xác nhận có thể là
3
7
8

Bước 1: Nhà XK và nhà NK ký kết hợp đồng ngoại thương, trong hợp đồng qui
đònh thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.
Người bán
(Beneficiary)
Người mua
(Applicant)
NH thông báo
(Advising bank)
NH phát hành
(Issuing bank)
15
Bước 2: Nhà NK chuẩn bò hồ sơ xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng phục vụ
mình, yêu cầu mở thư tín dụng cho nhà XK hưởng.
Bước 3: Căn cứ vào yêu cầu và nội dung đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng
xem xét nếu thấy hợp lý sẽ phát hành L/C thông qua ngân hàng đại lý của mình ở
nước xuất khẩu.
Bước 4: Ngân hàng thông báo kiểm tra tính chân thật của L/C, tiến hành thông
báo kèm theo sự xác nhận (nếu ngân hàng thông báo là ngân hàng xác nhận), đồng

- Đảm bảo việc thanh toán vì có ngân hàng mở đứng ra cam kết việc thanh
toán không còn phải tuỳ thuộc vào thiện chí của người mua.
- Được ngân hàng khống chế bộ chứng từ, không sợ mất quyền sở hữu hàng
hoá hay tốn chi phí vận chuyển hàng nếu làm đúng theo yêu cầu của L/C.
Tuy nhiên người bán phải lựa chọn loại L/C nào đảm bảo quyền lợi của mình
nhiều nhất; đồng thời phải kiểm tra kỹ những điều khoản trong L/C có phù hợp với
hợp đồng đã thoả thuận hay không và khả năng của mình có đáp ứng được các yêu
cầu đó của L/C hay không để đảm bảo lập đúng bộ chứng từ phù hợp L/C.
- Có thể nhận được sự tài trợ xuất khẩu của ngân hàng.
1.2.4.2. Đối với nhà nhập khẩu:
- Có thể tận dụng được vốn tín dụng của ngân hàng, đó là điều thiết yếu
trong kinh doanh quốc tế vì khoảng cách vận chuyển xa thì dễ bò đọng vốn nếu phải
ký quỹ toàn bộ giá trò L/C.
- Được ngân hàng giúp kiểm tra toàn bộ chứng từ.
- Đảm bảo nhận được hàng hoá mà mình ký hợp đồng đúng số lượng và chất
lượng, thời hạn giao hàng,…
- Tuy nhiên người mua phải cẩn trọng khi làm đơn xin mở L/C, phải đưa ra
những điều kiện vừa để cho người bán có thể thực hiện được vừa đảm bảo được
quyền lợi của mình. Ngoài ra không tránh được trường hợp người mua bò người bán
17
gian lận lập bộ chứng từ khống để thanh toán. Tốn chi phí hơn các phương thức
khác.
1.2.4.3. Đối với ngân hàng:
- Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng, tăng thu dòch vụ, tăng thu

v Loại thư tín dụng: có nhiều loại L/C nên cần ghi rõ loại L/C.
v Số tiền của L/C: tên đơn vò tiền tệ và số tiền phải được ghi rõ ràng cụ thể.
v Thời gian và nơi hết hiệu lực của L/C:
- Thời gian hiệu lực của L/C: là khoảng thời gian mà ngân hàng cam kết trả tiền
cho nhà xuất khẩu với điều kiện nhà xuất khẩu xuất trình chứng từ thanh toán phù
hợp với điều khoản điều kiện đã ghi trong thư tín dụng. Thời hạn hiệu lực của L/C
được tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực thanh toán của L/C.
- Đòa điểm hết hiệu lực: thông thường là tại nước người bán, nước người mua hay
có thể ở nước thứ ba.
v Mô tả hàng hoá/ dòch vụ hàng hoá: như tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả
qui cách phẩm chất, ký mã hiệu,… được ghi cụ thể trong nội dung L/C
v Các chứng từ yêu cầu: Đây là điều khoản rất quan trọng quyết đònh sự thành
công đối với tín dụng chứng từ, qui đònh rõ ràng các chứng từ, số lượng mỗi loại.
Ngân hàng chỉ thanh toán cho người xuất khẩu khi người này xuất trình bộ chứng từ
phù hợp qui đònh L/C.
v Thời hạn xuất trình chứng từ: là thời hạn qui đònh xuất trình bộ chứng từ tại
nơi thực hiện thanh toán, nhưng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C.
v Thời hạn trả tiền của L/C: Liên quan đến việc trả ngay, trả chậm hay cam kết
trả chậm.
v Thời hạn giao hàng: Thời hạn giao hàng phải được qui đònh chính xác, rõ
ràng.
19
v Giao hàng từng phần : được phép hay không được phép
v Chuyển tải: được phép hay không được phép.

không có khả năng thanh toán. Nguyên nhân phát sinh loại L/C này là vì người
hưởng lợi không tin tưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng mở L/C. Ngân
hàng xác nhận có thể do người hưởng lợi chỉ đònh, hay ngân hàng mở lựa chọn nhưng
phải được sự đồng ý của người hưởng.
d. Thư tín dụng chuyển nhượng ( Transferable L/C):
Thường là loại L/C không huỷ ngang cho phép chuyển từ người hưởng lợi ban
đầu sang một hay nhiều bên khác (người hưởng lợi thứ hai) theo yêu cầu của người
hưởng lợi thứ nhất.
Một L/C chỉ có thể chuyển nhượng một lần, có thể chuyển nhượng một phần
hay toàn bộ. Thủ tục phí và lệ phí chuyển nhượng sẽ do người hưởng lợi thứ nhất
chòu.
Đây là loại L/C được sử dụng khi người hưởng lợi thứ nhất không tự cung cấp
được hàng hoá mà chỉ là một người môi giới và người này muốn chuyển nhượng từng
phần hay toàn bộ quyền lợi và nghóa vụ của mình cho người cung cấp hàng hoá
(người hưởng lợi thứ hai). Sự chuyển nhượng này phải được thực hiện theo các điều
khoản của L/C gốc. Một số điều kiện của L/C gốc như: cảng xếp hàng, cảng dỡ hàng
khi chuyển nhượng không được phép thay đổi còn các yếu tố sau có thể thay đổi:
- Tên và đòa chỉ của người hưởng lợi ban đầu có thể thay thế cho tên và đòa
chỉ của người mở L/C.
- Đơn giá và tổng kim ngạch của L/C chuyển nhượng có thể được giảm
xuống, khoản chênh lệch đó là thu nhập của người hưởng lợi ban đầu.
- Thời hạn giao hàng, thời hạn hiệu lực của L/C có thể được rút ngắn.
21
L/C muốn chuyển nhượng thì phải ghi rõ:”Transferable” Việc chuyển nhượng

nhất đònh cho đến khi hoàn tất giá trò hợp đồng.
Ø L/C tuần hoàn có hai loại:
- L/C tuần hoàn tích luỹ (Revoling cumulative L/C): cho phép chuyển số dư
sang giai đoạn tiếp theo cứ như vậy cộng dồn cho đến L/C cuối cùng.
- L/C tuần hoàn không tích luỹ (Revoling noncomulative L/C): Không cho
phép chuyển số dư của giai đoạn trước sang giai đoạn kế tiếp.
Ø L/C tuần hoàn theo 3 cách:
- Tuần hoàn tự động: L/C sau tự động có giá trò không cần có sự thông báo
của ngân hàng phát hành L/C.
- Tuần hoàn không tự động: Chỉ khi nào ngân hàng phát hành L/C thông báo
cho người bán thì L/C sau mới có giá trò hiệu lực.
- Tuần hoàn hạn chế: nếu sau một vài ngày kể từ ngày L/C hết hạn hiệu lực
hoặc đã sử dụng hết mà không có ý kiến gì của NHPH thì L/C kế tiếp tự động có giá
trò hiệu lực.
L/C tuần hoàn được áp dụng trong trường hợp hai bên mua bán những mặt
hàng có giá trò lớn, có quan hệ cung cấp hàng hoá hay dòch vụ thường xuyên, giao
nhiều lần trong năm với số lượng đều đặn. Loại L/C này có tính chất ưu đãi đối với
nhà nhập khẩu vì nó cho phép nhà nhập khẩu không bò đọng vốn, không tốn phí mở
L/C nhiều lần.
g. Thư tín dụng dự phòng (Stanby L/C):
L/C dự phòng đầu tiên xuất hiện ở Mỹ là nơi mà luật pháp cấm ngân hàng
làm nghiệp vụ bảo lãnh vì các nghiệp vụ này chỉ dành cho các công ty bảo hiểm
23
thực hiện. Tín dụng dự phòng là một trong các bảo đảm trả tiền ngay khi có yêu cầu

Là L/C mà ngân hàng phát hành cho phép ngân hàng thông báo ứng trước cho
người thụ hưởng để mua hàng hoá, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hoá theo L/C
đã mở. Điều cần hiểu là tiền ứng trước được lấy từ tài khoản người mở, nghóa là tín
dụng thương mại, mà không phải là tín dụng của ngân hàng thông báo hay ngân
hàng phát hành. Ngân hàng thông báo chỉ thực hiện các thủ tục theo điều khoản của
L/C mà không cam kết hoặc chòu trách nhiệm về số tiền đó. Gọi là điều khoản đỏ vì
trước đây được viết bằng mực đỏ để tăng sự chú ý..
Từ “Red clause” ngày nay được dùng bởi nhiều thuật ngữ khác nhau như:
“Advance clause” (điều khoản ứng trước), hoặc “Special clause” (điều khoản đặc
biệt). Theo đó, người mở L/C cam kết tài trợ cho nhà xuất khẩu ngay khi L/C được
mở.
1.2.5.4. Đặc điểm của giao dòch thư tín dụng:
Ø Là hợp đồng kinh tế của hai bên:
L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ có hai bên là ngân hàng phát hành và
người thụ hưởng. Mọi yêu cầu và chỉ thò của người xin mở L/C đã do NHPH đại
diện. Hiểu được điều này là rất quan trọng bởi vì nhiều nhà XNK cho rằng L/C là
của họ, ngân hàng chỉ cung cấp dòch vụ để hưởng phí, do đó, mọi thoả thuận giữa
nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu mới quan trọng còn việc ngân hàng có đồng ý hay
không chỉ là yếu tố phí thanh toán.
Ø Độc lập với hợp đồng cở sở và hàng hoá:
Về bản chất, L/C là một giao dòch độc lập với hợp đồng ngoại thương hoặc
hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở hình thành giao dòch L/C. Trong mọi
trường hợp ngân hàng không liên quan đến hoặc bò ràng buộc vào hợp đồng như vậy,
ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu nào đến hợp đồng này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status