Đói nghèo, di dân và đô thị hóa Đời sống thường ngày của một phường ngoài đê sông Hồng, Hà Nội - Pdf 25



:
KHOA


:
: 60 22 70

- 2009
BẢNG BIỂU
Trang
4/2009
28
4/2009
30

32
2)
34

44
(theo tháng)
ở á
45
Sơ đồ bình dân (theo ngày)

46
Sơ đồ (mô hình
nhà )
47
Sơ đồ cấu trúc m tạm của dân di cư theo
mùa vụ

48
Sơ đồ của dân sở tại (mô hình
H )
57
Sơ đồ cấu trúc một ngôi của dân sở tại (mô hình
nhà
58
u trúc mặt bằng một ngôi nhà của dân sở tại (mô hình

60 Trang

1

18


103

107

DẪN LUẬN
1. khoa học và thực tiễn của đề tài
Đô thị hoá, di dân tự do và nghèo đô thị
. Quan niệm cho rằng phát triển
kinh tế và đô thị hóa sẽ giảm nghèo đói đô thị và ổn định dòng dân di trú
khi mà trên thực tế, cùng với phát triển kinh tế và đô thị
hoá là sự gia tăng của nghèo đói và dòng di dân nông thôn về các đô thị. Hiện
trạng thập niên 80 trở về đây khi
tiến hành chính sách phát triển một nền kinh tế mở hơn và năng động hơn.
Trước Đổi mới (1986)
. Những nhà hoạch định chính sách
những năm 1960-1980 đã cố gắng giảm thiểu sự khác biệt giữa thị dân và
nông hạn chế dòng dân số
về các thành phố và hướng dòng di dân tới các khu công nghiệp và các làng
kinh tế mới ở miền núi và hải đảo. Vì vậy quá trình đô thị hoá ở Việt Nam nói
chung và Hà Nội nói riêng phát triển chậm chạp. Tỷ lệ dân đô thị năm 1960 là
15%, đến trước năm 1986, tỷ lệ này mới chỉ đạt 19% [Viện Xã hội học,
2003]. Sau năm 1986, Việt Nam phát
triển nền kinh tế thị trường. Như là hệ quả của sự phát triển, Việt
Nam chứng kiến sự mở rộng nhanh chóng của các đô thị, quá t
dòng người từ các vùng nông thôn đổ về các thành phố

một giải pháp cho chiến lược sinh tồn của . Hà Nội, với vai trò thủ đô và là
đầu tầu kinh tế các tỉnh phía bắc, đã bắt đầu một thời kỳ đô thị hóa nhanh và
mạnh. hóa ở Hà Nội thời hiện đại không diễn ra

Chính quyền thành phố đưa ra giải pháp xây dựng các khu đô thị mới trên
phần đất của các khu tập thể cũ từ thập niên 60 – 70 hoặc trên các khu đất
trống, đất ruộng trước đây của thành phố. Phải kể đến khu đô thị mới Bắc
Thăng Long, khu Mỹ Đình, khu Định Công Cư dân của khu vực này chủ
yếu là cán bộ, công nhân viên chức có công việc ổn định với mức thu nhập
tương đối so với mặt bằng chung của xã hội. Họ là tầng lớp trung lưu trong xã
hội, có ảnh hưởng lớn trong việc định hướng xu thế văn hoá, tư tưởng và lối
sống đô thị.
Bên cạnh đó, đặc biệt là thập niên gần đây, Hà Nội chứng kiến sự mở
rộng nhanh chóng về quy mô diện tích. Các làng truyền thống vùng ven bỗng
chốc được bao gồm vào khu vực nội thị như làng Phú Mỹ, làng Mễ Trì, làng
Vòng, Quảng Bá Dân cư của khu vực này chủ yếu trước đây làm nông
nghiệp. Khi chính quyền thành phố lấy đất xây dựng các khu công nghiệp hay
các khu đô thị mới, họ được hưởng một khoản tiền đền bù lớn nhưng lại
không còn đất để sản xuất. Một nghịch lý là mặc dù sống trong những ngôi

3
nhà cao tầng giàu có xây từ tiền đền bù đất, nhưng người dân lại không có
việc làm. iệc làm chuyển đổi trở thành vấn đề bức xúc. Việc
chuyển đổi “từ làng lên phố” đã kéo theo nhiều biến đổi về lối sống, đặc biệt
là nhiều hệ luỵ về văn hoá, xã hội.
Một đô thị hoá đ Hà Nội hiện
nay là sự hình thành các khu cư trú tự phát của người lao động di dân từ nông
thôn ra Hà Nội kiếm sống và một bộ phận những thị dân nghèo. Hà Nội, vốn
đã là trung tâm gắn kết đô thị và các làng nông nghiệp của khu vực đồng bằng
Bắc bộ, dưới tác động của kinh tế thị trường và chính sách nới lỏng quản lý
dân cư theo hộ khẩu, đã trở thành trung tâm thu hút lao động nông thôn từ các
tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Theo khảo sát của Bộ Lao động, Thương binh và Xã
hội, từ sau năm 1986, bình quân Hà Nội mỗi năm tăng 55 ngàn người, trong
đó tăng do dân nhập cư chiếm 22 ngàn người. Số người nhập cư vào Hà Nội

.”
1
1


5
. B
, công luận
.
2

.
3
42
.net :“
,
,

3
.

4
:


. Nghiên cứu là một mô tả dân tộc học về đời sống của
phường Phúc Xá, một phường nằm ở ngoài đê sông Hồng, nơi vẫn bị coi là
điểm nóng ma tuý, tệ nạn xã hội và nghèo đói.
Nghiên cứu lấy “phường” làm bối cảnh nghiên cứu bởi phường là đơn vị
hành chính nhỏ nhất của đô thị. Đây có thể coi là cấp trung gian giữa nhà
nước và người dân nơi đô thị. Bởi vậy, „„phường‟‟ đồng thời cũng là một
không gian xã hội đặc trưng của một thành phố. Khi nghiên cứu nông thôn,
các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu “làng” như một hạt nhân để hiểu đời
sống kinh tế, văn hoá và các
và các đặc trưng
văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần của làng, cũng như những
Nam thời hiện đại. Tiếc rằng, đặt trong so sánh với “làng”, với nông thôn, các
nghiên
, luận văn
- .
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ cùng với
việc gia tăng không ngừng về số lượng và tác động của di dân nông thôn - đô
thị và nghèo đô thị đã được quan tâm nhiều trong giới khoa học -
i. Những nước đang phát triển thu hút sự chú ý đặc biệt
của các nhà khoa học.
nông thôn -
.
Ý nghĩa, tác động của di dân đến đói nghèo đô thị chìa
khoá để hiểu bản chất của mối quan hệ giữa di dân từ nông thôn và đói nghèo
đô thị. Xoay quanh vấn đề này tồn tại hai ý kiến trái ngược nhau: một số

8
người cho rằng di dân là nguồn gốc của nghèo đói đô thị; một số khác lại cho
di dân góp phần giảm nghèo đói ở cả đô thị và nông thôn.

hạn chế di cư vào. Hầu hết các chính sách này đều trở nên bất cập và thất bại
trên thực tế, nó chứng tỏ sự lung lay của cơ sở lý thuyết m .

9
thôn không những không làm gia tăng nghèo đói đô thị mà còn góp phần làm
giảm đói nghèo ở cả đô thị và nông thôn. Hugo trong khảo sát của mình ở
Java, Indonesia [1985] đã khẳng định rằng làn sóng di cư tới đô thị là một
đóng góp cho phát triển vì giá nhân công rẻ sẽ làm hạ giá sản phẩm, các công
việc nặng nhọc thường bị các cư dân đô thị từ chối nay đã có người gánh vác.
Như vậy nghĩa là di dân làm tăng trưởng kinh tế đô thị, hạn chế nghèo đói đô
thị. Dân di cư thường được quan niệm là có đóng góp cho việc giảm nghèo đô
thị thông qua khu vực phi chính thức - khu vực mà Armstrong và McGee
[1968] chỉ ra như là một miếng bọt biển luôn hấp dẫn lao động, cung cấp việc
làm và tận dụng năng suất biên của lao động. Vì vậy, điểm căn bản là hầu hết
di dân nông thôn - đô thị ở các nước đang phát triển đóng góp vào cơ sở kinh
tế - xã hội của đô thị; họ không nhất thiết thúc đẩy đói nghèo ở đô thị. Hơn
thế, được cho phép và tạo điều kiện, những người nhập cư có thể tự giúp mình
tìm kiếm việc làm trong những điều kiện tạo việc làm, tổ chức vận chuyển,
sắp xếp an ninh và xây dựng nhà cửa như là những phương cách tác động có
giá trị nhất cải thiện điều kiện sống trong môi trường đô thị lớn ở thế giới
đang phát triển. Ông còn lập luận: tìm kiếm cách thức giảm tệ quan liêu và
ủng hộ những người di dân thay vì hạn chế những công việc và nơi ở phi
chính thức chứng tỏ cách tiếp cận có hiệu quả hơn. Do đó, nếu như người dân
di cư từ nông thôn được cung cấp một môi trường mà ở đó họ được phép sử
dụng năng lượng và kĩ năng của họ, họ sẽ không bị bần cùng hoá. Ý tưởng
này cũng được triển khai đầy thuyết phục trong một tác phẩm quan trọng của
de Soto [1989], và tư tưởng của ông cũng được khảo sát ở c
nghiên cứu của Chickering và Salahdine [1991]. Chia sẻ cùng lập luận,
Ronald Skeldon [1997] nhận thấy có một sự mâu thuẫn căn bản giữa việc cố
gắng kiểm soát dòng di dân từ nông thôn đến đô thị và việc giảm nghèo ở cả

[2005]…) cũng khẳng định người di dân từ nông thôn đáp ứng nhu cầu lao
động phổ thông đang thiếu thốn ở thành thị. Người dân di cư đảm nhận những
công việc thủ công, chân tay, ít kỹ năng mà người thành phố không muốn làm
như: cửa vạn, buôn bán rong, giúp việc, đánh giày vv. Như vậy, họ đã góp
phần đáng kể phát triển kinh tế đô thị.
cứu trên chủ yếu tranh luận về mối quan hệ di dân nông thôn
- đô thị, nghèo đô thị và đô thị hoá trên cơ sở chứng minh di dân có tác động
tích cực hay tiêu cực lên đô thị và nghèo đô thị. Tuy nhiên chiều nghịch của
mối quan hệ này chưa được khám phá. Liệu môi trường đô thị có ảnh
hưởng như thế nào đến tình cảnh nghèo của dân di cư? Câu hỏi này vẫn là
một vấn đề bỏ ngỏ. Hơn thế, các tác giả xét ảnh hưởng của di dân đô thị thông
qua việc xem xét bản chất và vai trò của khu vực phi chính thức, liệu đây là
khu vực có tính chất ký sinh, năng suất thấp và bất lợi hay ngược lại là khu
vực có tính năng động, hiệu quả và không bất lợi; nghĩa là mới xem xét đến
khía cạnh kinh tế, vật chất của mối quan hệ này. Khu vực phi chính thức là
chìa khoá quan trọng nhưng chưa đủ để khám phá mối quan hệ đa diện giữa
di dân, nghèo đô thị và đô thị hoá bởi tình cảnh nghèo của dân nhập cư không
chỉ là nghèo về tiền, cở sở hạ tầng và khả năng tiếp cận vốn và việc làm mà

11
nó còn liên quan đến yếu tố tâm lý nghèo, tính dễ bị tổn thương và đến những
đặc trưng văn hóa của cả đô thị và nông thôn.
Dù công nhận vai trò tích cực của di dân đến sự phát triển của đô thị,
chúng ta cũng không thể làm ngơ trước những khu nhà “ổ chuột”- nơi phần
lớn là dân di cư sinh sống - đang có xu hướng mở rộng ở các th
.
Bên cạnh tiếp cận vấn đề nghèo đói, di dân và đô thị hoá từ vai trò kinh
tế của khu vực phi chính thức, một số nhà nghiên cứu cũng khám phá vấn đề
từ góc nhìn không gian đô thị.
,

đô thị phục vụ cho các chính sách quy hoạch không gian. Nghiên cứu về
không gian đô thị Hà Nội, các nhà nghiên cứu tập trung nhiều đến kiến trúc
của các khu phố Tây, khu 36 phố phường - những khu vực vẫn đựơc coi là nét
văn hoá của Hà Nội, chỉ có một số nghiên cứu ít ỏi đề cập đến những không
gian tương phản trong quá trình đô thị hoá mạnh mẽ - nơi cùng lúc tồn tại
nhiều mảng màu kiến trúc và văn hoá của cả đô thị và nông thôn, của giàu có
và đói nghèo. Nguyễn Văn Chính đã mô tả đời sống của người di cư tự do
trong không gian đô thị thông qua phân tích trường hợp một xóm liều ở bãi
rác Thành Công, Hà Nội. Ông đã chỉ ra rằng:
„„Xóm liều đô thị là hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hoá, phân tầng xã hội
và tình trạng gia tăng dòng di dân tự do đến đô thị. Những người di cư tự do
sống trong các xóm liều luôn ở trong tình trạng „„lưỡng nan‟‟ của thân phận.
Một mặt họ tìm thấy ở đây một thế giới riêng mà thân phận nghèo hèn của họ
có thể hoà tan vào trong cộng đồng cùng cảnh ngộ để được chia sẻ và an ủi.
Họ dường như cảm thấy được „„an toàn‟‟ và „„bình đẳng‟‟ hơn trong cái thế
giới riêng tồi tàn và đầy bất trắc này. Nhưng mặt khác, họ lại ở vào vị thế yếu
đuối mong manh do bị „„dán nhãn‟‟ bởi một cách nhìn
quản lý, và không được thụ hưởng các dịch vụ an sinh xã hội tối
thiểu cho người nghèo‟‟ [Nguyễn Văn Chính, 2009: 242].
Trịnh Duy Luân và Hans Schenk [2000] tìm hiểu về Nơi ở và cuộc sống
của cư dân Hà Nội, trong đó đề cập đến nhà ở bình dân của những cư dân
nghèo Hà Nội. Nghiên cứu đã đề cập đến phường Phúc Tân như là một nơi
tập trung các khu nhà nghèo nàn của dân nghèo và dân di cư. Tuy nhiên, góc
độ văn hoá không gian và lối sống của một khu vực đô thị ngoài đê tiếc rằng
chưa được đề cập tới. Nguyễn Thị Hiền [2008] quan tâm đến không gian công
cộng của khu dân cư nghèo Thượng Đình, nơi các không gian công cộng bị
thu hẹp bởi sự hạn chế về quỹ đất và những vấn đề về chính sách đối với
người nghèo. Điều này đã làm tác động xấu đến sức khoẻ người dân cũng như
đẩy trẻ em tìm kiếm những hình thức vui chơi giải trí khác, dễ rơi vào tệ nạn
xã hội.

sở hạ tầng trong nội bộ đô thị. Điều này đã dẫn đến sự phân tầng xã hội giữa
khu vực nông thôn và thành thị, và do đó đô thị được coi là đích đến tìm kiếm
việc làm và thu nhập của những người nông dân, những người mà tính năng
động xã hội được giải phóng nhờ kinh tế thị trường. Di dân đến đô thị như là
giải pháp trong việc tìm kiếm kế sinh tồn của họ. Hơn thế, sự phát triển không
đều của đô thị hoá còn dẫn đến sự phân tầng ngay trong nội bộ đô thị, sự phân

14
hoá giàu nghèo và những bối cảnh dễ bị tổn thương (bối cảnh dễ tạo nên
nghèo đói) tăng lên nhanh chóng. Chính sự phân hoá này đã đẩy những cư
dân vốn ít tiềm lực trong xã hội đô thị trở thành tầng lớp dân nghèo đô thị.
Hơn thế, người nông dân di cư tham gia vào đời sống đô thị phải chịu cả hai
sự phân tầng xã hội trên, họ ở trong tình cảnh dễ bị tổn thương và nguy cơ trở
thành người nghèo đô thị cao.
Cùng với lý thuyết về quá độ đô thị và phân tầng xã hội, nghiên cứu
còn vận dụng lý thuyết về vốn xã hội để tìm hiểu những cố gắng tích cực của
người di dân cũng như của người nghèo tại chỗ trong việc tận dụng mọi
nguồn lực, đặc biệt là các mối quan hệ xã hội nhằm cải thiện tình cảnh nghèo
trong môi trường đô thị hoá.
3.2. Khái niệm
Khái niệm đô thị hoá theo Terry MacGee là sự phát triển hoặc giảm sút
về mật độ dân số ở các khu vực được xác định là đô thị, sự gia tăng về ngành
nghề phi nông nghiệp, sự mở rộng và tăng cường của môi trường và cuộc
sống thành thị [Nguyễn Vũ Hoàng, 2008, 11].
Về khái niệm nghèo đói và nghèo đô thị: có nhiều cách định nghĩa khác
nhau về nghèo đói. Trước hết nghèo đói được định nghĩa theo những căn cứ
thống kê định lượng về thu nhập hay chi tiêu bất kể tính trên cơ sở đầu người
hay hộ gia đình. Cách xác định đói nghèo theo hướng kinh tế đơn giản hoá
vấn đề: việc chỉ có một phạm trù người nghèo có thể hàm ý chỉ có một nền
tảng duy nhất dẫn đến sự nghèo khó. Phân tích dựa trên tiêu chí thu nhập hay

phố.
Bên cạnh các nguyên tắc tiếp cận nhân học, nghiên cứu cũng sử dụng
một số phương pháp hỗ trợ khác bao gồm:
- Phương pháp bản đồ học: giúp tìm hiểu không gian đô thị của phường,
cũng như chỉ ra phân bố lãnh thổ xã hội trên một không gian cụ thể của đô thị.
- Phương pháp dân số học: sử dụng các số liệu điều tra dân số của tổng
điều tra dân số và nhà ở tháng 4 năm 2009 nhằm phân tích tình hình hộ khẩu
và sự năng động dân số của phường Phúc Xá
- Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng bảng câu hỏi xã hội học gồm
các câu hỏi đóng và mở để tìm hiểu hiện trạng kinh tế và việc làm của cư dân
phường.
3.4. Lựa chọn địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu của tôi đặt phường trong bối cảnh chung của một thành phố
đang thay đổi cả về cấu trúc vật chất và lối sống, nhưng quan sát sâu hơn vào
một địa bàn cụ thể. Nghiên cứu lựa chọn địa hường Phúc

16
Xá - Ba Đình - Hà Nội
2. Đây là khu vực ngoài đê ven sông Hồng, nơi tập trung đông đảo
những lớp người nhập cư, đặc biệt là những người di dân từ nông thôn về Hà
Nội làm ăn, sinh sống. Địa bàn này bị coi là vùng nóng về đói nghèo, cơ sở
vật chất tồi tàn và tệ nạn xã hội. Vì vậy, nhà nước đang có chủ trương xoá bỏ
khu vực này để xây dựng một hành lang sông Hồng (đoạn chảy qua Hà Nội).
, hiện nay, một dự án lớn với tổng số vốn khổng lồ hơn 7 tỷ
đô la đang được thiết kế. Tuy nhiên, triển vọng của dự án này sẽ không thể đi
xa hơn nếu như không hiểu thực chất những đặc thù kinh tế- xã hội- văn hoá
của khu vực trong đó đặc biệt cần hiểu một cách sâu sắc mối quan hệ giữa
nghèo đói và di dân ở khu vực này cũng như nắm bắt được những chiến lược
sinh tồn của người dân địa phương trong một bối cảnh đô thị dễ bị tổn
thương.

Nghiên cứu cũng làm rõ lối sống và những ứng xử, chiến lược của người
nghèo trong bối cạnh hạn hẹp của không gian cư trú trong đó những ứng xử
mang tính chất niềm tin tôn giáo có sức chi phối lối sống của người dân. Bên
cạnh đó, nghiên cứu cũng khám phá những hệ luỵ của chính sách và sự dung
hoà của người dân trong đời sống của một cộng đồng đô thị.
Chương 3: Ch
Trên cơ sở tìm hiểu về chợ Long Biên với vai trò như là một cầu nối kinh tế,
xã hội và dân cư, tôi muốn có một điểm nhìn sâu hơn về hoạt động kinh tế và
các mối liên kết xã hội, văn hoá của một phường đô thị và vai trò của lao
động ngoại tỉnh, từ đó tìm hiểu quan hệ giữa thành thị và nông thôn. Đồng
thời cùng với việc khám phá cuộc sống và công việc của người lao động ở
chợ Long Biên, nghiên cứu cũng mong muốn đạt được những hiểu biết sâu
sắc hơn về đời sống của người lao động ngoại tỉnh trên địa bàn phường Phúc
Xá nói riêng và trong môi trường đô thị Hà Nội nói chung.

18
CHƢƠNG 1
PHƢỜNG PHÚC XÁ:
LỊCH SỬ TỤ CƢ, QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ VÀ
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ HỌC
Phường Phúc Xá hiện nay nằm ngoài đê sông Hồng, bao gồm các khu
Nghĩa Dũng, Tân Ấp và Phúc Xá, đến chân cầu Long Biên, thuộc quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội. Phía bắc Phúc Xá giáp phường Yên Phụ, phía nam
giáp cầu Long Biên và phường Phúc Tân, phía đông giáp sông Hồng, phía tây
giáp đê Yên Phụ. Phúc Xá nằm ở cửa ngõ dẫn vào chợ Đồng Xuân và khu 36
phố phường - khu buôn bán truyền thống sầm uất nhất Hà Nội. Phúc Xá cách
ga Long Biên 300m, nằm liền kề với bến xe khách Long Biên và trạm xe buýt
Long Biên. Với địa thế “nhất cận thị, nhị cận sông”, lại thêm vị trí ngoài đê
ngay dưới chân cầu Long Biên, từ lâu Phúc Xá là nơi thu hút nhiều đối tượng
đổ về cư trú và kiếm sống.

( nay).
100 -
.
Thành phần dân cư Bãi Cát gồm một số ít người làng Cơ Xá gốc còn đa
số là dân nghèo phiêu bạt từ các nơi đến như người ở Đanh, Xuyên (huyện
Phú Xuyên - Hà Đông) chuyên nghề kéo xe tay, xe bò, hoặc người các vùng
chiêm trũng nghèo ở Hà Nam, Thái Bình. Người phố ra đây cũng có chủ yếu
là những người tỉnh lẻ về Hà Nội sinh sống với các nghề thủ công buôn bán
vặt, họ thất bại trắng tay phải ra đây tìm chỗ tạm trú, xoay sở kiếm ăn nghề
khác. Dân Bãi Cát cũng có nhiều tầng lớp: một số ít là cường hào, những tên
anh chị sống bám vào dân nghèo bóc lột bằng cách cho vay lãi, chứa cờ bạc,
hành động côn đồ; còn lại đa số là tầng lớp dưới đáy của xã hội làm ăn lam lũ
với các nghề cực nhọc như kéo xe tay, xe bò, khuân vác, làm thuê, đàn bà chợ
búa mớ rau, rổ cá…[Nguyễn Văn Uẩn, 1995:
:
.”
5
. 5
, 1995: 747- 748


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status