Vận dụng phương pháp giải quyết vấn đề vào mọi đói tượng học sinh trong tiết vật lý 8 - Pdf 25

Một số kinh nghiệm  ho ten
I - Lý do chọn đề tài
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học của sự nghiệp giáo dục
có rất nhiều phương pháp mà giáo viên đã áp dụng một trong những phương
pháp đó là phương pháp dạy học nêu cao vấn đề.
Quá trình giảng dạy tôi đã nhận thấy nếu giáo viên không sáng tạo
trong việc dạy học tìm ra những tình huống hấp dẫn học sinh thì gây ra sự
nhàm chán cho học sinh đôi khi giáo viên đem đến cho học sinh cảm thấy xa
lạ, học sinh không muốn vượt khó khăn suy nghĩ, kết quả dạy học sẽ không
cao số học sinh yêu thích bộ môn sẽ rất ít, vì vậy tôi thấy dùng phương pháp
nêu tình huống trong các giờ dạy thì kích thích mạnh mẽ tính tìm tòi, tò mò
của học sinh, học sinh nhớ rất lâu khắc sâu kiến thức một cách tự nhiên, giờ
học vui vẻ sôi nổi hơn so với phương pháp cũ. Vì như vậy nên tôi đã mạnh
dạn dùng phương pháp dạy học nêu tình huống này vào một số giờ dạy học
hơn nữa phương pháp dạy học tập là do mục đích giáo dục lại được quyết
định bởi nhu cầu của hoạt động thực tiễn của đời sống xã hội, Đương nhiên
đời sống xã hội cần những con người sáng tạo có khả năng khám phá nhưng
vẫn có những công việc, những hoạt động chỉ đòi hỏi con người biết vận
dụng những tri thức trong kho tàng văn hoá nhân loại và không phải do bản
thân mình tìm ra. Bởi vậy trong nhà trường trong khi nhấn mạnh sự cần thiết
áp dụng những phương pháp dạy học mang tính tìm tòi, nghiên cứu, khám
phá, chúng ta không loại trừ phương pháp dạy học ứng dụng những tri thức
có sẵn rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vậy thì việc dạy học giải quyết vấn đề là rất
quan trọng, vì mục đích dạy học là tăng cường dạy học sinh chiếm lĩnh tri
thức trong quá trình hình thành và phát triển. Vì lí do và cơ sở trên nên tôi đã
áp dụng phương pháp này vào một số bài giảng ở những cấp độ khác nhau
được phân biệt tuỳ theo mức độ độc lập của học sinh trong hoạt động học
tập để áp dụng. Vẫn còn quan niệm cho rằng dạy học giải quyết vấn đề chỉ
thích hợp với học sinh khá giỏi, nên tôi đã mạnh dạn áp dụng với cả các học
sinh bình thường và rất có hiệu lực, ngoài ra còn một số lý do song nó chỉ là
riêng với bản thân chưa phải là chung nên trong bản sáng kiến này Tôi

Đó là một tình huống rất bế tắc học sinh bằng tri thức bình thường
không thể giải thích được. Muốn giải thích được phải dùng tri thức của tiết
tới là học: Cấu tạo phân tử.
Sau khi học song 4 nội dung của thuyết giáo viên quay lại vấn đề đặt ra
lúc đầu, vậy các chất có liền một khối hay không thì học sinh hoàn toàn giải
quyết tình huống vừa xảy ra một cách dễ dàng: Các chất không liền một
khối.
* Hay khi dạy bài: Mặt phẳng nghiêng ( Vật lí 6).
Giáo viên đưa ra tình huống phán xét.
- Giáo viên: Tại sao khi lên dốc người ta phải làm đường ngoằn ngèo,
tại sao ta không làm đường thẳng từ dưới chân dốc lên đỉnh núi? Tại sao khi
2
Một số kinh nghiệm  ho ten
làm cầu thang lên gác lại làm hình chữ chi nhiều bậc mà không làm dốc
đứng lên?
- Học sinh trả lời: Làm thế cho đẹp - vì thừa vật liệu.
Để trả lời câu hỏi trên ta phải dùng tri thức mới, đó là quy luật của mặt
phẳng nghiêng sau khi đọc xong bài mặt phẳng nghiêng học sinh sẽ giải
quyết cho đỡ mệt và đó là sự lựa chọn đúng.
Trong khi giảng dạy vật lý vì nó có đặc trưng bộ môn đôi khi một vấn
đề chỉ đúng đối với toán học, về vật lý thì nó không đúng vì thế giáo viên
nên đưa ra những tình huống không phù hợp khi dạy bài: Bức xạ nhiệt ( lý
8).
Trước khi vào bài giáo viên đưa ra tình huống chất khí dẫn nhiệt kém,
vậy ngồi gần bếp lửa ta thấy rất ấm vậy ở đây có phải nhiệt truyền từ bếp
đến ta bằng cách dẫn nhiệt của chất khí không?
- Học sinh trả lời: Do chất khí dẫn nhiệt.
- Giáo viên: Ta học bài hôm nay bức xạ nhiệt các em sẽ trả lời được vấn
đề trên. Giáo viên có thể đưa ra tình thế đối lập trong khi dạy bài: Sự đối lưu
(Lý 8)

HS 1: - Khi nào nói vật có cơ năng ?.
- Trong trường hợp nào thì cơ năng của vật là thế năng ?.
Trường hợp nào thì cơ năng là động năng ? lấy ví dụ
một
vật có cả động năng và thế năng.
HS 2: - Động năng, thế năng của vật phụ thuộc vào yếu tố
nào ?.
- Chữa bài tập 16.1
* Tổ chức tình huống học tập: như phần mở bài SGK.
3. Nội dung bài mới.
phương pháp
nội dung
Hoạt động của Giáo viên Hoạt động của học sinh
Hoạt động 2:
GV: Cho HS làm thí nghiệm
hình 17.1; kết hợp với quan sát
tranh phóng to hình 17.1. Lần
lượt nêu các câu hỏi C
1
đến C
4.
GV: Yêu cầu HS hoạt động
HS: làm TN thả quả bóng
rơi như đã hướng dẫn hình
17.1, quan sát quả bóng rơi
kết hợp hình 17.1 thảo luận
trả lời câu hỏi từ C
1
đến C
4

rút ra nhận xét gì về sự chuyển
hoá năng lượng của con lắc dao
động xung quanh vị trí cân bằng
B
HS: Thế năng chuyển hoá
thành động năng.
HS: Khi quả bóng nảy lên:
động năng chuyển hoá
thành thế năng.
HS: Làm thí dụ theo nhóm
dưới sự hướng dẫn của GV
Thảo luận nhóm C
5
đến C
8
HS: Nêu đượ nhận xét như
kết luận SGK.
C
3
: (1) Tăng; (2) Giảm
(3) Tăng; (4) Giảm
C
4
: (1).A; (2).B; (3).B; (4).A
*Nhận xét: - Khi quả bóng rơi:
thế năng chuyển hoá thành động
năng.
- Khi quả bóng nảy lên: động
năng chuyển hoá thành thế năng.
* Thí nghiệm 2:

HS: Chú ý lắng nghe
II - Bảo toàn cơ năng.
* Định luật: SGK
* Chú ý: SGK.
III - Hoạt động 4:
GV: Yêu cầu học sinh phát biểu
định luật bảo toàn chuyển hoá cơ
năng.
- Nêu ví dụ thực tế về sự chuyển
hoá cơ năng.
GV: Yêu cầu học sinh làm câu 9
HS: Học sinh ghi nhớ định
luật bảo toàn cơ năng tạ
lớp.
HS: Lấy ví dụ thực tế về sự
chuyển hoá cơ năng.
III - Vận dụng.
C
9
: a, Thế năng của cánh cung
chuyển hoá thành động năng của
mũi tên.
b, Thế năng chuyển hoá
thành động năng.
5
Một số kinh nghiệm  ho ten
Chú ý: Phần C, yêu cầu HS phân
tích rõ 2 quá trình vật chuyển
động đi lên cao và quá trình vật
rơi xuống.

6
Một số kinh nghiệm  ho ten
- Tìm được ví dụ về thực hiện công và truyền nhiệt.
- Phát biểu được định nghĩa và đơn vị nhiệt lượng
2. Kỹ năng: Sử dụng đúng thuật ngữ như: Nhiệt năng, nhiệt lượng,
truyền nhiệt
3. Thái độ: Trung thực, nghiêm túc trong học tập.
II - Chuẩn bị:
* GV: - 1 quả bóng cao su - 2 miếng kim loại (hoặc 2 đồng
xu)
- 1 phích nước nóng - 2 thìa nhôm
- 1 cốc thuỷ tinh - 1 banh kẹp, 1 đèn cồn, diêm.
* Mỗi nhóm học sinh:
- 1 miếng kim loại hoặc 1 đồng tiền bằng kim loại
- 1 cốc nhựa + 2 thìa nhôm.
III - Các bước lên lớp.
1 - ổn định tổ chức
2 - Kiểm tra bài cũ: Hoạt động 1.
HS 1: - Các chất được cấu tạo như thế nào ?.
- Giữa nhiệt độ của vật và chuyển động của các nguyên tử, phân
tử
cấu tạo nên vật có quan hệ như thế nào ?.
- Trong quá trình cơ học, cơ năng được bảo toàn như thế nào ?.
HS 2: Chữa bài tập 20.5
* Tổ chức tình huống học tập.
Giáo viên: làm thí nghiệm thả quả bóng rơi, yêu cầu học sinh quan sát
mô tả hiện tượng (học sinh quan sát mô tả )
Giáo viên: Trong hiện tượng này cơ năng của quả bóng giảm dần. Cơ
năng của quả bóng đã biến mất hay chuyển hoá thành dạng năng lượng
khác ?. Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta đi tìm câu trả lời.

I - Nhiệt năng
+ Nhiệt năng của vật bằng tổng
động năng các phân tử cấu tạo
nên vật.
+ Mối quan hệ giữa nhiệt năng
và nhiệt độ: Nhiệt độ của vật
càng cao thì các phân tử cấu tạo
nên vật chuyển động càng nhanh
và nhiệt năng của vật càng lớn.
Hoạt động 3:
GV: Nêu vấn đề để học sinh thảo
luận:
+ Nếu ta có một đồng xu bằng
đồng, muốn cho nhiệt năng của
nó thay đổi (tăng) ta có thể làm
thế nào ?.
Gọi một số học sinh nêu phương
án làm tăng nhiệt năng của đồng
xu. Giáo viên ghi bảng phân 2 cột
ứng với 2 cách làm thay đổi nhiệt
năng.
GV: Yêu cầu HS làm C
1

HS: Thảo luận theo nhóm
đề xuất phương án làm tăng
nhiệt năng của đồng xu.
HS: Đại diện 2, 3 học sinh
nêu phương án.
HS: Trả lời câu hỏi C

GV: yêu cầu HS nêu phương án
làm giảm nhiệt năng của đồng xu,
nêu rõ đó là cách thực hiện công
hay truyền nhiệt ?.
GV: Chốt lại 2 cách làm thay đổi
nhiệt năng của một vật.
HS: Khi thực hiện công lên
miếng đồng, nhiệt độ của
miếng đồng tăng nên nhiệt
năng của miếng đồng tăng.
HS: Nêu các phương án
làm tăng nhiệt năng của
chiếc thìa nhôm.
HS: Suy nghĩ trả lời câu hỏi
HS: Nêu cách làm giảm
nhiệt năng của đồng xu
thực hiện bằng cách truyền
nhiệt cho vật khác có nhiệt
độ thấp hơn so với nhiệt độ
của đồng xu.
HS: Ghi kết luận vào vở
+ Cọ sát đồng xu vào quần
áo
+ Cọ sát đồng xu vào mặt
bàn
2. Truyền nhiệt:
C
2
: Hơ trên ngọn lửa
Nhúng vào nước nóng

khoảng 4J
HS: Suy nghĩ trả lời.
Đơn vị là Jun (kí hiệu J)
Hoạt động 5
GV: Qua bài học hôm nay chúng
ta cần ghi nhớ những vấn đề gì ?.
Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời
câu hỏi C
3
, C
4
, C
5.
HS: Nêu phần ghi nhớ cuối
bài.
HS: Trả lời các câu hỏi C
3
,
C
4
, C
5.
IV - Vận dụng:
C
3
: Nhiệt năng của miếng đồng
giảm, nhiệt năng của nước tăng.
Đồng đã truyền nhiệt cho nước.
C
4

sau khi dạy kiểm tra 15 phút kết quả như sau:
Lớp Tổng số Giỏi Khá TB Yếu Kém
8A
4
34 0 6 22 6 0
% 100% 0 18% 64% 18% 0
Với lớp 8A
1
khi dạy đã áp dụng nhiều tình huống nên kết quả nâng lên
rõ rệt:
Lớp Tổng số Giỏi Khá TB Yếu Kém
8A
1
27 3 11 12 1 0
% 100% 11% 41% 44% 4% 0
* kết luận
Ngành giáo dục và đào tạo đã có một cuộc vận động đổi mới phương
pháp dạy học, trong đó học giải quyết vấn đề được đề cập và quan tâm như
một biện pháp hữu hiệu để người học hoạt động tự giác, tích cực, độc lập và
sáng tạo trong quá trình học tập. Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục,
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nước.
Vì vậy tôi cùng các đồng chí trong tổ đã mạnh dạn áp dụng phương
pháp dạy học này vào bộ môn của mình, đặc biệt đối với tất cả các đối tượng
giỏi, khá, trung bình, yếu đều áp dụng được phương pháp này kết quả bước
11
Một số kinh nghiệm  ho ten
đầu đã có khả quan gây một niềm tin ở khả năng giáo viên cũng như sự tiếp
thu ở học sinh.
Tuy có nhiều khó khăn vì học sinh trong một lớp còn quá đông, chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status