Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
MỤC LỤC
3.1.Ph ng h ng ho n thi n:ươ ướ à ệ 92
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
DANH MỤC BẢNG BIỂU
d. Quy trình ghi sổ 78
Bảng 2.15 86
3.1.Ph ng h ng ho n thi n:ươ ướ à ệ 92
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá với mục tiêu
tới năm 2020 sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Cùng với đó là rất
nhiều công trình, hạng mục công trình với quy mô lớn và hiện đại đang được đầu
tư xây dựng trên khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước. Điều này mở ra nhiều
cơ hội song cũng đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp trong ngành xây
lắp. Sự canh tranh gay gắt của môi trường kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp
phải luôn chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu
là có lãi và tạo chỗ đứng trên thị trường. Để thực hiện được những yêu cầu đó,
các đơn vị phải quan tâm tới tất cả các khâu trong quá trình sản xuất từ khi bỏ
vốn ra đến khi thu hồi vốn về bằng cách thực hiện tổng hoà nhiều biện pháp,
trong đó biện pháp quan trọng hàng đầu không thể thiếu được là thực hiện quản
lý kinh tế trong mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải
quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất, tính toán chính xác giá thành sản phẩm thông
qua bộ phận kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm để giúp
nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp phân tích đánh giá được tình hình sử dụng
các nguồn lực của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, tiết kiệm hay lãng phí,
tình hình thực hiện kế hoạch giá thành như nào. Từ đó đề ra các biện pháp hữu
hiệu nhằm hạ thấp chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm và đề ra các quyết
sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.
Chương 2: Thực trạng kế toán tậpi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại chi xí nghiệp xây lắp 61.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại chi nhánh Công ty cổ
phần đầu tư và xây lắp Thành An 665- Xí nghiệp xây lắp 61.
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
4
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP
1.1. Cơ sở lý luận về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
1.1.1. Đặc điểm sản xuất xây lắp và ảnh hưởng của nó đến công tác hạch
toán kế toán của đơn vị xây lắp.
Kết quả cuối cùng của mỗi hoạt động sản xuất công nghiệp là tạo ra được
sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, và hoạt động xây lắp cũng
không ngoài nguyên tắc ấy. Kết quả cuối cùng của hoạt động xây lắp thường
là công trình và hạng mục công trình như nhà cửa, vật kiến trúc Tuy nhiên,
hạch toán kế toán trong hoạt động xây lắp có khác biệt so với các hạt động
khác vì sản phẩm xây lắp thường khác biệt với sản phẩm công nghiệp đơn
thường ở các điểm:
- Sản xuất xây lắp là một loại sản xuất công nghiệp đắc biệt theo đơn đặt
hàng, là các công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp và mang
tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài, trình độ kỹ thuật, thẩm mĩ cao. Do vậy
việc tổ chức quản lý phải nhất thiết có dự toán, thiết kế và thi công. Trong suốt
quá trình xây lắp, giá dự toán sẽ trở thành thước đo hợp lý hạch toán các khoản
chi phí và thanh quyết toán các công trình và kế toán cũng phải tính đến việc
theo dõi ghi nhận chi phí, tính giá thành và tính kết quả thi công cho từng sản
phẩm riêng biệt hoặc từng nhóm sản phẩm xây lắp nếu chúng được xây dựng
thành nhiều công việc khác nhau. Quá trình xây lắp được thực hiện trên các địa
điểm biến động nhưng sản phẩm xây lắp lại mang tính chất cố định khiến cho
sản phẩm không được nhập kho mà tiêu thụ tại chỗ thông qua việc bàn giao sản
phẩm cho khách hàng
Tóm lại từ những đặc điểm trên, đòi hỏi công tác kế toán vừa phải đáp ứng
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
6
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
những yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán một Doanh nghiệp sản
xuất vừa phải đảm bảo phù hợp đặc trưng riêng của ngành xây dựng cơ bản
(XDCB) nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, cố vấn lãnh đạo cho việc
tổ chức quản lý để đạt hiệu quả cao trong sản hoạt động SXKD của doanh
nghiệp.
1.1.2. Yêu cầu của kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Nền kinh tế thị trường với những đổi mới thực sự trong cơ chế quản lý kinh
tế - tài chính đã khẳng định vai trò, vị trí của kế toán trong quản trị doanh
nghiệp. Bằng những số liệu cụ thể, chính xác, khách quan và khoa học, kế toán
được coi là một công cụ để điều hành, quản lý các hoạt động, tính toán hiệu quả
kinh tế và kiểm tra bảo vệ, sử dụng tài sản vật tư, tiền vốn nhằm đảm bảo quyền
chủ động trong SXKD và tự chủ về tài chính. Trong đó vai trò kế toán chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm cũng không kém phần quan trọng. Thông qua số
liệu hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành do bộ phận kế toán cung cấp,
các nhà lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giá thành thực tế
từng công trình, hạng mục công trình (CT, HMCT) để phân tích và đánh giá tình
hình thực hiện các định mức, dự toán chi phí, tình hình sử dụng lao động, vật tư,
tiền vốn, tiết kiệm hay lãng phí, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản
phẩm, từ đó đề ra các biện pháp hữu hiệu kịp thời nhằm hạ thấp chi phí và giá
thành sản phẩm xây lắp đồng thời đảm bảo được yêu cầu kĩ thuật của sản phẩm.
Do đó kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp phải đáp
ứng các yêu cầu:
toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các hao phí cần thiết khác
mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động xây lắp trong một thời kì
nhất định.
1.1.3.2. Phân loại chi phí sản xuất
Trong XDCB, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế,
công dụng và yêu cầu quản lý đối với từng loại khác nhau. Việc quản lý chi phí,
không chỉ dựa vào số liệu tổng hợp mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
8
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
loại chi phí theo từng công trình và hạng mục công trình. Do đó, phân loại chi
phí sản xuất là một yêu cầu tất yếu để hạch toán chính xác chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm
a. Theo yếu tố chi phí: Căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí để sắp xếp
những chi phí có nội dung kinh tế ban đầu giống nhau vào cùng một nhóm chi
phí. Cách phân loại này không phân biệt nơi chi phí phát sinh và mục đích sử
dụng của chi phí. Mục đích của cách phân loại này để biết được chi phí sản xuất
của doanh nghiệp gồm những loại nào, số lượng, giá trị từng loại chi phí là bao
nhiêu. Theo quy định hiện hành, toàn bộ chi phí sản xuất gồm các yếu tố:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: gồm toàn bộ giá trị các loại nguyên
liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu, thiết bị XDCB… mà doanh nghiệp
đã thực sự sử dụng cho hoạt động sản xuất
- Yếu tố chi phí nhân công: Là toàn bộ số tiền lương tiền công phải trả,
tiền trích bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công
đoàn (KPCĐ), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của công nhân viên chức trong
doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ): Là toàn bộ giá trị khấu
hao phải trích của các TSCĐ sử dụng trong doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải
trả về các dịch mua từ bên ngoài như tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại phục vụ
Chi phí tiếp khách, nghiệm thu bàn giao công trình.
Cách phân loại này phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định
mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm và phân tích tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành, từ đó lập định mức chi phí sản xuất và kế
hoạch giá thành cho kỳ sau.
c. Phân loại chi phí theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất vào các đối
tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành hai loại:
Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
10
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp đến từng
đối tượng sử dụng chi phí, từng công việc nhất định.
Do đó, kế toán có thể căn cứ vào số liệu chứng từ gốc để hạch toán trực tiếp
cho từng đối tượng liên quan.
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đối
tượng sử dụng chi phí, nhiều công việc,…
Với những chi phí này kế toán phải tiến hành phân bổ cho các đối tượng có
liên quan theo một tiêu thức phân bổ nhất định.
d. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với
khối lượng hoạt động
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng chia
thành hai loại: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp.
- Biến phí: là những chi phí có sự thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi về
khối lượng công việc hoàn thành như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp. Khi tính cho một đơn vị sản phẩm biến phí này không thay
đổi do đó doanh nghiệp sản xuất càng nhiều sản phẩm thì chi phí này càng lớn.
- Biến phí: là những chi phí không thay đổi trong phạm vi phù hợp khi mức
độ hoạt động kinh doanh thay đổi. Định phí trên một đơn vị sản phẩm thay đổi
dụng để tổng hợp và phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố, theo khoản mục
trong phạm vi giới hạn của kế toán chi phí sản xuất. Tuỳ theo từng loại chi phí
và điều kiện cụ thể kế toán chi phí sản xuất có thể vận dụng các phương pháp kế
toán chi phí sau:
Phương pháp hạch toán chi phí trực tiếp theo từng công trình, hạng mục
công trình: áp dụng khi các chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp đến từng công
trình, hạng mục công trình riêng biệt. Phương pháp này đòi hỏi việc ghi chép,
tập hợp chi phí sản xuất theo từng đối tượng chịu chi phí nên đảm bảo độ chính
xác cao.
Phương pháp hạch toán chi phí trực tiếp theo đơn đặt hàng: áp dụng khi
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
12
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo đơn đặt hàng, mỗi đơn đặt hàng sẽ có một
đối tượng kế toán chi phí sản xuất riêng. Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng
chi phí được tập hợp theo đơn đặt hàng đó chính là giá thành thực tế.
Phương pháp phân bổ gián tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình:
áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên quan tới nhiều đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất mà không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng rẽ
theo từng đối tượng được. Do đó phải tập hợp chi phí sản xuất chung cho nhiều
công trình, hạng mục công trình, sau đó chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để
phân bổ khoản chi phí này cho từng công trình, hạng mục công trình.
Việc tính toán phân bổ gồm 2 bước:
+ Tính hệ số phân bổ:
Hệ số
phân bổ
=
Tổng chi phí cần phân bổ
Tổng tiêu chuẩn dùng phân bổ
+ Phân bổ chi phí cho từng đối tượng có liên quan:
công trình, công trình hoàn thành.
1.1.4.3. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Việc tính giá thành sản phẩm xây lắp là rất phức tạp, có nhiều loại giá thành
xây lắp khác nhau, tuỳ theo căn cứ để xác định.
a. Căn cứ vào thời điểm tính giá thành
- Giá thành dự toán: Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành sản phẩm xây
lắp. Giá thành dự toán được xây dựng trên cơ sở các định mức và đơn giá chi phí
do Nhà nước quy định. Giá thành dự toán nhỏ hơn giá trị dự toán ở phần thu
nhập chịu thuế tính trước và thuế giá trị gia tăng đầu ra:
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xây dựng trên cơ sở những điều
kiện cụ thể của doanh nghiệp về các định mức, đơn giá, biện pháp tổ chức thi
công. Giá thành kế hoạch thường nhỏ hơn giá thành dự toán xây lắp ở mức hạ
giá thành kế hoạch.
- Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế phát
sinh để hoàn thành sản phẩm xây lắp. Giá thành này được tính trên cơ sở số liệu
kế toán chi phí sản xuất đã tập hợp được cho sản phẩm xây lắp thực hiện trong
kỳ. Giá thành công trình xây lắp bao gồm cả giá trị vật kết cấu, giá trị thiết bị
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
Giá trị dự toán
công trình
=
Giá thành
dự toán
công trình
Thu nhập
chịu thuế
tính trước
Thuế giá trị
gia tăng đầu
ra
- Giá thành toàn bộ của công trình xây lắp hoàn thành bàn giao: Là giá
thành xây lắp toàn bộ cộng các chi phí về bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp tính cho sản phẩm xây lắp đã bàn giao.
1.1.4.4. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
Để tính giá thành sản phẩm xây lắp có thể áp dụng nhiều phương pháp khác
nhau và áp dụng phương pháp nào tuỳ thuộc vào đối tượng hạch toán chi phí và
tính giá thành sản phẩm xây lắp
a. Tính giá thành sản phẩm xây lắp theo phương pháp giản đơn
Áp dụng trong trường hợp đối tượng tính giá thành là CT, HMCT hoặc khối
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
15
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
lượng, giai đoạn xây lắp thuộc từng CT, HMCT hoàn thành.
Trường hợp đối tượng tính giá thành là CT, HMCT hoàn thành thì giá thành
được xác định trên cơ sở tổng cộng chi phí phát sinh từ khi khởi công đến khi
hoàn thành.
Trường hợp đối tượng tính giá thành là khối lượng, giai đoạn xây lắp thuộc
CT, HMCT hoàn thành thì giá thành được tính theo công thức:
b. Tính giá thành sản phẩm xây lắp theo đơn đặt hàng
Áp dụng trong trường hợp đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng.
Trong mỗi đơn đặt hàng có thể là một CT, HMCT hoặc có thể gồm nhiều
HMCT.
Mỗi một đơn đặt hàng ngay từ khi bắt đầu thi công được mở một phiếu tính
giá thành để tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh và khi sản phẩm xây lắp theo
đơn đặt hàng hoàn thành thì tập hợp các khoản chi phí phát sinh luỹ kế từ khi
khởi công đến khi hoàn thành là giá thành của đơn đặt hàng, còn trường hợp đơn
đặt hàng chưa hoàn thành thì đó là giá trị sản phẩm xây lắp dở dang.
Trường hợp đơn đặt hàng bao gồm nhiều HMCT thì sau khi tính giá
thành cho đơn đặt hàng hoàn thành, tiến hành tính giá giá thành thực tế của
các HMCT đó.
ở nhiều tổ đội sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ. Khi đó đối tượng kế toán chi
phí sản xuất là các tổ đội tham gia thi công công trình còn đối tượng tính giá
thành là cả công trình, hạng mục công trình. Theo phương pháp này giá thành
sản phẩm xây lắp được xác định:
Z = Z
1
+ Z
2
+ … + Z
n
+ D
dk
- D
ck
Trong đó: Z là giá thành thực tế của toàn bộ công trình
Z
1
, Z
2
,…, Z
n
là chi phí xây lắp ở các tổ đội sản xuất hay các giai
đoạn công nghệ
Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các phương pháp tính giá thành
sản phẩm khác như phương pháp tính giá thành theo định mức, phương pháp hệ
số, phương pháp tỷ lệ, ….
1.2. Kế toán các loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
1.2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
a. Nội dung chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là khoản mục chi phí chiếm tỷ trọng lớn
theo hệ số, trọng lượng, số lượng sản phẩm… Công thức phân bổ như sau:
b. Chứng từ sử dụng
- Hoá đơn bán hàng, hoá đơn thuế giá trị gia tăng
- Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho
- Giấy đề nghị tạm ứng, phiếu chi
- Bảng kê chứng từ nhập, xuất NVL…
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
Tiêu thức
phân bổ
của từng
đối tượng
Tổng chi phí vật liệu cần phân bổ
Tổng tiêu thức lựa chọn để phân bổ cho
các đối tượng
=
×
Chi phí
vật liệu
phân bổ
cho từng
đối tượng
18
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
c. Tài khoản sử dụng
Trong kế toán NVL trực tiếp đối với sản phẩm xây lắp, tài khoản sử dụng
chủ yếu là tài khoản chi phí NVL trực tiếp (tài khoản 621) theo quyết định số
15/2006/QĐ-BTC.
Kết cấu: Bên nợ: Trị giá gốc thực tế của NVL sử dụng trực tiếp cho sản
xuất sản phẩm xây lắp.
Bên có: Trị giá NVL sử dụng không hết nhập kho; kết chuyển chi phí
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
1.2.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
a. Nội dung chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí về tiền lương, tiền công phải
trả cho số ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện công tác xây lắp
(kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi mặt bẳng thi công
và công nhân chuẩn bị, kết thúc thu dọn hiện trường thi công) không phân biệt
công nhân trong danh sách hay thuê ngoài. Chi phí nhân công trực tiếp được
hạch toán cho từng CT, HMCT đội xây dựng. Trong trường hợp không tính chi
phí nhân công trực tiếp theo đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá
thành thì phải phân bổ chi phí nhân công trực tiếp theo tiền lương định mức.
Khác với các doanh nghiệp, khoản mục chi phí này không bao gồm các khoản
trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN.
b. Chứng từ sử dụng
Trong kế toán chi phí nhân công trực tiếp thường sử dụng các chứng từ chủ
yếu sau:
- Bảng chấm công
- Phiếu xác nhận công việc hoàn thành
- Bảng thanh toán tiền lương, bảng tổng hợp thanh toán tiền lương
- Phiếu tạm ứng, phiếu chi…
c. Tài khoản sử dụng
Tài khoản sử dụng để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp là tài khoản chi
phí nhân công trực tiếp (TK 622)
Bên nợ: Chi phí nhân công trực tiếp tham gia quá trình xây lắp.
Bên có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành.
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
20
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
Tài khoản này được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình
21
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh
dụng máy thi công.
b. Chứng từ sử dụng
Trong kế toán chi phí máy thi công sử dụng các chứng từ:
- Bảng kê thời gian sử dụng máy thi công
- Hợp đồng thuê máy thi công
- Bảng phân bổ chi phí khấu hao máy thi công
- Phiếu chi, bảng thanh toán tiền lương của đội máy thi công…
c. Tài khoản sử dụng
Theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, kế toán sử dụng tài khoản Chi phí sử
dụng máy thi công (TK 623). Tài khoản này được sử dụng để tập hợp và phân bổ
chi phí sử dụng máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp và áp dụng
tại doanh nghiệp tổ chức thi công hỗn hợp (vừa thi công thủ công, vừa thi công
bằng máy). Các khoản trích theo lương của công nhân sử dụng máy thi công
không được hạch toán vào tài khoản này. Tài khoản chi phí sử dụng máy thi
công có các tài khoản cấp 2 sau:
- TK 6231: TK chi phí nhân công
- TK 6232: TK chi phí vật liệu
- TK 6233: TK chi phí dụng cụ
- TK 6234: TK chi phí khấu hao máy thi công
- TK 6237: TK chi phí dịch vụ mua ngoài
- TK 6238: TK chi phí bằng tiền khác
d. Phương pháp kế toán
Doanh nghiệp xây lắp có thể có đội máy thi công có hoặc không tổ chức
bộ máy kế toán riêng, do đó tùy từng hình thức tổ chức kế toán của đội máy kế
toán mà doanh nghiệp xây lắp có phương pháp hạch toán riêng. Bao gồm các
trường hợp sau:
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
22
doanh nghiệp không tổ chức đội máy thi công riêng biệt
1.2.4. Kế toán chi phí sản xuất chung
a. Nội dung chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung tại doanh nghiệp xây lắp bao gồm các khoản chi phí
phát sinh trong quá trình thi công xây lắp các công trường xây dựng. Đó là các
chi phí có liên quan tới việc tổ chức, phục vụ và quản lý hoạt động thi công xây
lắp không bao gồm các chi phí về chi nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp và chi phí sử dụng máy thi công nhưng lại bao gồm cả các khoản
Nguyễn Thị Linh Chi Lớp: KTDNG – K11
TK 111,142,152,153 TK 623 TK 154
TK 133
DC,VLSX phục vụ
máy thi công
Thuế GTGT được
khấu trừ
TK 334
Lương công nhân điều
khiển máy thi công
TK 214, 335
Khấu hao, sửa chữa lại
máy thi công
TK 111, 112
TK 133
Chi phí bằng tiền khác
Thuế GTGT
được khấu trừ
Kết chuyển, phân bổ
máy thi công
24
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Diệu Linh