SKKN Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết Vật lý lớp 6 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG TIẾT DẠY VẬT LÝ
6"
I. LÝ DO CHỌN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1/ Tính cấp thiết:
Để cho việc giảng dạy Vật lý ở trường THCS có hiệu quả, người giáo viên Vật lý không
những cần nắm vững kiến thức mà cả phương pháp và lịch sử phát triển của môn Vật lý.
Như vậy vẫn chưa đủ, người giáo viên Vật lý còn cần phải nắm vững lý thuyết và việc
thực hành giảng dạy Vật lý ở trường THCS.
Do chương trình mới học sinh khối 6 đã được tiếp cận với Vật lý còn nhiều bỡ ngỡ với
những khái niệm Vật lý lạ lẫm như Lực, Trọng lực, Lực đàn hồi, Khối lượng riêng, Trọng
lượng riêng trong khi đó kiến thức toán học của các em vẫn còn hạn chế gây ảnh hưởng
không ít đến việc dạy học Vật lý.
Phần “Cơ học” là chương đầu tiên của môn Vật lý khối 6, phần này chỉ gồm những kiến
thức liên quan đến những hiện tượng Vật lý đơn giản nhất, nó cũng cần sự tư duy, phân
tích hiện tượng một cách nhanh nhạy và tính toán chính xác trong một số trường hợp cụ
thể. Ví dụ như: cần xác định chính xác khối lượng riêng của sỏi, sao cho kết quả nó phải
phù hợp (có phần tương đối) như trong bảng khối lượng riêng của một số chất (cụ thể ở
đây là đá).
Vì vậy tôi nghiên cứu phương pháp dạy học phần "Cơ học" của môn Vật lý 6 để tìm ra
những giải pháp để học sinh có thể tiếp thu tốt kiến thức Vật lý phần "Cơ học" khi học
sinh mới làm quen với môn Vật lý ngay từ lớp 6 mà trước đây học sinh khối 7 mới được
học.
2/ Tính mới của sáng kiến kinh nghiệm
- Nghiên cứu các phương pháp giảng dạy phần "Cơ học" của môn Vật lý 6. Nhằm đưa ra
những giải pháp tốt để học sinh khối 6 có khả năng tiếp thi môn Vật lý nói chung và phần
"Cơ học" của môn Vật lý 6 nói riêng một cách tốt hơn.
Đối với bộ môn Vật lý khi đã xác định được nội dụng kiến thức tốt, cần phải biết lựa
chọn phương pháp thích hợp để giảng dạy nó cho học sinh. Làm được như vậy không
những sẽ giúp học sinh dễ nắm kiến thức mà còn có tác dụng trau dồi cho học sinh

1/ Cơ sở lý luận
Vật lí học là cơ sở của lý luận phương pháp giảng dạy vật lí, bởi vì trong giảng dạy người
giáo viên phải nắm vững đặc điểm của tri thức và phương pháp vật lí. Dựa trên cơ sở bền
vững các tư tưởng triết học Duy vật biện chứng trong vật lí học và nắm vững nhận thức
luận Mác - Lê Nin thì mới có thể giải quyết tốt nhiệm vụ dạy học vật lí ở THCS, giáo
viên cần tìm ra con đường ngắn nhất, hợp lí nhất để trang bị cho học sinh phổ thông kiến
thức về những cơ sở khoa học và phương pháp vật lí, đồng thời rèn luyện các em kĩ năng,
kỹ xảo ứng dụng sáng tạo những kiến thức ấy vào thực tiễn. Như vậy là góp phần trau dồi
cho học sinh phương pháp và năng lực nhận thức thế giới và cải tạo thế giới theo hướng
có lợi cho loài người. Nhằm mục đích lấy, không chỉ nội dung mà cả phương pháp giảng
dạy vật lí ở trường THCS cũng phải có tác dụng giúp học sinh hiểu rõ: Tính chất biện
chứng của hiện tượng vật lí, khái niệm vật chất và tính chất bất diệt của thế giới vật chất
vận động.
2/ Nội dung, biện pháp thực hiện và các giải pháp cụ thể:
a/ Thực trạng vấn đề nghiên cứu, thu thập xử lý các tài liệu thực tiễn và đề ra biện
pháp giáo dục.
Chương trình Vật lý THCS được cấu tạo thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Lớp 6 và lớp 7.
Giai đoạn 2: Lớp 8 và lớp 9.
+ ở giai đoạn 1: Tuỳ khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế, vốn kiến thức toán học
chưa nhiều, nên chương trình chỉ đề cập đến những hiện tượng vật lý quen thuộc, thường
gặp hàng ngày thuộc các lĩnh vực cơ, nhiệt, điện, quang, âm học. Việc trình bày những
hiện tượng này chủ yếu theo quan điểm hiện tượng thiên về mặt định tính hơn là định
lượng.
+ ở giai đoạn 2: Tuỳ khả năng tư duy của học sinh đã phát triển, học sinh đã có một số
hiểu biết ban đầu về các hiện tượng vật lý ở xung quanh, ít nhiều có thói quen hoạt động
theo những yêu cầu chặt chẽ của việc học tập vật lý, vốn kiến thức toán học cũng đã được
nâng cao thêm một bước, do đó việc học tập môn vật lý ở giai đoạn này phải có những
mục tiêu cao hơn ở giai đoạn 1.
- Chương trình vật lý 6 là phần mở đầu của giai đoạn 1, nên những yêu cầu về khả năng

5. Biết sử dụng ròng rọc, đòn bẩy, mặt phẳng nghiêng để đổi hướng của lực hoặc để
dùng lục nhỏ thắng được lực lớn.
b/ Phương pháp giảng dạy từng bài.
Bài 1, 2: Đo độ dài.
Cần cho học sinh phân biệt được thế nào là giới hạn đo và đọ chia nhỏ nhất, giáo viên lấy
một số loại thức như thước kẻ, thước mét để học sinh phân biệt (Học sinh hoạt động cá
nhân hay theo nhóm).
ở bài 1, 2 này cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng: "Biết ước lượng gần đúng một số đọ
dài cần đo và đo độ dài trong một số tình huống thông thường, biết tính giá trị trung bình
các kết quả đó".
Một số học sinh kiến thức bị rỗng ở Tiểu học nên giáo viên phải dạy lại kiến thức cũ.
+ Dạy lại cách đổi đơn vị đo độ dài, học thuộc dãy sau:
Km; hm; dam; m; dm; cm; mm.
1 Km = 1000 m 1 Km = 10000 dm 1 m = 10 dm.
1 Km =10 hm 1 Km = 100.000 cm 1 m = 100 cm.
1 Km = 10 dam 1 Km = 1000.000 mm 1 m = 1000 mm.
+ Hướng dẫn học sinh các tính giá trị trung bình.
Ví dụ: Đo lần 1: l
1
= 9 cm.
Đo lần 2: l
2
= 7 cm.
Đo lần 3 l
3
= 8 cm
Độ dài trung bình của 3 lần đo là:
l
1
+ l

1 ml = 1 cm
3
(1cc)
1m
3
= 1.000.000.000 mm
3
.
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách đo thể tích tính chính xác, cách đọc kết qủa khi đo.
Bài 4: Đo thể tích vật rắn không thấm nước.
Cho học sinh biết sử dụng các dụng cụ đo (bình chia độ, bình tràn) để xác định thể tích
của vật rắn có hình dạng bút chì không thấm nước.
Giáo viên cho học sinh thực hành theo các nhóm và uốn nắn cách đo thể tích và cách đọc
kết quả trong khi thực hành.
Bài 5: Khối lượng, đo khối lượng.
Giáo viên hướng dẫn học sinh biết cách đo khối lượng, nắm được đơn vị khối lượng là
Kilôgam: kg.
Biết sử dụng cân Rôbéc van, nắm được giới hạn đo và độ chia nhỏ nhất của cân Rôbét
van.
Giáo viên hướng dẫn lại cách đổi đơn vị đo khối lượng, yêu cầu học sinh học thuộc dãy
sau:
1 tấn = 10 tạ = 100 yến = 1.000 kg = 10.000 hg = 100.000 dag = 1.000.000 g
1 kg = 10 hg = 100 dag = 1.000 g v.v
1
1 mg = –––––– g ; 1 g = 1.000 mg
1.000
Lưu ý học sinh 1 héc tô gam còn gọi là 1 lạng: 1 hg (1lạng) = 100g
- Giáo viên hướng dẫn học sinh giải thích được ý nghĩa của biển báo giao thông (5 t - trên
thực tế biển báo giao thông ký hiệu là 5 T).
Bài 6: Lực - Hai lực cân bằng.

Ví dụ: Người thợ xây dùng dây dọi để xác định phương đúng của bức tường đang xây.
- Giáo viên liên hệ thực tế, phân tích từng hiện tượng để học sinh hiểu rõ hơn về trọng lực
hay trọng lượng, ví dụ: khi thả viên phấn rơi từ trên cao xuống thì đây là biến đổi chuyển
động [Từ đứng yên ( trên tay) đến chuyển động (rơi xuống đất)], viên phấn rơi xuống đất
chứng tỏ có một lực hút đã hút viên phấn xuốngđất, lực này do trái đất tác dụng lên viên
phấn, lực hút tác dụng lên vật gọi là trọng lực hay trọng lực của vật.
- Lực hút tác dụng lên viên phấn có những phương thẳng đứng và có chiều từ trên xuống
dưới. Đơn vị đo lực là Niu tơn (N).
Bài 9: Lực đàn hồi.
- Ở bài này giáo viên cho học sinh nhận biết thế nào là biến dạng đàn hồi của một lò xo.
Nêu được đặc điểm của lực đàn hồi, nêu được sự phụ thuộc của lực đàn hồi vào độ biến
dạng của lò xo. Giáo viên dùng mô hình trực quan: lò xo thật, cho học sinh quan sát và
làm thí nghiệm với lò xo theo SGK, phân tích rõ về lực đàn hồi, trong lực của vật thì
hướng về trái đất còn lực đàn hồi lò xo có xu hướng kéo lò xo về trạng thái ban đầu, hai
lực này cùng phương nhưng ngược chiều.
Theo hình vẽ : (hình a SGK) thì lực đàn hồi (F), trọng lực (P)
+ Cùng phương thẳng đứng.
+ Chiều lực đàn hồi từ dưới lên trên.
+ Chiều trọng lực từ trên xuống dưới.
Hai lực này có cùng độ lớn (2 lực cân bằng) khi lò xo đứng yên.
Theo hình b SGK thì trọng lực tăng thì lực đàn hồi tăng. Cường độ lực đàn hồi tỷ lệ thuận
với độ biến dạng của lò xo.
Bài 10: Lực kế, phép đo lực, trọng lượng và khối lượng.
ở bài này giáo viên cho học sinh nhận biết được cấu tạo của một lực kế, sử dụng được
công thức liên hệ giữa trọng lượng và khối lượng của cùng một vật để tính trọng lượng
của vật (biết khối lượng của nó), sử dụng được lực kế để đo lực.
- Giáo viên cho học sinh quan sát lực kế theo nhóm để tự tìm ra cấu tạo lực kế, giáo viên
hướng dẫn học sinh cách xác định GHĐ và ĐCNN của từng lực kế, giáo viên hướng dẫn
học sinh cách áp dụng công thức P = 10 m.
Trong đó P là trọng lượng có đơn vị là (N).

Bước 1: Đo thể tích của các phần sỏi.
Bước 3: Tính khối lượng riêng của sỏi theo công thức
m
D =
V
đơn vị kg/m
3
. Trước mỗi
lần đo thể tích của sỏi cần lau khô các hòn sỏi.
- Giáo viên yêu cầu học sinh làm báo cáo thực hành theo nhóm hay cá nhân để nộp chấm
điểm. (mẫu cáo báo thực hành trong SGK).
- Giáo viên uốn nắn trong khi thực hành.
+ Uốn nắn cách làm, cách viết báo cáo.
+ Uốn nắn ý thức thực hành.
Bài 13: Máy cơ đơn giản.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh biết làm thí nghiệm để so sánh trọng lượng của vật và lực
dùng để kéo vật trực tiếp lên theo phương thẳng đứng.
- Giáo viên yêu cầu học sinh kể tên được một số máy cơ đơn giản thường dùng (ròng rọc,
mặt phẳng nghiêng, đòn bẩy).
Bài 14: Mặt phẳng nghiêng.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh nêu được 2 thí dụ sử dụng mặt phẳng nghiêng trong cuộc
sống và chỉ số lợi ích của chúng.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh biết sử dụng mặt phẳng nghiêng hợp lý trong từng
trường.
- Giáo viên tạo hình ảnh trực quan minh hoạ thế nào là mặt phẳng nghiêng ít, thế nào là
mặt phẳng nghiêng nhiều, bằng cách tăng hay giảm chiều dài mặt phẳng và độ cao h,
càng tăng chiều dài mặt phẳng nghiêng thì độ nghiêng mặt phẳng nghiêng càng giảm (với
chiều cao là cố định). Càng giảm độ cao h thì độ nghiêng mặt phẳng nghiêng càng giảm.
(với chiều dài mặt phẳng nghiêng cố định).
- Học sinh nêu được ứng dụng của mặt phẳng nghiêng. Ví dụ: để đưa vật nặng lên ô tô

2
ở hai phía của điểm tựa 0.
+ Loại 2: là đòn bẩy với F
1
, F
2
ở cùng một phía đối với điểm tựa 0
Nếu 00
2
> 00
1
thì F
2
< F
1
Bài 16: Ròng rọc
Giáo viên hướng dẫn học sinh nêu được 2 thí dụ về sử dụng ròng rọc trong cuộc sống và
chỉ rõ được lợi ích của chúng, biết sử dụng ròng rọc trong những công việc thích hợp.
- Giáo viên phân tích cho học sinh thấy thế nào là ròng rọc
cố định (được gắn cố định trên giá), thế nào là ròng rọc động
(không gắn cố định trên giá) lợi ích của ròng rọc động và
ròng rọc cố định.
+ Ròng rọc cố định ta lợi về hướng, không được lợi về lực.
+ Ròng rọc động cho ta lợi về lực. Hệ thống gồm 1 ròng rọc
động thì được lợi 2 lần về lực, dùng 2 ròng rọc động thì được
lợi 4 lần về lực.
+ Hệ thống gồm ròng rọc động và ròng rọc cố định là Pa
lăng.
Ví dụ: Kéo nước giếng dùng ròng rọc cố định.
Kéo xô vữa lên cao dùng ròng rọc cố định.

Trong quá trình đổi mới phương pháp giáo dục, để đạt được chất lượng cao nhất trong bộ
môn Vật lý. Tôi xin có một số đề xuất như sau:
+ Nhà trường có kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo điều kiện học tập của học
sinh.
+ Cần phối hợp chặt chẽ mối quan hệ giữa gia đình - Nhà trường - Xã hội để giáo dục các
em có ý thức học tập tốt hơn.
+ Giáo viên giúp học sinh nhận thức đúng động cơ học tập của mình có ý thức hơn trong
học tập đối với tất cả các môn học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status