Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
i
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, tiến sĩ HÀ
QUANG THỤY, Trường Đại học Công nghệ, ĐHQG Hà Nội và tiến sĩ ĐOÀN SƠN,
Đại học Tohoku, Nhật Bản đã hướng dẫn và động viên em rất nhiều trong quá trình
làm luận văn.
Em xin được gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong Trường Đại học Công
Nghệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội và nhóm Xeminar thuộ
c bộ môn Các Hệ thống
Thông tin, những người đã dạy dỗ, giúp đỡ và chỉ bảo cho em trong suốt quá trình học
tập.
Cuối cùng, con xin gửi lời biết ơn tới gia đình, nơi đã sinh thành, nuôi dưỡng
và động viên con rất nhiều trong thời gian qua.
Hà Nội ngày 20/05/2006
Sinh viên
Nguyễn Việt Cường
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
ii
TÓM TẮT
Biểu diễn văn bản là một trong những công đoạn quan trọng nhất và được quan
tâm đầu tiên trong các vấn đề xử lý văn bản. Nó có ảnh hưởng rất lớn đến các bài toán tìm
kiếm văn bản, phân lớp, phân cụm hay tóm tắt văn bản… Khóa luận này trình bày và
nghiên cứu một phương pháp biểu diễn văn bản mới dựa trên cơ sở lý thuyết tập mờ và áp
dụng vào bài toán phân lớp văn b
1.2.2. Phân lớp văn bản 7
Chương 2. CÁC PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN BIỂU DIỄN VĂN BẢN 10
2.1. Tiền xử lý văn bản 10
2.2. Mô hình Logic 12
2.3. Mô hình phân tích cú pháp 14
2.4. Mô hình không gian vector 15
2.4.1. Mô hình Boolean 17
2.4.2. Mô hình tần suất 17
2.5. Biểu diễn văn bản trong máy tìm kiếm 20
2.5.1. Giới thiệu về máy tìm kiếm 20
2.5.2. Mô hình biểu diễn văn bản trong máy tìm kiếm 21
Chương 3. BIỂU DIỄN VĂN BẢN SỬ DỤNG CÁC KHÁI NIỆM MỜ 23
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
iv
3.1.
Lý thuyết mờ 23
3.1.1. Tập mờ 23
3.1.2. Các phép toán trên tập mờ 25
3.1.3. Quan hệ mờ 27
3.1.4. Các phép toán trên quan hệ mờ 27
3.2. Biểu diễn văn bản sử dụng các khái niệm mờ 29
3.2.1. Khái niệm mờ 30
3.2.2. Biểu diễn văn bản 32
3.2.3. Đề xuất giải pháp cho vấn đề đồng nghĩa 32
Chương 4. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN LỚP VĂN BẢN 35
4.1. Tổng quan về bài toán phân lớp 35
4.2. Các thuật toán phân lớp 36
4.2.1. Phân lớp dựa trên thuật toán Naive Bayes 36
4.2.2. Phân lớp dựa trên thuật toán K - Nearest Neighbor (KNN) 38
khái ni
ệm sẽ được xác định bởi một tập các từ khóa liên quan. Và mức độ liên quan của
khái niệm đến văn bản sẽ được xác định bằng hàm tích hợp mờ các từ khóa đó. Sau khi đã
có một tập các khái niệm liên quan đến một hay nhiều chủ đề cần phần lớp, mỗi văn bản
sẽ được xem như là một vector có các thành phần là các khái niệm mờ đó.
Với lượng thông tin dạ
ng văn bản đồ sộ của Internet, một yêu cầu lớn đặt ra đối
với chúng ta là làm sao tổ chức và tìm kiếm thông tin có hiệu quả nhất. Phân lớp (phân
loại) thông tin là một trong những giải pháp hợp lý cho yêu cầu trên. Khóa luận sẽ trình
bày một số thuật toán phân lớp tiêu biểu và đưa ra hướng thực nghiệm cho phương pháp
biểu diễn văn bản dựa trên các khái niêm mờ.
Chúng tôi áp dụng thuật toán KNN (k – người láng giềng gần nhấ
t) và phần mềm
WEKA (K-người láng giếng gần nhất) để tiến hành phân lớp. Phần thực nghiệm cho thấy
rằng phương pháp biểu diễn văn bản dựa khái niệm mờ có kết quả phân lớp tốt hơn so với
phương pháp biểu diễn văn bản theo vector từ khóa.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được trình bày trong 5
chương:
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
2
Chương 1, giới thiệu tổng quan về khai phá dữ liệu văn bản, một số định nghĩa và
một số bài toán điển hình.
Chương 2, trình bày một số phương pháp biểu diễn văn bản truyền thống: mô
hình tần suất, mô hình phân tích cú pháp, mô hình không gian vector Đồng thời nêu ra
cách biểu diễn văn bản thường dùng trong máy tìm kiếm.
Chương 3, giới thiệu tổng quan về lý thuyết tập mờ [9][14] và m
ột số phép toán
trên tập mờ. Nội dung chính của chương là đề cập một cách biểu diễn văn bản mới dựa
trên các khái niệm mờ.
ỹ thuật để tìm ra các mẫu có tính hệ thống trong tập dữ liệu.
Một số định nghĩa tiêu biểu về Data mining:
Khái niệm data mining được định nghĩa như sau: “The nontrivial extraction
of implicit, previously unknown, and potentially useful information from data” [13], tạm
dịch: “là việc trích rút một cách phức tạp các thông tin - ẩn, không biết trước và có khả
năng hữu ích - từ dữ liệu”.
“The science of extracting useful information from large data sets or databases”
[1], tạm dịch là: “Nghành khoa học chuyên trích chọn những thông tin có giá trị từ những
t
ập dữ liệu lớn hoặc các CSDL”.
Năm 1989, Fayyad, Piatestky-Shapiro và Smyth đã đưa ra khái niệm “Phát hiện
tri thức trong cơ sở dữ liệu” (Knowledge Discovery in Databases - KDD) để chỉ toàn bộ
quá trình phát hiện các tri thức có ích từ các tập dữ liệu lớn [6]. Trong đó, khai phá dữ
liệu là một bước đặc biệt quan trọng trong toàn bộ quá trình, sử dụng các thuật toán
chuyên dụng để chiết xuất ra các mẫu (pattern) từ dữ liệu.
1.1.2. Các bước của quá trình khai phá dữ liệu
Các thuật toán khai phá dữ liệu thường được miêu tả như những chương trình
hoạt động trực tiếp trên tệp dữ liệu. Với các phương pháp học máy và thống kê trước đây,
thường thì bước đầu tiên của các thuật toán là nạp toàn bộ dữ liệu vào trong bộ nhớ trong
để xử lý. Khi chuyển sang các ứng dụng công nghiệp liên quan đến việc khai phá các kho
dữ liệu lớn, mô hình này không thể đáp ứng được. Không chỉ
bởi vì không thể nạp hết dữ
liệu vào trong bộ nhớ mà còn vì không thể chiết suất dữ liệu ra các tệp đơn giản để phân
tích được.
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
4
Quá trình khai phá dữ liệu bắt đầu bằng cách xác định chính xác vấn đề cần giải
quyết. Sau đó sẽ xác định các dữ liệu liên quan dùng để xây dựng giải pháp. Bước tiếp
theo là thu thập các dữ liệu có liên quan và xử lý chúng thành định dạng sao cho các thuật
vay. Mẫu khai thác được phải có giá trị đối với các dữ liệu mới với độ chính xác nào đó.
Vì khi thi hành các thuật toán và các nhiệm vụ của khai phá dữ liệu là rất khác
nhau cho nên dạng của các mẫu chiết xuất được cũng rất đa dạng. Theo cách đơn giản
nhất, sự phân tích cho ra kết quả chiết xuấ
t là một báo cáo về một số loại, có thể bao gồm
các phép đo mang tính thống kê về độ phù hợp của mô hình, các dữ liệu lạ Trong thực
tế thì đầu ra phức tạp hơn nhiều. Mẫu chiết suất được có thể là một mô tả xu hướng, có
thể dưới dạng văn bản, một đồ thị mô tả các mối quan hệ trong mô hình, cũng có thể là
một hành động, ví dụ như yêu c
ầu của người dùng làm gì với những gì khai thác được
trong CSDL.
Như vậy có thể nhận thấy rằng kỹ thuật khai phá dữ liệu thực chất là sự kế thừa,
kết hợp và mở rộng của các kỹ thuật cơ bản đã được nghiên cứu từ trước như học máy,
nhận dạng, thống kê (hồi quy, xếp loại, phân nhóm), các mô hình đồ thị, mạng Bayes, trí
tuệ nhân tạo, thu th
ập tri thức hệ chuyên gia Tuy nhiên, với sự kết hợp hướng mục tiêu
của khai phá dữ liệu, kỹ thuật này có ưu thế hơn hẳn các phương pháp trước đó, đem lại
nhiều triển vọng trong việc ứng dụng phát triển nghiên cứu khoa học cũng như làm tăng
mức lợi nhuận trong các hoạt động kinh doanh.
1.1.3. Ứng dụng của khai phá dữ liệu
Tuy là một hướng tiếp cận mới nhưng khai phá dữ liệu đã thu hút được rất nhiều
sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và phát triển nhờ vào những ứng dụng thực tiễn của
nó [xx]. Chúng ta có thể liệt kê ra đây một số ứng dụng điển hình:
Phân tích dữ liệu và hỗ trợ ra quyết định (data analysis & decision support)
Điều trị y học (medical treatment)
Text mining & Web mining
Tin-sinh học (bio-informatics)
Tài chính và thị trường chứng khoán (finance & stock market)
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
n có các kỹ thuật xử lý phức tạp hơn. Đại đa số hệ tìm kiếm hiện nay dùng câu hỏi
dưới dạng các từ khóa.
So sánh: Hệ thống phải thực hiện việc so sánh tường minh và toàn vẹn câu hỏi
của người dùng với các văn bản được lưu trữ trong CSDL. Cuối cùng hệ thống đưa ra một
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
7
quyết định phân loại các văn bản theo độ liên quan gần với câu hỏi người dùng và sắp xếp
theo thứ tự giảm dần của độ liên quan. Hệ thống hoặc hiển thị toàn bộ văn bản hoặc chỉ
một phần văn bản.
Phản hồi: Trong nhiều trường hợp, kết quả được trả về lúc đầu chưa phải đã thỏa
mãn yêu cầ
u của người dùng, do đó cần phải có quá trình phản hồi để người dùng có thể
thay đổi lại hoặc nhập mới các yêu cầu của mình. Mặt khác, người dùng có thể tương tác
với các hệ về các văn bản thỏa mãn yêu cầu của mình và hệ có chức năng cập nhậu các
văn bản đó. Quá trình này được gọi là quá trình phản hồi liên quan (Relevance feeback).
Các công cụ tìm kiếm hiện nay chủ yếu tập trung nhiều vào ba quá trình con
đầu
tiên, còn phần lớn chưa có quá trình phản hồi hay xử lý tương tác người dùng và máy.
Quá trình phản hồi hiện nay đang được nghiên cứu rộng rãi và riêng trong quá trình tương
tác giao diện người máy đã xuất hiện hướng nghiên cứu được gọi là tác tử giao diện
(interface agent).
1.2.2. Phân lớp văn bản
Nội dung
Phân lớp văn bản [3][5][8][11][12] được xem như là quá trình gán các văn bản
vào một hay nhiều lớp văn bản đã được xác định từ trước. Người ta có thể phân lớp các
văn bản một cách thủ công, tức là đọc nội dung từng văn bản một và gán nó vào một lớp
nào đó. Hệ thống quản lý tập gồm rất nhiều văn bản cho nên cách này sẽ tốn rất nhi
ều thời
gian, công sức và do đó là không khả thi. Do vậy mà phải có các phương pháp phân lớp
lớp) dựa trên cấu trúc biểu diễn của nó. Đối với hệ phân lớp văn bản, chúng ta gọi quá
trình này là bộ phân lớp (Categorizator hoặc classifier). Nó đóng vai trò như các câu hỏi
trong h
ệ tìm kiếm. Tuy nhiên, trong khi những câu hỏi mang tính nhất thời, thì bộ phân
lớp được sử dụng một cách ổn định và lâu dài cho quá trình phân lớp.
So sánh: Trong hầu hết các bộ phân lớp, mỗi văn bản đều được yêu cầu gán đúng
sai vào một lớp nào đó. Sự khác nhau lớn nhất đối với quá trình so sánh trong hệ tìm kiếm
văn bản là mỗi văn bản chỉ được so sánh với một số lượng các lớp m
ột lần và việc chọn
quyết định phù hợp còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các lớp văn bản.
Phản hồi (Hay thích nghi): Quá trình phản hồi đóng vai trò quan trọng trong hệ
phân lớp văn bản. Thứ nhất, khi phân lớp thì phải có môt số lượng lớn các văn bản đã
được xếp loại bằng tay trước đó, các văn bản này được sử dụng làm mẫu huấn luyệ
n để
hỗ trợ xây dựng bộ phân lớp. Thứ hai, đối với việc phân lớp văn bản thì không dễ dàng
thay đổi các yêu cầu như trong quá trình phản hồi của tìm kiếm văn bản bởi vì người dùng
chỉ có thể thông tin cho người bảo trì hệ thống về việc xóa bỏ, thêm vào hoặc thay đổi các
phân lớp văn bản nào đó mà mình yêu cầu.
Ngoài hai bài toán thường gặp trên, còn có các bài toán khác sau:
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
9
Phân cụm văn bản: Đưa các văn bản có nội dung giống nhau vào thành từng
nhóm
Tóm tắt văn bản: Tóm tắt nội dung một văn bản cho trước
Dẫn đường văn bản: Đưa một văn bản cho trước vào một chủ đề hoặc một
nơi lưu trữ nhất định theo yêu cầu người dùng
Trong các bài toán nêu trên, văn bản thường được biểu diễn thành một tập các
thuộc tính đặc trưng cho văn bản đó. Các quá trình xử lý và làm việc tiếp theo đều thực
hiện trên các thuộc tính này. Có nhiều tiêu chuẩn chọn lựa các thuộc tính để biểu diễn, tuy
các tài liệu. Ví dụ, những từ “web”, “site”, “link”, “www”, v.v…[??] thường xuất hiện
hầu hết trong các văn bản thì được gọi là stop-words. Ngoài ra, trong tiếng Anh, có nhiều
từ
chỉ dùng để phục vụ cho biểu diễn cấu trúc chứ không biểu đạt nội dung của nó như là
“a”, “the” (mạo từ), “in” (giới từ) , “but” (liên từ), động từ phổ biến có dạng “to”, “be”, và
một số trạng từ và tính từ đặc biệt cũng được xem là những từ dừng (stop-words).
Vì đặc điểm của từ dừng nên chúng được loại bỏ mà không ảnh hưởng đến các
công việc bi
ểu diễn văn bản tiếp theo.
Bảng danh sách một số từ dừng trong tiếng Anh:
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
11Danh sách một số từ dừng trong tiếng Việt: và; hoặc; cũng; là; mỗi; bởi…
Loại bỏ từ có tần số thấp
Khi quan sát văn bản, người ta để ý thấy rằng: Có nhiều từ trong tập văn bản gốc
xuất hiện rất ít lần và chúng sẽ có ảnh hưởng rất ít trong văn bản. Vì vậy vấn đề đặt ra là
cần loại bỏ những từ
có tần xuất nhỏ. Người ta áp dụng phương pháp được đưa ra bởi
Zipf năm 1949: quan sát tần xuất xuất hiện của các từ trong tập văn bản.
Gọi tần số xuất hiện của từ khóa t trong tập hợp X là f
t
. Xắp xếp tất cả các
từ khóa trong tập hợp theo chiều giảm dần của tần số f, và gọi thứ hạng của mỗi từ khóa t
là r
t
. Đinh luật Zipf được phát biểu dưới dạng công thức sau:
f
a chúng có mối
quan hệ ngữ nghĩa. Ví dụ như những từ: “clusters”, “clustering”, “clustered” là có cùng
mối quan hệ với từ “cluster”. Do vậy cần phải Stemming để làm giảm được số lượng từ
mà vẫn không làm ảnh hưởng đến nội dung tài liệu.
Tuy nhiên tồn tại một vấn đề thiếu sót xảy ra khi stemming, vì thuật toán
stemming sử dụng một tập các quy tắc đơn giản để loại bỏ tiền tố/hậ
u tố. Do vậy nó có
thể sinh ra các từ không chính xác. Ví dụ như “computing”, “computation” sau khi
stemming sẽ còn là “comput” trong khi đó từ đúng phải là “compute’.
2.2. Mô hình Logic
Theo mô hình này các từ có nghĩa trong văn bản sẽ được đánh chỉ số và nội dung
văn bản được quản lý theo các chỉ số Index đó. Mỗi văn bản được đánh chỉ số theo quy
tắc liệt kê các từ có nghĩa trong các văn bản với vị trí xuất hiện của nó trong văn bản. Từ
có nghĩa là từ mang thông tin chính về các văn bản lưu trữ, khi nhìn vào nó người ta có
thể biết ch
ủ đề của văn bản cần biểu diễn.
Hình 2. L
ư
ợc đồ các từ theo đinh luật
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
13
Tiến hành Index các văn bản đưa vào theo danh sách các từ khoá nói trên. Với
mỗi từ khóa người ta sẽ đánh số thứ tự vị trí xuất hiện của nó và lưu lại chỉ số đó cùng với
mã văn bản chứa nó. Cách biểu diễn này cũng được các máy tìm kiếm ưa dùng.
Ví dụ, có hai văn bản với mã tương ứng là VB1,VB2.
“Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (VB1)
“ Việt Nam dân chủ cộng hòa” (VB2)
Khi đó ta có cách biểu diễn như sau:
trả lại các văn bản có chứa các từ “ta”, “tao”, “tay”,…là các từ bắt đầu bằng từ “ta”
Kí tự % được gọi là kí tự đại diện (wildcard character).
Ngoài ra, b
ằng các phép toán Logic các từ cần tìm có thể tổ chức thành các câu
hỏi một cách linh hoạt. Ví dụ: Cần tìm từ [tôi, ta, tao], dấu “[]” sẽ thay cho nghĩa của từ
“hoặc” - thể hiện việc tìm kiếm trên một trong số nhiều từ trong nhóm. Đây thực ra là một
cách thể hiện linh hoạt phép toán OR trong đại số Logic thay vì phải viết là: Tìm các tài
liệu có chứa từ “tôi” hoặc từ “ta” hoặc “tao”.
Nhược điểm
Đòi hỏi người tìm ki
ếm phải có kinh nghiệm và chuyên môn trong lĩnh vực tìm
kiếm vì câu hỏi đưa vào dưới dạng Logic nên kết quả trả lại cũng có giá trị Logic
(Boolean). Một số tài liệu sẽ được trả lại khi thoả mãn mọi điều kiện đưa vào. Như vậy
muốn tìm được tài liệu theo nội dung thì phải biết đích xác về tài liệu.
Việc Index các tài liệu rất phức tạp và làm tốn nhiều thời gian, đồ
ng thời cũng tốn
không gian để lưu trữ các bảng Index.
Các tài liệu tìm được không được xắp xếp theo độ chính xác của chúng. Các bảng
Index không linh hoạt vì khi các từ vựng thay đổi (thêm, xóa,…) thì dẫn tới chỉ số Index
cũng phải thay đổi theo.
2.3. Mô hình phân tích cú pháp
Trong mô hình này, mỗi văn bản đều phải được phân tích cú pháp và trả lại thông
tin chi tiết về chủ đề của văn bản đó. Sau đó, người ta tiến hành Index các chủ đề của từng
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
15
văn bản. Cách Index trên chủ đề cũng giống như khi Index trên văn bản nhưng chỉ Index
trên các từ xuất hiện trong chủ đề.
Các văn bản được quản lý thông qua các chủ đề này để có thể tìm kiếm được khi
có yêu cầu, câu hỏi tìm kiếm sẽ dựa trên các chủ đề trên.
Hình 3: Biểu diễn các vector văn bản trong không gian 2 chiều
Giả sử ta có một văn bản và nó được biểu diễn bởi vector V(v
1
,v
2
, …, v
n
). Trong
đó, v
i
là số lần xuất hiện của từ khóa thứ i trong văn bản. Ta xét 2 văn bản sau:
VB1: Life is not only life
VB2: To life is to fight
Sau khi qua bước tiền xử lý văn bản, ta biểu diễn chúng như sau: Trong các cơ sở dữ liệu văn bản, mô hình vector là mô hình biểu diễn văn bản
được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Mối quan hệ giữa các trang văn bản được thực hiện
thông qua việc tính toán trên các vector biểu diễn vì vậy được thi hành khá hiệu quả. Đặc
biệt, nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ "tương tự nhau" giữa các trang web
(một trong những quan hệ điển hình nhất gi
ữa các trang web) dựa trên mô hình biểu diễn
vector .
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường
17
2.4.1. Mô hình Boolean
Một mô hình biểu diễn vector với hàm f cho ra giá trị rời rạc với duy nhất hai giá
=
lai nguoc neu
trongmat co neu
0
dt1
w
ji
ij
Trở lại với 2 văn bản trên, áp dụng mô hình Boolean ta có biểu diễn sau:
2.4.2. Mô hình tần suất
Trong mô hình tần suất, ma trận W = {wij} được xác định dựa trên tần số xuất
hiện của từ khóa ti trong văn bản dj hoặc tần số xuất hiện của từ khóa ti trong toàn bộ cơ
sở dữ liệu. Sau đây là một số phương pháp phổ biến:
a. Phương pháp dựa trên tần số từ khóa (TF – Term Frequency)
Các giá trị wij được tính dựa trên tần số (hay số lần) xuất hiện của từ khóa trong
văn bản. Gọi fij là số lần xuất hiện của từ khóa ti trong văn bản dj, khi đó wij được tính
bởi một trong ba công thức:
w
ij
= f
ij
w
ij
= 1 + log(f
ij
Trong phương pháp này, giá trị wij
được tính theo công thức sau:
⎪
⎩
⎪
⎨
⎧
−=
=
l¹i ng−îc nÕu
liÖu tµi trong xuÊt hiÖn khãa tõ nÕu
0
dt)hlog()mlog(
h
m
log
w
jii
i
ij
trong đó m là số lượng văn bản và hi là số lượng văn bản mà từ khóa ti xuất hiện.
Trọng số wij trong công thức này được tính dựa trên độ quan trọng của từ khóa ti
trong văn bản dj. Nếu ti xuất hiện trong càng ít văn bản, điều đó có nghĩa là khi nó xuất
hiện trong dj thì trọng số của nó đối với văn bản dj càng lớn hay nó là điểm quan trọng để
phân biệt vă
n bản dj với các văn bản khác và hàm lượng thông tin trong nó càng lớn.
c. Phương pháp TF × IDF
Phương pháp này là tổng hợp của hai phương pháp TF và IDF, giá trị của ma trận
i
ij
ij
Đây là phương pháp kết hợp được ưu điểm của cả hai phương pháp trên. Trọng số
wij
được tính bằng tần số xuất hiện của từ khóa ti trong văn bản dj và độ hiếm của từ khóa
ti trong toàn bộ cơ sở dữ liệu.
Cách tìm kiếm:
Các câu hỏi đưa vào sẽ được ánh xạ vector Q(q
1
,q
2,…,
q
m
)
theo hệ số của các từ
vựng trong nó là khác nhau. Tức là: Khi từ vựng càng có ý nghĩa với nội dung cần tìm thì
nó có hệ số càng lớn.
q
i
= 0 khi từ vựng đó không thuộc danh sách những từ cần tìm.
q
i
<> 0 khi từ vựng đó thuộc danh sách các từ cần tìm.
Khi đó, cho một hệ thống các từ vựng ta sẽ xác định được các vector tương ứng
với từng tài liệu và ứng với mỗi câu hỏi đưa vào ta sẽ có một vector tương với nó cùng
vì chi
ều của nó được xác định bằng số lượng các từ khác nhau trong tập hợp văn bản. Ví
dụ số lượng các từ có thể có từ 10
3
đến 10
5
trong tập hợp các văn bản nhỏ, còn trong tập
hợp các văn bản lớn thì số lượng sẽ nhiều hơn, đặc biệt trong môi trường Web.
2.5. Biểu diễn văn bản trong máy tìm kiếm
2.5.1. Giới thiệu về máy tìm kiếm
Thông tin trên các trang Web đa dạng về mặt nội dung cũng như hình thức. Tuy
nhiên cùng với sự đa dạng và số lượng lớn thông tin như vậy đã nảy sinh vấn đề quá tải
thông tin. Đối với mỗi người dùng chỉ một phần rất nhỏ thông tin là có ích, chẳng hạn có
người chỉ quan tâm đến trang Thể thao, Văn hóa mà không mấy khi quan tâm đến Kinh
tế. Người ta không thể tìm tự kiếm địa chỉ trang Web chứa thông tin mà mình c
ần, do vậy
đòi hỏi cần phải có một trình tiện ích quản lý nội dung của các trang Web và cho phép tìm
thấy các địa chỉ trang Web có nội dung giống với yêu cầu của người tìm kiếm. Hiện nay
chúng ta đã làm quen với một số các tiện ích như vậy đó là: Yahoo, Google, Alvista,
Máy tìm kiếm là các hệ thống được xây dựng có khả năng tiếp nhận các yêu cầu
tìm kiếm của người dùng (thường là một tập các từ khóa), sau đó phân tích và tìm ki
ếm
trong cơ sở dữ liệu đã có sẵn và đưa ra các kết quả là các trang web cho người sử dụng.
Cụ thể, người dùng gửi một truy vấn, dạng đơn giản nhất là một danh sách các từ khóa, và
máy tìm kiếm sẽ làm việc để trả lại một danh sách các trang Web có liên quan hoặc có
chứa các từ khóa đó. Phức tạp hơn, thì truy vấn là cả một văn bản hoặc một đoạ
n văn bản
hoặc nội dung tóm tắt của văn bản.
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Cường