Giải pháp phát triển nghiệp vụ thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
-------o0o-----
BẢN THẢO
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : TS. Cao Ý Nhi
SINH VIÊN : Lê Mai Chi
LỚP : Ngân hàng 46A
KHOA : Ngân hàng – Tài
chính
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
-------o0o-----
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THANH TOÁN
QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI
TRUNG TÂM GIAO DỊCH HỘI SỞ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : TS. CAO Ý NHI
SINH VIÊN : LÊ MAI CHI
LỚP : NGÂN HÀNG 46A
KHOA : NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ...8
1.1. Thanh toán quốc tế và các phương thức thanh toán quốc tế.........................8
1.1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế..............................................................................8

2.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn..................................................................................34
2.1.3.3. Hoạt động thanh toán quốc tế........................................................................36
2.2. Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng
chứng từ tại Trung tâm giao dịch hội sở NHTMCP Kỹ Thương........................39
2.2.1. Tình hình hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu................................................39
2.2.1.1. Quy trình thanh toán L/C nhập khẩu..............................................................39
2.2.1.2. Thực trạng hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu tại Trung tâm giao dịch Hội
sở NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam.............................................................................43
2.2.2. Tình hình hoạt động thanh toán L/C xuất khẩu.................................................44
2.2.2.1. Quy trình thanh toán L/C xuất khẩu...............................................................44
2.2.2.2. Thực trạng hoạt động thanh toán L/C xuất khẩu tại Trung tâm giao dịch Hội
sở NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam.............................................................................46
2.3. Đánh giá hoạt động thanh toán quốc tế bằng L/C tại Trung tâm giao dịch
Hội sở NHTMCP Kỹ Thương...............................................................................47
2.3.1. Kết quả đạt được...............................................................................................47
2.3.2. Hạn chế..............................................................................................................48
2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng
L/C tại Trung tâm giao dịch Hội sở NHTMCP Kỹ Thương........................................50
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THANH TOÁN QUỐC
TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI TRUNG TÂM
GIAO DỊCH HỘI SỞ NHTMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM...........................52
3.1. Chiến lược phát triển của Trung tâm giao dịch Hội sở NHTMCP Kỹ
Thương...................................................................................................................52
3.1.1. Định hướng phát triển chung của TTGDHS.....................................................52
3.1.2. Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của TTGDHS.................54
3.2. Một số giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ thanh toán quốc tế bằng
phương thức tín dụng chứng từ tại Trung tâm giao dịch Hội sở NHTMCP Kỹ
Thương Việt Nam..................................................................................................55
3.2.1. Hoạt động mở rộng và thu hút khách hàng.......................................................55
3

Ngân hàng thương mại cổ phần NHTMCP
Tổ chức tín dụng TCTD
Trung tâm giao dịch hội sở TTGDHS
Ngân hàng Nhà nước NHNN
Doanh nghiệp DN
Cá nhân CN
Xuất khẩu XK
Nhập khẩu NK
5
Lê Mai Chi – Ngân hàng 46A
55
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, khối các ngân hàng thương mại cổ phần đang được đánh giá là phát
triển năng động và chiếm thị phần ngày càng lớn trong hầu hết các lĩnh vực hoạt
động của ngân hàng thương mại. NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) là
một trong số những NHTMCP đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây.
Techcombank cũng là ngân hàng có thế mạnh về thanh toán quốc tế, đang nỗ lực duy
trì vị trí một trong các NHTMCP có thị phần cao nhất về thanh toán quốc tế. Cùng
với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra nhanh chóng trên phạm vi rộng
lớn như hiện nay, các quan hệ kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động xuất nhập
khẩu nói riêng đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã
hội của mỗi nước, và Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy đó. Nắm bắt được
xu thế ấy, các ngân hàng thương mại trong nước nói chung và Techcombank nói riêng
đang rất chú trọng tới việc phát triển các nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại đơn vị để
nâng cao thị phần của mình, từ đó gia tăng thu nhập từ lĩnh vực dịch vụ hấp dẫn và
đầy tiềm năng này. Trong số các phương thức thanh toán quốc tế đang được sử dụng
phổ biến hiện nay, phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng rộng rãi nhất do
những ưu điểm vượt trội của nó so với các phương thức thanh toán khác. Tuy nhiên,
đây cũng là phương thức thanh toán có quy trình phức tạp và chặt chẽ, việc áp dụng

77
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
1.1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế
Do điều kiện địa lý và đặc điểm xã hội khác nhau, mỗi quốc gia thường có thế
mạnh về việc sản xuất một loại sản phẩm nào đó. Vì vậy, thương mại quốc tế trở nên
ngày càng quan trọng, được tiến hành thường xuyên với quy mô và số lượng ngày
càng tăng. Quan hệ thương mại quốc tế tất yếu làm nảy sinh nghĩa vụ tiền tệ giữa các
bên, hay nói cách khác là quan hệ thanh toán giữa các bên. Như vậy, có thể hiểu
“thanh toán quốc tế là việc chi trả tiền liên quan đến hàng hoá, dịch vụ vượt ra ngoài
phạm vi một quốc gia”. Quan hệ thanh toán quốc tế được tiến hành thông qua các
phương thức thanh toán.
1.1.2. Các phương thức thanh toán quốc tế
Phương thức thanh toán là cách thức mà thông qua đó người nhập khẩu trả
tiền để nhận hàng hoá hoặc dịch vụ, còn người xuất khẩu giao hàng hoặc thực hiện
các dịch vụ để nhận tiền. Việc trả tiền và nhận tiền này được thực hiện thông qua
ngân hàng. Có nhiều phương thức thanh toán quốc tế đang được sử dụng hiện nay
như: chuyển tiền, nhờ thu, mở tài khoản, tín dụng chứng từ. Tùy từng điều kiện cụ
thể, các bên sẽ thoả thuận với nhau để sử dụng phương thức thanh toán phù hợp với
quan hệ thương mại và thanh toán giữa họ.
1.1.2.1. Phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance)
Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán mà trong đó khách hàng
(người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho
người khác (người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển
tiền do khách hàng yêu cầu. Ở đây, người trả tiền có thể là người mua, người nhập
khẩu, người mắc nợ… Còn người thụ hưởng có thể là người bán, người xuất khẩu,
chủ nợ… Phương tiện chuyển tiền có thể là chuyển bằng thư (Mail Transfer – M/T),
chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T) hoặc sử dụng mạng SWIFT liên
ngân hàng. Với phương thức này, ngân hàng chỉ đứng ở vị trí trung gian phục vụ
khách hàng và nhận phí.
Phương thức thanh toán chuyển tiền có ưu điểm là thủ tục đơn giản, nhanh

Nhờ thu trơn là phương thức thanh toán trong đó bên bán sau khi giao hàng
cho bên mua sẽ uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ bên mua căn cứ
vào hối phiếu do chính bên bán lập. Còn các chứng từ thương mại có liên quan đến
giao dịch bên bán chuyển giao trực tiếp cho bên mua mà không qua ngân hàng. Như
9
Lê Mai Chi – Ngân hàng 46A
99
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
vậy, phương thức này cũng không an toàn nên chỉ áp dụng trong trường hợp bên mua
và bên bán có quan hệ bạn hàng tin cậy.
Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi
giao hàng cho người mua sẽ uỷ nhiệm cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ
người mua không chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá
gửi kèm theo hối phiếu với điều kiện nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền
thì ngân hàng mới giao bộ chứng từ cho người mua nhận hàng. Khi đưa ra yêu cầu
nhờ thu, khách hàng cần nêu rõ điều kiện thanh toán: trả tiền theo điều kiện D/P
(Documents against Payment) hay D/A (Document against Acceptance). Nếu theo
điều kiện D/P thì người mua chỉ được ngân hàng giao bộ chứng từ nhận hàng khi họ
đã hoàn tất việc thanh toán tiền trên hối phiếu. Nếu theo điều kiện D/A thì người mua
được ngân hàng giao bộ chứng từ nhận hàng sau khi họ ký chấp nhận thanh toán trên
hối phiếu kỳ hạn. Như vậy, trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ, việc trả tiền và
nhận hàng đã không còn tách rời nhau nên phương thức này an toàn hơn các phương
thức chuyển tiền, mở tài khoản, nhờ thu trơn. Tuy nhiên, ở phương thức này, người
bán vẫn ở thế bất lợi. Đối với nhờ thu kèm chứng từ D/P, khi người mua từ chối
thanh toán và không nhận hàng thì người bán có thể gặp khó khăn trong việc giải toả
hàng hoá, nhất là đối với loại hàng hoá mau hỏng như rau quả, lương thực thực
phẩm. Đối với nhờ thu kèm chứng từ D/A, người mua có thể không trả tiền mặc dù
trước đó họ đã ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu.
Tóm lại, đối với phương thức nhờ thu, rủi ro vẫn luôn là vấn đề cần quan tâm
của bên bán. Vì vậy phương thức này cũng thường chỉ áp dụng trong quan hệ bạn

Trong phương thức tín dụng chứng từ, thư tín dụng (L/C – Letter of credit)
được coi là một phương tiện thanh toán, một văn bản pháp lý quan trọng trong
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Đó là bức thư do một ngân hàng lập ra
trên cơ sở yêu cầu của khách hàng là người nhập khẩu, trong đó thể hiện cam kết
thanh toán của ngân hàng cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình được bộ chứng từ
thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C.
Thư tín dụng được lập ra trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, tuy nhiên khi L/C
đã được mở thì nó lại hoàn toàn độc lập với các hợp đồng đó. Đó là vì khi thanh toán,
ngân hàng chỉ căn cứ vào các chứng từ được quy định trong L/C chứ không căn cứ
vào hợp đồng. Điều 4 của UCP 600 ghi: “Về bản chất, tín dụng là một giao dịch riêng
11
Lê Mai Chi – Ngân hàng 46A
1111
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
biệt với hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở của tín dụng.
Các ngân hàng không liên quan đến hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như thế,
ngay cả khi tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó”.
Phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo quyền lợi cho cả bên mua và bên bán
vì trong phương thức này, ngân hàng không chỉ là trung gian thu hộ, trả hộ mà còn là
chủ thể đứng ra bảo đảm cho bên xuất khẩu nhận được số tiền tương ứng với hàng
hoá mà họ cung cấp; đồng thời, bảo đảm cho bên nhập khẩu nhận được hàng hoá
tương ứng với số tiền mà họ phải chi trả.
1.2.2. Nội dung của thư tín dụng
Như đã nói ở trên, thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng thương
mại nhưng khi đã được mở thì nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng đó. Ngân hàng
chấp nhận hay từ chối thanh toán hoàn toàn dựa vào việc đối chiếu bộ chứng từ do
người xuất khẩu xuất trình với các điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín
dụng. Do những đặc điểm như vậy nên mỗi thư tín dụng thường có các nội dung chủ
yếu sau:
- Số hiệu của L/C

giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được.
- Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng
Đây là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu,
nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh toán trong thời hạn đó và phù hợp
với những điều quy định trong thư tín dụng.
Thời hạn hiệu lực của L/C được tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực
của L/C. Việc xác định thời hạn này phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
 Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một khoảng thời gian hợp lý, được
tính tối thiểu bằng tổng số ngày cần có để thông báo L/C, số ngày lưu L/C ở ngân
hàng thông báo, số ngày chuẩn bị hàng để giao cho người nhập khẩu.
 Ngày hết hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một khoảng thời gian
hợp lý, bao gồm số ngày cần thiết để nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ và chuyển tới
ngân hàng thông báo, số ngày ngân hàng thông báo kiểm tra chứng từ và số ngày
chuyển chứng từ tới ngân hàng phát hành.
- Thời hạn trả tiền của L/C
13
Lê Mai Chi – Ngân hàng 46A
1313
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Thời hạn trả tiền được quy định trong L/C là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền
về sau và điều này hoàn toàn tùy thuộc vào quy định của hợp đồng thương mại giữa
các bên. Nếu là trả tiền ngay thì thời hạn trả tiền phải nằm trong thời hạn hiệu lực của
L/C. Nếu là trả chậm thì thời hạn trả tiền có thể nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C.
Tuy nhiên, hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn hiệu
lực của L/C.
- Thời hạn giao hàng
Thời hạn giao hàng được ghi trong thư tín dụng cũng do hợp đồng thương mại
quy định. Đó là thời hạn quy định bên xuất khẩu phải chuyển chuyển giao xong hàng
hoá cho bên nhập khẩu kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực.
- Những nội dung liên quan đến hàng hoá

- Chữ kí của ngân hàng mở L/C
Nếu L/C được mở bằng thư thì cuối L/C phải có chữ ký của người đại diện có
thẩm quyền của ngân hàng phát hành. Chữ ký này phải đúng với chữ ký đã được
thông báo cho ngân hàng thông báo L/C trong thoả thuận đại lý giữa hai ngân hàng.
Còn nếu L/C được mở bằng điện thì chữ ký sẽ được thay bằng Testkey.
1.2.3. Phân loại L/C
Thư tín dụng bao gồm nhiều loại, mỗi loại đều có tính chất, nội dung khác
nhau, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan khác nhau. Do đó, tùy từng
tình huống cụ thể mà lựa chọn loại thư tín dụng phù hợp.
1.2.3.1. Các loại L/C cơ bản
Căn cứ vào công dụng của thư tín dụng, người ta phân thành các loại như sau:
- Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C)
Đây là loại L/C mà người yêu cầu mở có toàn quyền đề nghị ngân hàng mở
L/C sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ nó mà không cần báo trước cho người hưởng lợi
biết. Việc này đương nhiên phải diễn ra trước khi thư tín dụng được thanh toán.
Thư tín dụng có thể huỷ ngang không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu.
Trong khi đó, người nhập khẩu lại có sự thuận lợi, chủ động trong hoạt động kinh
doanh của mình do có thể sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ L/C trước khi việc thanh toán
được thực hiện. Như vậy, loại L/C này thuộc loại cam kết không bị ràng buộc trách
nhiệm pháp lý. Do đó, nó ít được sử dụng trong thực tế và thường chỉ được sử dụng
15
Lê Mai Chi – Ngân hàng 46A
1515
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
trong quan hệ thương mại giữa công ty mẹ và công ty con, giữa người mua và người
bán có quan hệ tín dụng rất tốt.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C)
Thư tín dụng không thể huỷ ngang là loại thư tín dụng mà sau khi đã được
phát hành thì ngân hàng phát hành chỉ có thể sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ nó trên cơ
sở sự thoả thuận của các bên có liên quan. Điều này có nghĩa là nếu không có sự

recourse L/C)
Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, trong đó quy định sau khi người
thụ hưởng đã được trả tiền thì ngân hàng phát hành không có quyền đòi lại số tiền đó
trong bất kỳ trường hợp nào.
Với loại thư tín dụng này, người xuất khẩu phải ghi trên hối phiếu miễn truy
đòi người ký phát (Without recourse to drawers) và trong thư tín dụng cũng phải
được ghi như vậy.
1.2.3.2. Các loại L/C đặc biệt
- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)
Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, trong đó quy định ngân hàng trả
tiền có thể trả toàn bộ hay một phần số tiền của thư tín dụng cho một hoặc nhiều
người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.
Loại L/C này được sử dụng trong trường hợp người hưởng lợi đầu tiên không
tự cung cấp được hàng hoá mà chỉ là trung gian môi giới giữa người cung cấp hàng
hoá và người mua cuối cùng. Như vậy loại L/C này giúp cho người xuất khẩu có thể
cung cấp hàng hoá cho đối tác mà không cần đến vốn của mình.
Với thư tín dụng chuyển nhượng, việc chuyển nhượng chỉ được thực hiện một
lần, nghĩa là người hưởng lợi thứ hai không được chuyển nhượng cho người hưởng
lợi thứ ba. Phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên trả.
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C)
Là loại L/C không thể huỷ ngang mà sau khi đã sử dụng xong hoặc đã hết thời
hạn hiệu lực thì sẽ tự động khôi phục khôi phục lại giá trị như cũ và tiếp tục được sử
dụng như vậy cho tới khi hết tổng giá trị L/C. L/C tuần hoàn cần chỉ rõ ngày hết hạn
hiệu lực cuối cùng , số lần tuần hoàn và giá trị mỗi lần đó.
Có thể phân biệt hai dạng tuần hoàn:
17
Lê Mai Chi – Ngân hàng 46A
1717
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
 Tuần hoàn có tích luỹ (Cumulative Revolving L/C)

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
L/C giáp lưng thuộc về ngân hàng phát hành l/C giáp lưng. Do đó, quyền lợi của
người cung cấp hàng hoá (người hưởng lợi L/C giáp lưng) sẽ được đảm bảo hơn.
Như đã nói ở trên, người hưởng lợi thứ nhất đóng vai trò như một người trung
gian để hưởng hoa hồng. Do đó, giá trị L/C giáp lưng thường nhỏ hơn L/C gốc và
phần chênh lệch này để bù đắp chi phí phát sinh và hoa hồng. Thời hạn giao hàng của
L/C giáp lưng phải sớm hơn L/C gốc. Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiểu hơn
L/C gốc.
- Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C)
Đây là loại thư tín dụng do người nhập khẩu yêu cầu người xuất khẩu, thông
qua ngân hàng phục vụ họ mở cho người nhập khẩu hưởng; theo đó ngân hàng phát
hành L/C dự phòng cam kết sẽ bồi hoàn cho người nhập khẩu về những thiệt hại do
người xuất khẩu không thực hiện được nghĩa vụ của họ. Như vậy, đối với L/C dự
phòng, việc xuất trình chứng từ nhằm mục đích chứng minh việc người xuất khẩu vi
phạm hợp đồng thương mại và gây thiệt hại cho người nhập khẩu để ngân hàng mở
L/C dự phòng thanh toán tiền cho người nhập khẩu.
- Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C)
Là loại L/C có một điều khoản đặc biệt, cho phép người thụ hưởng được ứng
trước một số tiền nhất định trong tổng số tiền của thư tín dụng đã mở để có thể sản
xuất hàng hoá và giao hàng theo quy định trong L/C. Người hưởng lợi phải xuất trình
chứng từ tại ngân hàng mà họ đã nhận tiền ứng trước và phải hoàn trả lại số tiền này
nếu không xuất trình đủ chứng từ hợp lệ trong thời gian quy định.
1.2.4. Các bên tham gia quá trình thanh toán
Thành phần tham gia vào quá trình thanh toán bằng phương thức tín dụng
chứng từ bao gồm:
- Người yêu cầu mở thư tín dụng (Applicant for L/C)
Là người mua, người nhập khẩu hàng hoá. Người yêu cầu mở thư tín dụng có
trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàng cho người bán theo L/C mà họ yêu
cầu mở. Họ cũng có quyền hoàn trả toàn bộ hay một phần số tiền của L/C nếu xét
thấy bộ chứng từ không phù hợp với điều kiện, điều khoản của L/C.

1.2.5. Quy trình thanh toán trong phương thức tín dụng chứng từ
Người yêu cầu mở thư tín dụng
20
Lê Mai Chi – Ngân hàng 46A
2020
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Người thụ hưởng
Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng
thông báo
(1)
(5)
(2)
(8)
(9)
(3)
(6b)
(7a)
(4)
(6a)
(7b)
Chú thích:
(1) Người xuất khẩu và người nhập khẩu ký kết hợp đồng thương mại, trong
đó có điều khoản thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.
(2) Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại, lập đơn xin mở L/C
cho người xuất khẩu hưởng và gửi tới ngân hàng phục vụ mình.
(3) Ngân hàng phát hành lập thư tín dụng căn cứ vào nội dung đơn xin mở
L/C; sau đó thông báo cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng đại lý của mình về
việc mở thư tín dụng và chuyển bản chính của thư tín dụng qua ngân hàng thông báo.

đã ký.
- Người nhập khẩu được ngân hàng tài trợ vốn khi họ chỉ phải ký quỹ dưới
100% giá trị của L/C, nhờ đó mà có thể tận dụng được vốn của mình vào hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Đối với người xuất khẩu:
- Được đảm bảo thanh toán khi tuân thủ các điều kiện và điều khoản của L/C
và nhận được thanh toán nhanh nhất do có được sự cam kết thanh toán của ngân
hàng.
- Được ngân hàng giúp đỡ, tư vấn (như tìm ra các điều kiện, điều khoản trong
L/C bất lợi cho người xuất khẩu), do đó giảm thiểu được các rủi ro.
22
Lê Mai Chi – Ngân hàng 46A
2222
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
- Có thể sử dụng L/C như một phương thức tài trợ cho xuất khẩu như chiết
khấu bộ chứng từ, bán bộ chứng từ cho ngân hàng hay vay vốn ngân hàng bằng thế
chấp bộ chứng từ.
Đối với ngân hàng
Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng thu được phí dịch vụ; nhờ đó thu nhập
của ngân hàng tăng, tạo điều kiện mở rộng tín dụng, bảo lãnh quốc tế, kinh doanh
ngoại tệ.
Tuy là phương thức thanh toán ưu việt hơn cả trong thanh toán quốc tế, nhưng
phương thức tín dụng chứng từ vẫn có những hạn chế nhất định. Ở phương thức này,
ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, do đó người nhập khẩu vẫn phải thanh
toán nếu bộ chứng từ xuất trình hợp lệ,mặc dù thực trạng hàng hoá nhập về không
đúng với những điều được phản ánh trong chứng từ. Người xuất khẩu cũng có thể
gặp phải bất lợi khi họ không đáp ứng được những quy định trong L/C, dẫn đến việc
thanh toán có thể bị trì hoãn, thậm chí bị từ chối thanh toán. Ngân hàng cũng phải đối
mặt với rủi ro khi người nhập khẩu gặp khó khăn về tài chính, không có khả năng
hoàn trả tiền cho ngân hàng.

trình thanh toán phải hợp lý, chặt chẽ, được áp dụng thống nhất trong ngân hàng
nhưng vẫn đảm bảo tính linh hoạt trong quá trình thực hiện. Nhìn chung, quy trình
thanh toán của các ngân hàng đều tuân theo thông lệ quốc tế. Tuy vậy, giữa quy định
của các ngân hàng vẫn có sự khác biệt nhất định về mức độ chặt chẽ và tính hợp lý.
Một quy trình trong đó các hồ sơ khách hàng hay bộ chứng từ xuất trình phải qua quá
nhiều khâu kiểm tra, kiểm soát có thể đảm bảo an toàn hơn nhưng sẽ làm giảm tốc độ
thanh toán. Ngược lại, một quy trình mà việc kiểm tra, kiểm soát sơ sài lại tiềm ẩn
nhiều rủi ro. Do đó, tính chặt chẽ và hợp lý là rất quan trọng trong việc xây dựng quy
trình thanh toán.
Bên cạnh đó, sự khác biệt giữa các ngân hàng còn được thể hiện ở chính sách
của ngân hàng đối với việc phát triển nghiệp vụ thanh toán. Các ngân hàng có thể có
chính sách khác nhau dành cho từng đối tượng khách hàng, từng chủng loại hàng hoá.
Chẳng hạn, đối với những khách hàng có tình hình tài chính tốt, có uy tín thì ngân
hàng có thể áp dụng những chính sách hỗ trợ như: cho vay để ký quỹ mở L/C, chiết
khấu bộ chứng từ…giúp khách hàng có được sự thuận lợi trong quá trình sản xuất
24
Lê Mai Chi – Ngân hàng 46A
2424
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
kinh doanh của họ. Qua đó khách hàng có thể tin cậy và lựa chọn ngân hàng làm
trung gian thanh toán.
- Trình độ nghiệp vụ của các cán bộ nhân viên ngân hàng
Nhân viên ngân hàng là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và
cũng là những người tham gia thực hiện việc thanh toán cho khách hàng. Do đó, trình
độ nghiệp vụ của nhân viên ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của dịch vụ
thanh toán. Đặc biệt, phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán khá
phức tạp, vừa đòi hỏi sự làm việc tỉ mỉ, chính xác, vừa cần có tính linh hoạt trong
từng tình huống cụ thể của các nhân viên ngân hàng. Hiệu quả của việc cung cấp dịch
vụ thanh toán phụ thuộc rất lớn vào khả năng của nhân viên ngân hàng trong việc tìm
hiểu tình hình hoạt động của khách hàng để có thể đưa ra những tư vấn, hỗ trợ cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status