Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Mai - Pdf 25

Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
MỤC LỤC
Ở Việt Nam, theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN Việt Nam quy
định về Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD và quyết định số
18/2007/QĐ-NHNN ban hành ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng, dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng
của TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005. Nợ xấu là
các khoản nợ thuộc về nhóm 3, 4 và 5 được quy định tại điều 6 bao gồm: 17
Phòng ngừa nợ có vấn đề 50
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp :LTĐH8 NHA
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHNo&PTNT Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Agribank Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCTD Tổ chức tín dụng
RRTD Rủi ro tín dụng
TSĐB Tài sản đảm bảo
GTCG Giấy tờ có giá
TG Tiền gửi
SXKD Sản xuất kinh doanh
CBTD Cán bộ tín dụng
CNTT Công nghệ thông tin
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp :LTĐH8 NHA
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Ở Việt Nam, theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN Việt Nam quy

mức cao thể hiện qua các chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, đặc biệt là sự gia
tăng trong nợ nhóm 5. Do đó, yêu cầu đặt ra là làm thế nào để ngân hàng có thể
kiểm soát rủi ro tín dụng một cách hiệu quả hơn nữa để có thể giảm thiểu rủi ro tín
dụng đến mức thấp nhất có thể nhằm tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng, góp phần
nâng cao uy tín và tạo ra vị thế của ngân hàng trong tình hình cạnh tranh như hiện
nay. Đó là lý do em chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình là “Giải pháp
nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Mai”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về RRTD trong hoạt động kinh doanh
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
4
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
NHTM.
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng, nguyên
nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các phương pháp quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Hoàng Mai.
- Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra những
giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý rủi
ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Hoàng
Mai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng và công tác quản
lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh
Hoàng Mai
- Phạm vi nghiên cứu:
 Không gian: Nghiên cứu quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hoàng Mai.
 Thời gian: Nghiên cứu quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp

- Thứ nhất, thời hạn, lãi suất và hạn mức hoàn trả của hợp đồng. Sau khoảng
thời gian ghi trong hợp đồng, người vay cần phải hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng.
- Thứ hai, vốn vay phải đảm bảo được sử dụng đúng mục đích. Khoản vay
phải dựa trên phương án sản xuất kinh doanh nhằm phòng tránh rủi ro đạo đức
trong quá trình giải ngân.
- Thứ ba, vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản tương đương. Tài sản đảm
bảo có thể là: vốn vay ngân hàng, tài sản cầm cố hoặc thế chấp, bảo lãnh
1.1.2 Khái niệm rủi ro tín dụng
Có nhiều cách tiếp cận về rủi ro dưới nhiều góc độ khác nhau và các cách tiếp
cận này đã thống nhất quan điểm: “Rủi ro là khả năng có thể xảy ra các biến cố
không lường trước và thường gây ra các hậu quả xấu”. Rủi ro luôn xuất hiện bất
ngờ và đe dọa sự sống còn của các doanh nghiệp. Thường thì những hoạt động kinh
doanh mang lại lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn. Do đó muốn có lợi nhuận
càng cao thì ngân hàng cần phải chấp nhận mức rủi ro có thể xảy ra và đặc biệt là
biết tìm biện pháp hạn chế, phòng ngừa nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
6
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Là một đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, NHTM thường
xuyên phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hối
đoái, rủi ro thanh toán và các loại rủi ro khác. Trong điều kiện hiện nay, mặc dù các
NHTM đang gia tăng các loại hình dịch vụ kinh doanh song tín dụng vẫn là hoạt
động thường xuyên, cơ bản nhất của ngân hàng, cùng với đó luôn tồn tại rủi ro tín
dụng, loại rủi ro gây ra hậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động ngân hàng.
Theo điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để
xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo quyết
định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN định nghĩa
rằng: “ Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do
khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình

(Concentration risk) :
- Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng
biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ
đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
- Rủi ro tập trung: là trường hợp NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối
với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng
một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc
cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
 Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức của rủi ro tín dụng
mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và
xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa
chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro nghiệp vụ.
- Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng của ngân hàng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả
để ra quyết định cho vay.
- Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm
bảo và mức cho vay trên giá trị của TSĐB.
- Rủi ro nghiệp vụ : là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và
hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
8
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
1.1.3.2 Căn cứ vào khả năng trả nợ cho ngân hàng trên cả hai khía
cạnh: thời gian và số lượng, rủi ro tín dụng gồm hai loại rủi ro đọng vốn
và rủi ro mất vốn:
 Rủi ro đọng vốn: xảy ra khi khách hàng không thể trả nợ đúng hạn
đã thỏa thuận với ngân hàng hay nói cách khác khách hàng đã trì hoãn trả nợ.

xác để kiểm tra về khách hàng như qua các cơ quan, báo chí, ngân hàng khác, Ngân
hàng không đánh giá được chính xác mối quan hệ đã và đang có của doanh nghiệp
với các định chế tài chính khác, chủ yếu là các NHTM do doanh nghiệp có thể đồng
thời đi vay nhiều NHTM.
- Áp lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng: Hiện nay khi các ngân hàng
bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt và quyết liệt, các khoản tín dụng được chấp nhận
dễ dàng hơn với mục đích tăng thêm thị phần cho ngân hàng, song nó cũng mang lại
nhiều rủi ro hơn.
- Xuất phát từ cán bộ tín dụng khi chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng
của việc hạn chế rủi ro tín dụng, chưa đánh giá chính xác về khách hàng và khả
năng trả nợ của họ, về ngành nghề, tiềm năng và vị trí của ngành trong nền kinh tế,
xu hướng phát triển của ngành trong tương lai. Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ
khiến cho việc xem xét các khoản vay không được khách quan, đúng đắn khi cố
tình làm sai quy trình tín dụng để mưu lợi cá nhân, định giá tài sản thế chấp không
đúng với giá trị thực hay trực tiếp thu nợ gốc và lãi của khách hàng nhưng không
nộp lại cho ngân hàng hay làm hồ sơ giả để vay tiền, chiếm đoạt tài sản của ngân
hàng,…
1.1.4.2. Nguyên nhân thuộc về khách hàng
Những nguyên nhân xuất phát chủ yếu từ năng lực quản lý của khách hàng,
bao gồm: khả năng quản lý trong lĩnh vực kinh doanh không tốt dẫn đến thua lỗ và
không có khả năng trả nợ ngân hàng. Sự yếu kém trong việc tính toán những bất
trắc có thể xảy ra trong tương lai, sự không minh bạch về tài chính của khách hàng
gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá rủi ro.
Những nguyên nhân xuất phát từ sự không tuân thủ các điều kiện trong hợp
đồng tín dụng mà khách hàng đã ký với ngân hàng như sự cố ý gian lận để lừa đảo
ngân hàng, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, cố ý không trả nợ ngân hàng
đúng hạn nhằm sử dụng vốn vay trong thời gian dài hơn. Đây không phải là do hoạt
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
10
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân

mất khả năng thanh toán. Điều này rất dễ đẩy ngân hàng đến thua lỗ hoặc bên bờ
vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Đối với hệ thống ngân hàng:
Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong một quốc gia có mối liên hệ rất
chặt chẽ với nhau và với các tổ chức kinh tế, xã hội và các cá nhân trong nền kinh
tế. Do vậy, nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, đặc biệt trong trường hợp
mất khả năng thanh toán và phá sản sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng
xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và các bộ phân kinh tế khác. Nếu không có sự
can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý lo sợ mất tiền sẽ lây lan đến
toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM làm cho các ngân
hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản.
1.1.5.2. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến nền kinh tế - xã hội
Khi một ngân hàng gặp phải RRTD hay bị phá sản sẽ khiến cho toàn bộ hệ
thống ngân hàng gặp phải khó khăn và ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp khi không đáp ứng được nhu cầu vay vốn. Hơn nữa sự
khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh
tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp gia
tăng, xã hội mất ổn định.
1.1.5.3. Trong quan hệ kinh tế đối ngoại
Làm ảnh hưởng đến vị thế và hình ảnh của hệ thống ngân hàng - tài chính
quốc gia cũng như toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó.
Tóm lại, rủi ro tín dụng của ngân hàng xảy ra sẽ ảnh hưởng ở các mức độ khác
nhau, nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận do phải trích lập dự phòng, không
thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi
vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng
này kéo dài không khắc phục được, thậm chí ngân hàng bị phá sản, gây hậu quả

trong sản xuất kinh doanh của nền kinh tế đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM.
Các ngân hàng và định chế tài chính phi ngân hàng trước hết là trung gian tài
chính, đứng giữa và đứng trong vòng vây của bốn nhóm những người có vốn và cần
vốn trong nền kinh tế bao gồm: hộ gia đình, doanh nghiệp, Chính phủ và các nhà
đầu tư nước ngoài. Sản phẩm mà các NHTM mua, bán, kinh doanh trên thị trường
là các dịch vụ lưu chuyển vốn và các tiện ích khác của Ngân hàng. Trong hoạt động
tín dụng, mặc dù hệ số an toàn vốn đạt tới 9% thì so với tài sản có, số vốn chủ sở
hữu của bản thân ngân hàng là không nhiều. Nói một cách ngắn gọn hơn đó là hoạt
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
13
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
động kinh doanh của các NHTM là dùng uy tín để thu hút nguồn vốn và dùng năng
lực quản trị rủi ro để sử dụng nguồn vốn và phát triển các dịch vụ khác với tư cách
là người “đứng giữa” các lực lượng cung và cầu về các dịch vụ ngân hàng. Do đó,
hoạt động kinh doanh của ngân hàng bao gồm rất nhiều loại rủi ro trong đó có rủi ro
tín dụng. Vì thế, nhiều ý kiến cho rằng các ngân hàng cần phải đảm bảo cơ hội kinh
doanh trên mối quan hệ giữa rủi ro-lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được
những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro có thể chấp nhận được. NHTM sẽ hoạt
động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được.
1.2.2.2. Hiệu quả kinh doanh của các NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro
Trong hoạt động kinh doanh, NHTM có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan
mang lại rủi ro, nhiều yếu tố bất khả kháng nên không thể tránh khỏi rủi ro. Vì ngân
hàng là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên thường xuyên phải
đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Ngân hàng muốn có lợi nhuận cao thì phải chấp
nhận rủi ro cao nên phải quản lý rủi ro trong một phạm vi cho phép. Nếu rủi ro tín
dụng cao thì ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro cao, từ đó làm giảm lợi nhuận
của ngân hàng.
1.2.2.3. Quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng

Thanh toán chậm các khoản gốc và lãi đến hạn.
Các phương thức tài trợ: sử dụng nhiều nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt
động dài hạn, sử dụng các nguồn tài trợ với chi phí cao.
Nhóm 2: Nhóm có dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách
hàng.
 Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị, ban điều hành. Hệ
thống quản trị và ban điều hành thường xuyên bất đồng về mục đích, công tác quản
trị, điều hành độc quyền, độc đoán.
 Doanh nghiệp được hoạch định bởi Ban điều hành ít kinh nghiệm hay ban
quản trị tham gia quá sâu vào vấn đề hàng ngày, thiếu quan tâm đến lợi ích của các
cổ đông, chủ nợ.
 Thường xuyên luân chuyển nhân viên.
 Lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, xuất hiện các hành động nhất thời,
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
15
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
không có khả năng giải quyết với những thay đổi bất thường.
Nhóm 3: Nhóm có các dấu hiệu liên quan đến chính sách ưu tiên trong
kinh doanh.
 Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn, khách hàng vay vốn ấn tượng bởi một
hoặc một số hợp đồng lớn, có tên tuổi nhưng sau này sẽ phụ thuộc vào chúng.
 Sự cấp bách không thích hợp, chẳng hạn như do áp lực nội bộ dẫn đến việc
tung sản phẩm, dịch vụ ra thị trường quá sớm, các hạn mức về thời gian kinh doanh
đưa ra không thực tế, tạo ra sự mong đợi trên thị trường không đúng lúc.
Nhóm 4: Nhóm các dấu hiệu thuộc vấn đề thương mại và kỹ thuật.
 Khó khăn trong vấn đề phát triển sản phẩm, cường độ đổi mới sản phẩm
giảm dần.Có biểu hiện cắt giảm chi phí sửa chữa, thay thế máy móc.
 Thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất, thị hiếu của người tiêu dùng, chậm
cập nhật kỹ thuật mới, có thêm nhiều đối thủ cạnh tranh, mất nhiều khách hàng lớn.

Tổng nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100
(%) Tổng dư nợ
 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu
Ở Việt Nam, theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của
NHNN Việt Nam quy định về Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý
RRTD và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ban hành ngày 25/4/2007 về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng, dự
phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành kèm theo
Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005. Nợ xấu là các khoản nợ
thuộc về nhóm 3, 4 và 5 được quy định tại điều 6 bao gồm:
 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn)
- Các khoản nợ quá hạn từ 91-180 ngày;
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
17
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều
chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng
trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
 Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
 Nhóm 5 (Nợ có khả năng bị mất vốn)
- Nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn 90 ngày trở lên theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

trích lập dự phòng RRTD càng lớn thì RRTD càng lớn.
 Mức độ tập trung tín dụng
 Mức độ tập trung tín dụng theo ngành nghề kinh doanh là mức độ dồn vốn
tín dụng theo danh mục ngành nghề kinh tế. Mức độ này còn tuỳ thuộc vào nhiều
nhân tố như chính sách tín dụng, mục tiêu của NH trong từng thời kỳ và trạng thái
nền kinh tế và định hướng chung của Nhà nước.
 Mức độ tập trung theo khu vực địa lý là việc dồn vốn tín dụng cho một
hoặc một số khu vực địa lý nào đó trong nước hay nước ngoài
1.2.3.3. Các biện pháp quản trị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của các
NHTM
 Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro.
Đây là điều kiện tiên quyết trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng. Trong
điều kiện nền kinh tế thị trường biến động phức tạp, yêu cầu đặt ra với mỗi ngân
hàng là cần phải có chiến lược rõ ràng trong việc quản trị rủi ro tín dụng, bởi vì đó
là “kim chỉ nam” cho hoạt động tín dụng. Một chiến lược rõ ràng, chính xác trong
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
19
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
dự báo đảm bảo cho các ngân hàng có thể linh hoạt trong phòng ngừa và xử lý
những rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Hơn nữa, nó còn góp phần định hướng cho các
hoạt động tín dụng trong tương lai đảm bảo mục tiêu an toàn và lợi nhuận cao.
 Xây dựng chính sách tín dụng.
Một chính sách tín dụng hợp lý phải được xây dựng dựa trên các căn cứ:
- Thị trường mục tiêu của ngân hàng, nguồn lực vật chất, trình độ của đội ngũ
nhân viên là nhân tố tác động đến khả năng hoạt động của ngân hàng trên những
khu vực thị trường nhất định.
- Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm cả vốn huy động và vốn chủ sở hữu. Tùy
thuộc vào quy mô nguồn vốn mà ngân hàng có thể lựa chọn kỳ hạn đầu tư, loại hình
cho vay phù hợp.

đồng bộ với chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu trong hoạt động kinh doanh, yêu cầu
khách hàng phải mua bảo hiểm cho các tài sản hình thành từ vốn vay và TSĐB.
Không nên tập trung cho vay quá nhiều vào một đối tượng, một địa bàn, một ngành
mà cần phải đa dạng hóa danh mục cho vay nhằm phân tán rủi ro, tăng cường khả
năng xử lý linh hoạt các tình huống có thể xảy ra. Đồng thời cũng cần phải sử dụng
nghiệp vụ cho vay hợp vốn nhằm mục đích san sẻ rủi ro cho các đơn vị khác.
 Sử dụng các công cụ ngoại bảng.
Đây là biện pháp hạn chế rủi ro rất hữu hiệu của ngân hàng, nó không những
có thể hạn chế rủi ro mà còn mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Các công cụ thị
trường phái sinh này đòi hỏi phải có hệ thống, bao gồm các hợp đồng quyền chọn,
kỳ hạn, tương lai, hoán đổi.
Trên cơ sở các hoạt động tín dụng và hoạt động kinh doanh, mỗi ngân hàng
cần đưa ra các chính sách sử dụng các công cụ phái sinh dựa trên những phân tích,
đánh giá về tình hình biến động của thị trường. Nếu phân tích sai về thị trường sẽ
dẫn đến rủi ro cao hơn, giảm lợi nhuận ngân hàng đồng thời tồn tại các rủi ro thanh
toán các khoản lỗ mà các công cụ này gây ra.
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng
Mục đích của quản trị rủi ro tín dụng là phòng ngừa, hạn chế rủi ro từ đó tối đa
hóa lợi nhuận của ngân hàng và duy trì rủi ro tín dụng trong phạm vi có thể chấp
nhận được. Tuy nhiên, trong quá trình quản trị rủi ro, có nhiều nhân tố tác động đến
quá trình này khiến cho việc quản trị rủi ro tín dụng gặp nhiều khó khăn, và có thể
làm giảm hiệu quả của công tác quản trị. Sau đây là một số nhân tố ảnh hưởng đến
quá trình quản trị rủi ro tín dụng.
 Công nghệ thông tin: Do công nghệ và trang thiết bị ngân hàng còn yếu
kém cho nên việc thu thập và xử lý thông tin về doanh nghiệp còn nhiều hạn chế
dẫn đến những đánh giá không chính xác. Những thông tin từ hồ sơ xin vay của
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
21
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng

+ Mô hình đánh giá RRTD: Mỗi ngân hàng phải hình thành và đưa vào một
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
22
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
mô hình đánh giá rủi ro cụ thể để có thể quản lý RRTD một cách thống nhất và hiệu
quả. Mô hình này phải phù hợp với tính chất, quy mô và độ phức tạp của các hoạt
động thuộc ngân hàng đó.
 Quy định về kế toán, kiểm toán: Việc hoàn thiện các quy định về chế độ kế
toán, kiểm toán là một nhân tố khách quan ảnh hưởng tới khả năng quản lý rủi ro
của ngân hàng. Với việc thống nhất cũng như minh bạch các tài liệu kế toán sẽ giúp
cho ngân hàng có thể tăng cường giám sát các khoản cho vay của mình, nắm rõ hơn
tình hình của doanh nghiệp cả trước lẫn sau khi cấp tín dụng. Qua đó, ngân hàng sẽ
có các biện pháp hiệu quả nhằm phối hợp cùng doanh nghiệp, hạn chế được các rủi
ro có thể xảy ra.
 Cơ chế giám sát của NHNN: Việc giám sát của NHNN là rất quan trọng,
bởi chỉ khi đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của NHNN, NHTM mới làm tốt, hiệu quả
công tác quản lý RRTD. Lúc này, các chính sách, các quy định cũng như quy trình
quản lý RRTD mới được thực hiện đầy đủ. Đặc biệt, hiện nay trên thế giới, các tiêu
chuẩn về Basel II đã và đang được coi là một chuẩn mực cho các ngân hàng thực
hiện.
 Sự phát triển của thị trường tài chính: Với một thị trường tài chính phát
triển, bên cạnh kênh tín dụng ngân hàng sẽ có các hình thức huy động vốn khác như
huy động từ cổ phiếu hoặc trái phiếu Việc phát triển thị trường tài chính không
những hạn chế RRTD từ phía doanh nghiệp mà còn nâng cao khả năng quản lý
RRTD của ngân hàng.
 Từ phía khách hàng vay vốn: khách hàng gian lận, cố tình làm sai, làm giả
hồ sơ, tài liệu. Vì ngân hàng thu thập thông tin chủ yếu từ khách hàng vay vốn và
trung tâm thông tin tín dụng CIC nhưng thông tin từ CIC không thường xuyên, do
đó nguồn thông tin chủ yếu vẫn là từ khách hàng vay vốn. Vì vậy nếu khách hàng

quyết định như xác định danh mục đầu tư, quyết định hạn mức cho vay, kiểm tra
tình trạng tín dụng đối với những khoản vay lớn mang tính rủi ro. Ngoài ra còn có
nhiệm vụ cập nhật, thay đổi chính sách tín dụng, chính sách hạn mức phù hợp với
sự biến động của kinh tế chính trị vùng, ngành.
Mỗi đối tượng cho vay được tính điểm bởi hệ thống xếp hạng rủi ro. Việc xếp
hạng dựa vào một số tiêu chí như tình hình tài chính, điều kiện kinh doanh, thị phần
vốn và trình độ quản lý.
1.3.1.2. Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là một nước trong khu vực Đông Nam Á có điều kiện kinh tế gần
giống Việt Nam. Mặc dù có bề dày hoạt động hàng trăm năm nhưng vào năm 1997-
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
24
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
1998, hệ thống ngân hàng Thái Lan vẫn bị chao đảo bởi cơn khủng hoảng tài chính
tiền tệ. Trước tình hình đó, các ngân hàng Thái Lan đã có một loạt thay đổi căn bản
trong hệ thống, đó là:
 Mô hình tổ chức hoạt động tín dụng tách bạch, phân công rõ chức năng của
từng bộ phận và tuân thủ các khâu trong quy trình giải quyết các khoản vay. Có thể
thấy rõ điều này ở Bangkok Bank và Sian Commercial Bank.
 Tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng và quan
tâm nhiều đến thông tin của khách hàng như hiệu quả kinh doanh, mục đích vay,
dòng tiền và khả năng trả nợ, thực trạng tài chính…
 Tiến hành chấm điểm khách hàng trước khi quyết định cho vay.
 Tuân thủ thẩm quyền phán quyết tín dụng theo mức tăng dần phán quyết
của một người, của một nhóm người hoặc hội đồng quản trị.
 Giám sát chặt chẽ các khoản vay sau khi cho vay bằng cách tiếp tục thu
thập thông tin về khách hàng, định kỳ giám sát tình hình hoạt động kinh doanh của
khách hàng.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status