Phần 1: Đặt vấn đề
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do khách quan
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay ở nước ta đã
đem lại sự chuyển biến lớn trong đời sống vật chất tinh thần của con
người. Để đạt được những chuyển biến nhảy vọt đó không thể không
nhắc đến giáo dục.
Trong quá trình thực hiện công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại
hoá ở nước hiện nay, Đảng ta đã xác định “Giáo dục là quốc sách
hàng đầu”, “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề
nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
hình thành nhân cách phẩm chất, năng lực của công dân đáp ứng yêu
cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Mục tiêu giáo dục này kế thừa và
phát triển các mục tiêu được xác định từ sau Cách mạng tháng Tám
phù hợp với tình hình nhiệm vụ cách mạng mới.
Mục tiêu giáo dục nói chung được quán triệt và thể hiện cụ thể
ở tất cả các môn học và được thông qua nội dung, phương pháp của
từng môn học. Đối với bộ môn lịch sử trong nhà trường phổ thông
1
hiện nay có khả năng và sở trường không chỉ trang bị cho học sinh
kiến thức lịch sử dân tộc từ cổ đến kim, mà còn giúp cho học sinh
hình thành thế giới quan khoa học. Vì thế nhiều nước trên thế giới
xem môn lịch sử là môn học cực kì quan trọng trong nhà trường.
Trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam hiện nay lịch sử là bộ
môn có ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng tình cảm, giáo dục truyền
thống lịch sử dân tộc cho học sinh để trở thành những con người mới
nhưng trước hết phải là con người hiểu rõ lịch sử dân tộc và cội
nguồn dân tộc như Bác Hồ kính yêu đã từng nói:
" Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"
đoạn có nhiều sự kiện phức tạp, hấp dẫn thể hiện truyền thống yêu
nước của dân tộc. Nhưng đây cũng là giai đoạn lịch sử phức tạp đòi
hỏi học sinh phải nắm vững để tránh tình trạng hiểu sai, hiểu nhầm
lịch sử. Do vậy để phát huy tính tích cực trong dạy học lịch sử ở
THCS nói chung và lớp 8 nói riêng là vấn đề được nhiều người quan
tâm.
Là giáo viên trực tiếp đứng lớp dạy lịch sử lớp 8 ở THCS tôi
thấy có nhiều trăn trở, đặc biệt khi nghiên cứu về phương pháp dạy
học lịch sử ở trường phổ thông, tôi cảm thấy đây là vấn đề có ý nghĩa
lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn lịch sử ở
THCS nói chung và lớp 8 nói riêng. Chính vì lý do trên đã thôi thúc
tôi chọn đề tài này để tìm ra “Một số biện pháp phát huy tính tích cực
của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THCS”
2. Mục đích nghiên cứu
Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường phổ
thông nói chung và chất lượng giảng dạy môn lịch sử nói riêng.
Tạo điều kiện cho các em, nhất là học sinh lớp 8 khi học lịch sử
Việt Nam sẽ biết cặn kẽ, đầy đủ, toàn diện về môn học, tiếp cận môn
4
học trên những khía cạnh khác nhau.
Đề tài sử dụng cho giáo viên và học sinh THCS (Phần sách giáo
khoa đổi mới)
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp phát huy tính tích cực của
học sinh trong việc dạy học lịch sử Việt Nam ở THCS”.
Đề tài dùng cho giáo viên giảng dạy môn lịch sử Việt Nam ở
THCS, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tìm tòi, sáng tạo của
Thầy - Trò trong “Dạy - Học” lịch sử Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là học sinh lớp 8 trường
THCS Cẩm Tú năm học 2011- 2012.
hoá, khoa học, dần dần hình thành cơ sở thế giới quan duy vật biện
chứng, nhân cách đạo đức học sinh.
Qua tìm hiểu đối chứng giữa dạy học cũ (truyền thống) và
phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh nói chung
và trong dạy học lịch sử nói riêng chúng ta có thể khẳng định: Các
biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh sẽ đem lại hiệu quả cao
hơn, nó đòi hỏi cả giáo viên và học sinh phải lao động sư phạm nhiều
hơn. Phải chủ động sáng tạo tiếp thu những tinh hoa của cách dạy học
truyền thống, đồng thời mạnh dạn tìm ra, sáng tạo ra các biện pháp tổ
chức dạy học mới nhằm khắc phục sự bảo thủ thụ động một chiều
trong quá trình dạy học.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Môn lịch sử ở trường phổ thông có tác dụng to lớn đối với việc
giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử dân tộc, truyền thống dân tộc, hình
thành nên thế giới quan khoa học…Song do đặc thù của bộ môn lịch
7
sử, do một số giáo viên còn chưa thực sự hiểu sâu về phương pháp
dạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào sách giáo khoa, tức là chưa
làm chủ được kiến thức dẫn đến giờ học khô khan nhàm chán và
nặng nề. Tình trạng này đã làm mất đi tính hấp dẫn của môn lịch sử.
Hơn nữa, do tư tưởng coi môn lịch sử là “môn phụ”, học sinh “học gì
thi đấy” nên nhiều học sinh quay lưng với môn lịch sử. Quan niệm
sai lầm cho rằng học lịch sử chỉ cần trí nhớ không phải tư duy động
não, không có bài tập thực hành đã ảnh hưởng đến việc đánh giá, tổ
chức phương pháp dạy học.
Chúng ta đã có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn chứng minh
rằng môn lịch sử không phải là “môn thứ yếu”, mà nó có tầm quan
trọng đặc biệt trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Do đó việc học tập lịch
sử không chỉ học thuộc, mà phải đòi hỏi có trình độ tư duy để hiểu.
Đặc điểm của lịch sử đã chi phối tới nhận thức lịch sử. Bản thân
của học sinh giúp các em có phương pháp học tập phù hợp. Mở đầu
bài giảng giáo viên giúp học sinh thấy được mục đích yêu cầu của
bài, đưa ra một số vấn đề trong nội dung bài học, có khả năng khơi
dậy hứng thú học tập của học sinh, khiến các em khao khát muốn
được biết, kích thích tính tích cực học tập của học sinh.
Ví dụ: Bài 30: Phong trào yêu nước chống Pháp từ đầu thế kỷ
XX đến năm 1918. Mục 3: Hoạt động của Nguyễn Tất Thành sau khi
ra đi tìm đường cứu nước, giáo viên có thể khơi gợi, kích thích nhu
cầu nhận thức của học sinh như sau: “Các em theo dõi quá trình xâm
lược của thực dân Pháp đối với nước ta và phong trào chống Pháp từ
1858 đến đầu thế kỷ XX, em thấy trong bối cảnh nào Nguyễn Tất
Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước? Động lực nào thúc đẩy
Người đi tìm đường cứu nước? Tại sao Người sang phương Tây?
Ví dụ: Bài 24 Cuộc kháng chiến từ năm 1958 đến 1873… Có
thể nêu câu hỏi đầu giờ định hướng nhận thức cho học sinh, đặt các
10
em vào nhu cầu theo dõi bài giảng: “Các em đã tìm hiểu các nước Á,
Phi, Mỹ La-tinh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX hầu hết các nước trở
thành thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Việt Nam là dân
tộc yêu nước, đứng trước nguy cơ của chủ nghĩa thực dân, liệu Việt
Nam có trở thành thuộc địa của chúng?
Tuy nhiên câu hỏi giáo viên nêu ra không yêu cầu học sinh trả lời
ngay mà chỉ ra động cơ học tập cho các em. Phần này chính là tạo
tình huống có vấn đề.
3.2. Hướng dẫn học sinh một số phương pháp ghi nhớ sự kiện lịch
sử
Trong môn lịch sử thì sự kiện, hiện tượng và khái niệm lịch sử có
liên quan đến nhau và sau khi giảng một lần không còn lặp lại nữa,
bắt buộc các em phải có phương pháp ghi nhớ.
Ví dụ: Bài 26. Phong trào kháng chiến chống Pháp cuối thế
Tôn Thất Thuyết Người soạn Chiếu Cần vương.
Hoàng Hoa Thám Lãnh đạo khởi nghĩa nông dân Yên Thế.
3.3. Sử dụng sách giáo khoa nhằm phát triển tư duy học sinh
Việc sử dụng sách giáo khoa có vị trí, ý nghĩa quan trọng việc
phát huy tính tích cực trong giờ lên lớp và về nhà tự học của học sinh.
Tránh việc giáo viên đọc nội dung sách giáo khoa cho học sinh ghi
trên lớp, mà phải soạn bài giảng của mình, đồng thời chấm dứt tình
trạng học sinh thụ động học thuộc lòng trong sách giáo khoa và vở
ghi. Dĩ nhiên việc ghi nhớ chính xác những sự kiện cơ bản trong sách
giáo khoa và bài giảng của giáo viên là điều kiện không coi nhẹ trong
học tập lịch sử. Do đó cả thầy và trò cần tích cực "làm việc" với sách
giáo khoa thì mới góp phần nâng cao hiệu quả bài học.
Việc sử dụng sách giáo khoa đòi hỏi sự tích cực nỗ lực của học
sinh và giáo viên ở trên lớp, tự học ở nhà. Đồng thời cần làm tốt một
số điểm sau:
a. Sách giáo khoa để chuẩn bị bài giảng:
Trước khi soạn giáo án, cần phải nghiên cứu nội dung toàn bài
13
trong sách giáo khoa. Xác định kiến thức trọng tâm của bài, hiểu rõ
nội dung tinh thần mà tác giả mong muốn ở học sinh về giáo dục,
giáo dưỡng, phát triển.
Khi nắm được khái quát, cần đi sâu vào từng mục để tìm ra
kiến thức cơ bản của mục đó, sự liên quan của kiến thức đó với kiến
thức cơ bản của toàn bài. Mỗi mục có 2 đến 3 mục nhỏ có quan hệ
chặt chẽ với nhau. Không nên dàn đều về mặt thời gian mà xác định
đâu là kiến thức cơ bản, đâu là kiến thức lướt qua. Mỗi bài cần xác
định rõ góp phần cụ thể về mặt nội dung, tư tưởng, kỹ năng, kỹ xảo,
tức là ở cuối bài giáo viên phải xác định được cần cung cấp kiến thức
gì, giáo dục tư tưởng tình cảm, kỹ năng cần rèn.
Ba Đình
Bãi Sậy
Hương Khê
Yên Thế
Khi được giao những công việc cụ thể các em phải hoàn thành và
phải học tập một cách sáng tạo độc lập.
3.4. Sử dụng hệ thống câu hỏi để phát huy tính tích cực
a. Nêu câu hỏi đầu giờ
Khi bắt đầu giờ học, giáo viên có thể kiểm tra hoặc không kiểm
tra. Trước khi cung cấp kiến thức mới, có thể nêu câu hỏi định hướng
nhận thức cho học sinh. Câu hỏi loại này thường có tính chất bài tập,
trả lời được phải huy động kiến thức toàn bài.
Câu hỏi đầu giờ có hai tác dụng lớn:
- Thứ nhất: Xác định nhiệm vụ nhận thức của học sinh trong giờ
học.
- Thứ hai: Hướng dẫn học sinh vào kiến thức trọng tâm của bài
huy động cao nhất các hoạt động của giác quan học sinh trong quá
trình học tập: nghe, nhìn, kết hợp với tư duy có định hướng. Tuy
nhiên đặt câu hỏi không yêu cầu học sinh trả lời ngay, mà chỉ khi học
16
sinh học song bài mới thì mới có thể trả lời được.
Ví dụ: Bài 28. Trào lưu cải cách duy tân ở Việt Nam nửa
cuối thế kỷ XIX giáo viên có thể đưa ra câu hỏi lớn : Đứng trước
nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây, Nhật Bản đã
tiến hành cải cách - cải cách đã giúp Nhật Bản thoát khỏi là thuộc địa
và trở thành nước công nghiệp phát triển. Vậy đứng trước nguy cơ xâm
lược của thực dân Pháp, các sỹ phu yêu nước Việt Nam có yêu cầu phải
cải cách duy tân không? Và nội dung, kết cục của cải cách đó như thế
nào? Sau khi học xong bài học hôm nay các em sẽ có câu trả lời.
b. Xây dựng hệ thống câu hỏi ở trên lớp
sau :
a. Sử dụng bản đồ
Trên bản đồ lịch sử các sự kiện được thể hiện trong một không
gian, thời gian , địa điểm cùng chung một số yếu tố địa lý nhất định,
nên kết hợp với lời nói sinh động để tạo biểu tượng .
Ví dụ: Mục II. Những cuộc khởi nghĩa lớn trong phong trào
Cần Vương. Bài 26- 1: Khởi nghĩa Ba Đình, giáo viên treo lược đồ
giới thiệu công sự Ba Đình nằm trong 3 làng Thượng Thọ, Mậu
Thịnh, Mỹ Khê mỗi làng có một cái đình, đứng ở đình làng này có
thể quan sát được đình ở làng kia. Vị trí của Ba Đình án ngữ đường
số 1 có thể tiếp tế lương thực bằng đường biển các công sự và hầm
chiến đấu kiên cố, nổi trên vùng nước mênh mông lầy lội có lợi cho
phòng thủ chiến đấu, quân Pháp nếu tấn công sẽ gặp rất nhiều khó
khăn. Song điểm yếu nhất của căn cứ là dễ bị cô lập, nếu quân Pháp
dùng lực lượng tấn công, bao vây, nghĩa quân sẽ khó rút lui.
Việc sử dụng bản đồ lịch sử góp phần phát triển khả năng quan
sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ, đặc biệt kỹ năng đọc bản đồ,
củng cố thêm kiến thức địa lý.
19
Lược đồ: Công sự phòng thủ Ba Đình
b. Sử dụng chân dung nhân vật lịch sử
Sử dụng chân dung nhân vật lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng
trong dạy học lịch sử góp phần giáo dục, giáo dưỡng, phát triển tư
duy năng lực của học sinh. Chân dung nhân vật có hai loại là chính
diện và phản diện.
Qua việc sử dụng chân dung nhân vật lịch sử học sinh học tập
được đạo đức, tài trí từ đó rèn luyện theo tấm gương nhân vật chính
diện. Còn nhân vật phản diện cần hướng dẫn học sinh nhận xét những
biểu hiện tính gian ác, tham lam, xảo quyệt của nhân vật.
Khi sử dụng chân dung phải phân tích, giải thích, định hướng
thích một cách khái quát, rút ra những kết luận lịch sử, nhờ những
việc làm thường xuyên như vậy mà các thao tác tư duy được rèn
22
luỵên, khả năng phát huy trí thông minh, sáng tạo của học sinh ngày
càng nâng cao.
3.6. Kết quả và số liệu đối chứng
- Dạy bài: Phong trào yêu nước chống Pháp từ đầu thế kỷ XX đến
năm 1918 ở 2 lớp 8A, 8B Trường THCS Cẩm Tú.
- Lớp 8A: Dạy theo phương pháp truyền thống.
- Lớp 8B: Dạy theo hướng áp dụng một số biện pháp phát huy
tính tích cực trong dạy học lịch sử.
- Kết quả thu được như sau:
Lớp áp dụng phương pháp phát huy tính tích cực.
Lớp/ Sĩ
số
Giỏi khá Trung bình Yếu kém
Số
lượng
% Số
lượng
% Số
lượng
%
8B/30 23 76,6 7 23,3 0 0
Lớp áp dụng phương pháp truyền thống.
Lớp /Sĩ số
Giỏi khá Trung bình Yếu kém
Số
lượng
cũng có nét riêng làm cho học sinh biết những sự kiện cơ bản và hiểu
sâu sắc quá khứ, theo quy luật, từ đó hành động đúng và định hướng
đúng trong hiện tại và tương lai.
Vì vậy, việc xác định hệ thống phương pháp dạy học lịch sử
không chỉ quán triệt, thực hiện mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục ,
25