Sáng kiến kinh nghiệm Gv: Nguyễn Minh Đức
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I/ THƠNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên : Nguyễn Minh Đức
2. Ngày tháng năm sinh : 25/02/1979
3. Nam
4. Địa chỉ: Thống nhất – Vĩnh thanh – Nhơn trạch - Đồng nai.
5. Điện thoại : Cơ quan : 0613.576.419
: Nhà riêng : 0613.577.582
: Di động : 0909.467.347
6. Fax: Email:
7. Chức vụ : Phó Hiệu trưởng
8. Đơn vị cơng tác: Trường THCS Vĩnh Thanh – Nhơn Trạch - Đồng Nai.
II/ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị cao nhất : Đại học
- Năm nhận bằng : 2007
- Chun ngành đào tạo : Hố học
III/ KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chun mơn có kinh nghiệm: Hố học – Vật lý.
- Số năm có kinh nghiệm : 10 năm
- Các sáng kiến đã có trong những năm gần đây:
Năm 2003: Phương pháp giải bài tập hố học ở bậc THCS.
Năm 2004: Nâng cao chất lượng bộ mơn hố học bậc THCS bằng CNTT.
Năm 2005: Phương pháp nâng cao chất lượng bộ mơn hố học bậc THCS
bằng CNTT
Năm 2006: Phát huy tính tích cực từ các trò chơi trong mơn hố bằng CNTT
Năm 2007: Góp phần nâng cao chất lượng bộ mơn hố học bậc THCS bằng
CNTT.
Năm 2008: Sử dụng “Bài giảng Điện tử” hợp lý, góp phần tăng thêm tính
tích cực trong tiết dạy Hố học bậc THCS.
Năm 2010: Phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy Vật lý 6.
- Nghiên cứu các phương pháp giảng dạy phần "Cơ học" của mơn Vật lý 6.
Nhằm đưa ra những giải pháp tốt để học sinh khối 6 có khả năng tiếp thi mơn Vật lý
nói chung và phần "Cơ học" của mơn Vật lý 6 nói riêng một cách tốt hơn.
Đối với bộ mơn Vật lý khi đã xác định được nội dụng kiến thức tốt, cần phải biết
lựa chọn phương pháp thích hợp để giảng dạy nó cho học sinh. Làm được như vậy
khơng những sẽ giúp học sinh dễ nắm kiến thức mà còn có tác dụng trau dồi cho học
sinh phương pháp học tập, nghiên cứu và làm việc một cách khoa học. Đó là cơ sở để
học sinh khi ra ngồi sống có thể tự học tập, bồi bổ phát triển kiến thức, nâng cao
trình độ và lao động một cách sáng tạo, ứng với mỗi kiến thức có thể có nhiều biện
pháp và phương pháp giảng dạy khác nhau, người giáo viên phải biết tuỳ tình hình cụ
thể, tuỳ điều kiện thiết bị của phòng thí nghiệm và đặc biệt là tuỳ đặc điểm lứa tuổi và
trình độ học sinh mà chọn phương pháp giảng dạy thích hợp nhất để q trình dạy học
mang lại hiệu quả cao nhất.
II/ THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA SÁNG
KIẾN KINH NGHIỆM
1/ Thuận lợi
- Được sự quan tâm, hỗ trợ của Bộ phận chun mơn phòng Giáo dục – Đào tạo
cũng như của Ban giám hiệu nhà trường.
- Với chương trình đổi mới SGK của khối 6, 7, 8, 9. Nên đồ dùng dạy học cũng
được cung cấp về tương đối đầy đủ phục vụ cho việc dạy học các mơn học được tốt
hơn, trong đó có mơn Vật lí.
2/ Khó khăn
Đa phần học sinh là con em lao động còn gặp nhiều khó khăn về hồn cảnh
sống và điều kiện học tập, một số gia đình chưa thật sự quan tâm đến vấn đề giáo dục
co em mình, một số em nhà xa, cách xa trường đến 5 đến 6 cây số. Mặt khác do điều
kiện cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn các phòng bộ mơn, phòng thí
nghiệm nên điều kiện học tập của hoạ sinh còn hạn chế.
3/ Số liệu thống kê
Trường THCS Vónh Thanh – Nhơn Trạch Trang: 3
Sáng kiến kinh nghiệm Gv: Nguyễn Minh Đức
trình bày những hiện tượng này chủ yếu theo quan điểm hiện tượng thiên về mặt định
tính hơn là định lượng.
+ ở giai đoạn 2: Tuỳ khả năng tư duy của học sinh đã phát triển, học sinh đã có
một số hiểu biết ban đầu về các hiện tượng vật lý ở xung quanh, ít nhiều có thói quen
hoạt động theo những u cầu chặt chẽ của việc học tập vật lý, vốn kiến thức tốn học
cũng đã được nâng cao thêm một bước, do đó việc học tập mơn vật lý ở giai đoạn này
phải có những mục tiêu cao hơn ở giai đoạn 1.
- Chương trình vật lý 6 là phần mở đầu của giai đoạn 1, nên những u cầu về
khả năng tư duy trừu tượng, khái qt cũng như những u cầu về mặt định lượng
trong việc hình thành các khái niệm và định luật Vật lý đều ở mức thấp. Học sinh lớp
6 được làm quen với phần đầu tiên của mơn vật lý là phần "Cơ hoc" ở đây tơi chỉ đề
cập tới phương pháp dạy học phần "Cơ học" (mục tiêu của chương I) " Cơ học" ở lớp
6 là:
1. Biết đo chiều dài (l) trong một số tình huống thường gặp.
- Biết đo thể tích (V) theo phương pháp hình tròn
2. Nhận dạng tác dụng lực (F) như là đẩy hoặc kéo của vật.
- Mơ tả kết quả tac dụng của lực như làm vật biến dạng hoặc làm biến đổi
chuyển động của vật.
- Chỉ ra được 2 lực cân bằng khi chúng cùng tác dụng cùng 1 vật đang đứng
n.
3. Nhận biết của lực đàn hồi như là lực do lực bị biến dạng đàn hồi tác dụng
lên vật gây ra biến dạng.
- So sánh lực mạnh, lực yếu dưa vào tác dụng của lực làm biến dạng nhiều hay
ít.
- Biết sử dụng lực kế để đo lực trong một số trường hợp thơng thường và biết
đơn vị lực là Niu tơn (N).
4. Phân biệt khối lượng (m) và trọng lượng (P).
Trường THCS Vónh Thanh – Nhơn Trạch Trang: 5
Sáng kiến kinh nghiệm Gv: Nguyễn Minh Đức
- Khối lượng là lượng vật chất chứa trong vật, còn trọng lực là lực hút của trái
Trường THCS Vónh Thanh – Nhơn Trạch Trang: 6
Sáng kiến kinh nghiệm Gv: Nguyễn Minh Đức
1 Km = 10 dam 1 Km = 1000.000 mm 1 m = 1000 mm.
+ Hướng dẫn học sinh các tính giá trị trung bình.
Ví dụ: Đo lần 1: l
1
= 9 cm.
Đo lần 2: l
2
= 7 cm.
Đo lần 3 l
3
= 8 cm
Độ dài trung bình của 3 lần đo là:
l
1
+ l
2
+ l
3
9 + 7 + 8 24
ltb = ––––––––– = –––––––––– = –––––– = 8 (cm)
3 3 3
Bài 3: Đo thể tích chất lỏng.
Cho học sinh thấy được một số dụng cụ thường dùng để đo thể tích chất lỏng.
Hướng dẫn học sinh biết xác định thể tích của chất lỏng bằng dụng cụ đo thích
hợp, bình chia độ (chai, bình, ca đã biết sẵn dung tích), giáo viên ơn lại cho học sinh
về đơn vị đo thể tích. u cầu học sinh học thuộc dãy sau.
m
3
Giáo viên cho học sinh thực hành theo các nhóm và uốn nắn cách đo thể tích và
cách đọc kết quả trong khi thực hành.
Trường THCS Vónh Thanh – Nhơn Trạch Trang: 7
Sáng kiến kinh nghiệm Gv: Nguyễn Minh Đức
Bài 5: Khối lượng, đo khối lượng.
Giáo viên hướng dẫn học sinh biết cách đo khối lượng, nắm được đơn vị khối
lượng là Kilơgam: kg.
Biết sử dụng cân Rơbéc van, nắm được giới hạn đo và độ chia nhỏ nhất của cân
Rơbét van.
Giáo viên hướng dẫn lại cách đổi đơn vị đo khối lượng, u cầu học sinh học
thuộc dãy sau:
1 tấn = 10 tạ = 100 yến = 1.000 kg = 10.000 hg = 100.000 dag = 1.000.000 g
1 kg = 10 hg = 100 dag = 1.000 g v.v
1
1 mg = –––––– g ; 1 g = 1.000 mg
1.000
Lưu ý học sinh 1 héc tơ gam còn gọi là 1 lạng: 1 hg (1lạng) = 100g
- Giáo viên hướng dẫn học sinh giải thích được ý nghĩa của biển báo giao thơng
(5 t - trên thực tế biển báo giao thơng ký hiệu là 5 T).
Bài 6: Lực - Hai lực cân bằng.
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm các ví dụ về lực đẩy, lực kéo, lực hút và chỉ ra
được ra phương và chiều của các lực đó. Giáo viên cho học sinh hiểu về hai lực cân
bằng. Hướng dẫn học sinh sử dụng đúng các thuật ngữ: Lực đẩy, lực kéo, phương,
chiều, lực cân bằng.
ở bài này giáo viên nên lấy nhiều ví dụ thực tế gần gũi với học sinh.
Ví dụ 1: Em bé kéo con trâu, nhưng con trâu khơng đi. Vậy là em bé đã tác dụng
một lực vào con trâu thơng qua sợi dây và con trâu cũng tác dụng một lực kéo vào em
bé thơng qua sợi dây. Khi em bé khơng kéo được con trâu đi, em bé và con trâu vẫn
đứng ở hai vị trí ban đầu. Vậy hai lực kéo đó có cường độ bằng nhau gọi là hai lực
cân bằng, hai lực kéo có phương ngang, có chiều ngược nhau.
Sáng kiến kinh nghiệm Gv: Nguyễn Minh Đức
đất tác dụng lên viên phấn, lực hút tác dụng lên vật gọi là trọng lực hay trọng lực của
vật.
- Lực hút tác dụng lên viên phấn có những phương thẳng đứng và có chiều từ
trên xuống dưới. Đơn vị đo lực là Niu tơn (N).
Bài 9: Lực đàn hồi.
- Ở bài này giáo viên cho học sinh nhận biết thế nào là biến dạng đàn hồi của một
lò xo. Nêu được đặc điểm của lực đàn hồi, nêu được sự phụ thuộc của lực đàn hồi vào
độ biến dạng của lò xo. Giáo viên dùng mơ hình trực quan: lò xo thật, cho học sinh
quan sát và làm thí nghiệm với lò xo theo SGK, phân tích rõ về lực đàn hồi, trong lực
của vật thì hướng về trái đất còn lực đàn hồi lò xo có xu hướng kéo lò xo về trạng thái
ban đầu, hai lực này cùng phương nhưng ngược chiều.
Theo hình vẽ : (hình a SGK) thì lực đàn hồi (F), trọng lực (P)
+ Cùng phương thẳng đứng.
+ Chiều lực đàn hồi từ dưới lên trên.
+ Chiều trọng lực từ trên xuống dưới.
Hai lực này có cùng độ lớn (2 lực cân bằng) khi lò xo đứng n.
Theo hình b SGK thì trọng lực tăng thì lực đàn hồi tăng. Cường độ lực đàn hồi tỷ
lệ thuận với độ biến dạng của lò xo.
Bài 10: Lực kế, phép đo lực, trọng lượng và khối lượng.
ở bài này giáo viên cho học sinh nhận biết được cấu tạo của một lực kế, sử dụng
được cơng thức liên hệ giữa trọng lượng và khối lượng của cùng một vật để tính trọng
lượng của vật (biết khối lượng của nó), sử dụng được lực kế để đo lực.
- Giáo viên cho học sinh quan sát lực kế theo nhóm để tự tìm ra cấu tạo lực kế,
giáo viên hướng dẫn học sinh cách xác định GHĐ và ĐCNN của từng lực kế, giáo
viên hướng dẫn học sinh cách áp dụng cơng thức P = 10 m.
Trong đó P là trọng lượng có đơn vị là (N).
Trường THCS Vónh Thanh – Nhơn Trạch Trang: 10
Sáng kiến kinh nghiệm Gv: Nguyễn Minh Đức
m là khối lượng có đơn vị là (kg).
Trường THCS Vónh Thanh – Nhơn Trạch Trang: 11
Sáng kiến kinh nghiệm Gv: Nguyễn Minh Đức
Bước 3: Tính khối lượng riêng của sỏi theo cơng thức
m
D =
V
đơn vị kg/m
3
.
Trước mỗi lần đo thể tích của sỏi cần lau khơ các hòn sỏi.
- Giáo viên u cầu học sinh làm báo cáo thực hành theo nhóm hay cá nhân để
nộp chấm điểm. (mẫu cáo báo thực hành trong SGK).
- Giáo viên uốn nắn trong khi thực hành.
+ Uốn nắn cách làm, cách viết báo cáo.
+ Uốn nắn ý thức thực hành.
Bài 13: Máy cơ đơn giản.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh biết làm thí nghiệm để so sánh trọng lượng của
vật và lực dùng để kéo vật trực tiếp lên theo phương thẳng đứng.
- Giáo viên u cầu học sinh kể tên được một số máy cơ đơn giản thường dùng
(ròng rọc, mặt phẳng nghiêng, đòn bẩy).
Bài 14: Mặt phẳng nghiêng.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh nêu được 2 thí dụ sử dụng mặt phẳng nghiêng
trong cuộc sống và chỉ số lợi ích của chúng.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh biết sử dụng mặt phẳng nghiêng hợp lý trong
từng trường.
- Giáo viên tạo hình ảnh trực quan minh hoạ thế nào là mặt phẳng nghiêng ít, thế
nào là mặt phẳng nghiêng nhiều, bằng cách tăng hay giảm chiều dài mặt phẳng và độ
cao h, càng tăng chiều dài mặt phẳng nghiêng thì độ nghiêng mặt phẳng nghiêng càng
giảm (với chiều cao là cố định). Càng giảm độ cao h thì độ nghiêng mặt phẳng
nghiêng càng giảm. (với chiều dài mặt phẳng nghiêng cố định).
giấy, cái bật nắp chai, cái kẹp gắp bánh, cần câu, chổi lau sàn, xẻng, đòn gánh
- Có thể phân thành 2 loại đòn bẩy.
+ Loại 1: là đòn bẩy F
1
và F
2
ở hai phía của điểm tựa 0.
+ Loại 2: là đòn bẩy với F
1
, F
2
ở cùng một phía đối với điểm tựa 0
Nếu 00
2
> 00
1
thì F
2
< F
1
Bài 16: Ròng rọc
Trường THCS Vónh Thanh – Nhơn Trạch Trang: 13
Sáng kiến kinh nghiệm Gv: Nguyễn Minh Đức
Giáo viên hướng dẫn học sinh nêu được 2 thí dụ về sử dụng ròng rọc trong cuộc
sống và chỉ rõ được lợi ích của chúng, biết sử dụng ròng rọc trong những cơng việc
thích hợp.
- Giáo viên phân tích cho học sinh thấy thế nào là
ròng rọc cố định (được gắn cố định trên giá), thế nào là
ròng rọc động (khơng gắn cố định trên giá) lợi ích của
ròng rọc động và ròng rọc cố định.
Mặt khác người giáo viên cần nhận rõ rằng, nội dung chương trình SGK khơng phải
là một cái gì cứng nhắc,có thể bổ sung một vấn đề gì đó để học sinh dễ lĩnh hội đối
với một kiến thức nào đó trong SGK, đồng thời cũng có thể lược bớt những chi tiết
nào đó trong SGK cho đỡ rườm rà mà vẫn đảm bảo các kiến thức cơ bản trong
chương trình trong chương "Cơ học" của Vật lý 6 có rất nhiều kiến thức liên quan đến
thực tế cuộc sống, giáo viên có thể liên hệ vào cuộc sống, lấy nhiều ví dụ để học sinh
hiểu bài học hơn.
VI/ KẾT LUẬN
Trong q trình đổi mới phương pháp giáo dục, để đạt được chất lượng cao
nhất trong bộ mơn Vật lý. Tơi xin có một số đề xuất như sau:
+ Nhà trường có kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo điều kiện học tập của
học sinh.
+ Cần phối hợp chặt chẽ mối quan hệ giữa gia đình - Nhà trường - Xã hội để giáo
dục các em có ý thức học tập tốt hơn.
+ Giáo viên giúp học sinh nhận thức đúng động cơ học tập của mình có ý thức
hơn trong học tập đối với tất cả các mơn học.
VII/ TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khao vật lý khối 6,7,8,9.
Trường THCS Vónh Thanh – Nhơn Trạch Trang: 15
Sáng kiến kinh nghiệm Gv: Nguyễn Minh Đức
2. Sách giáo viên – sách bài tập Vật lý bậc THCS và một số sách tham khảo khác.
Vĩnh Thanh, ngày 10 tháng 05 năm 2011
Người viết
Nguyễn Minh Đức
Trường THCS Vónh Thanh – Nhơn Trạch Trang: 16