LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, quá trình CNH – HĐH và đô thị hoá
đất nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với đó là nhu cầu về nguyên vật liệu cho xây
dựng các khu đô thị, khu công nghiệp và các công trình xây dựng dân dụng nói chung
ngày càng tăng. Trong các loại nguyên vật liệu thì gạch đất sét nung là loại vật liệu
không thể thiếu trong các công trình xây dựng vì gạch là loại vật liệu tạo nên hình dáng
cấu trúc ban đầu cho các công trình đồng thời nó còn tạo nên sự bền vững cho các công
trình đó
Tiêu thụ sản phẩm là hoạt động có ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh vì vậy tiêu thụ sản phẩm đã trở thành một trong những khâu quan
trọng mà các DN phải đặc biệt quan tâm. Trong tình trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt
như hiện nay các DN buộc phải năng động sáng tạo tìm ra các biện pháp tốt, phù hợp đẩy
mạnh TTSP của DN, như vậy mới đảm bảo cho sự tồn tại.
Trong thực tế, không ít những SP của một số DN rất tốt nhưng tiêu thụ lại rất
chậm, thậm chí không tiêu thụ được do không biết cách tổ chức TTSP. Do vậy, TTSP là
công việc vô cùng khó khăn đòi hỏi các DN phải suy nghĩ và tìm ra các biện pháp phù
hợp, khoa học để đẩy mạnh việc TTSP của DN mình.
Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải có ngành nghề là SXKD các loại
gạch đất sét nung. Từ sau khi cổ phần hoá năm 2005 đến nay, công ty đã đạt được nhiều
thành tựu và cố gắng vươn lên giành vị thế trên thị trường. Tuy nhiên, công ty vẫn gặp
nhiều khó khăn đặc biệt trong công tác TTSP. Vậy những thành tựu mà công ty đã đạt
được là gì và những khó khăn trong công tác TTSP mà công ty đang gặp phải là gì?
Xuất phát từ lý luận và thực tế của công ty, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở công ty cổ phần đầu tư
và xây dựng Tiền Hải”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
iv
Tổng hợp những lý luận cơ bản về TTSP nói chung và TTSP gạch đất sét nung
nói riêng, trên cơ sở đó phân tích và đánh giá thực trạng tình hình TTSP gạch đất sét
gồm các sách, báo, tạp chí, nghị quyết, các công trình đã được xuất bản. Ngoài ra tôi
còn tham khảo các kết quả nghiên cứu đã được công bố của các nghiên cứu sinh.
Những tài liệu này được thu thập bằng cách sao chép, đọc, trích dẫn tài liệu tham khảo.
4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho việc tính toán các chỉ tiêu phân tích
để thực hiện nội dung nghiên cứu đề tài. Số liệu sơ cấp được thu thập từ các báo cáo
như báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tổng kết, báo cáo kế hoạch…
Những báo cáo này lấy từ các phòng ban của công ty như phòng kinh doanh, phòng kế
toán, phòng tổ chức hành chính…
Bên cạnh đó chúng tôi còn tiến hành điều tra trực tiếp một số khách hàng là
những DN đang thi công các công trình xây dựng và các khách hàng mua SP trực tiếp
của công ty trên cơ sở xác định các mẫu điều tra có tính chất đại diện.
Phương pháp điều tra
Chọn điểm điều tra: Chúng tôi tập trung điều tra tình hình TTSP gạch đất sét
nung của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải trên địa bàn huyện Tiền Hải vì
đây là thị trường tiêu thụ chính của công ty, ở đây công ty có lượng tiêu thụ lớn nhất.
Cụ thể, chúng tôi tiến hành điều tra ở 20 công trình xây dựng đang sử dụng Sản phẩm
của công ty.
4.3 Phương pháp phân tích
4.3.1 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Là phương pháp tham khảo ý kiến chuyên môn của cán bộ lãnh đạo công ty như
giám đốc, phó giám đốc; cán bộ phòng kinh doanh; cán bộ kỹ thuật của công ty để có
thêm kiến thức và kinh nghiệm bổ ích trong việc đánh giá nhìn nhận hiện tượng.
4.3.2 Phương pháp so sánh
So sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được
lượng hoá có cùng một nội dung, tính chất tương tự để xác định xu hướng mức độ biến
động của chỉ tiêu. Trên cơ sở đó đánh giá được mặt phát triển hay yếu kém, hiệu quả
hay không hiệu quả để tìm ra giải pháp trong từng trường hợp
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
vi
(Phạm Văn Hùng, 2008)
5. Kết cấu của chuyên đề:
Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Thực trạng TTSP gạch đất sét nung tại công ty CP đầu tư và xây lắp
Tiền Hải.
Chương 3: Một số giải pháp - Kiến nghị.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
vii
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài
1.1.1 Một số lý luận cơ bản về thị trường
1.1.1.1 Khái niệm thị trường
Thị trường là một khái niệm được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác khau, tuy
nhiên nó luôn gắn với sản xuất hàng hoá. Đã có nhiều lĩnh vực đề cập đến khái niệm thị
trường:
Theo quan điểm kinh tế vĩ mô: Thị trường là nơi chứa đựng tổng cung và tổng cầu.
Theo quan điểm kinh tế cho rằng: Thị trường gồm tất cả các người mua, người
bán có hoạt động trao đổi với nhau các hàng hoá hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu cho
nhau.
Theo Marketing phát triển định nghĩa thị trường như sau: Thị trường bao gồm tất
cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và
có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó (Nguyễn Nguyên
Cự, 2005).
1.1.1.2 Chức năng của thị trường
* Chức năng thừa nhận: Hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào việc sản phẩm hay
dịch vụ của các DN có được thị trường thừa nhận hay không. Nói cách khác sản phẩm,
dịch vụ được thị trường thừa nhận là điều kiện chúng thực hiện được giá trị của mình.
Thị trường thừa nhận các nội dung sau:
Thị trường thừa nhận chủng loại và cơ cấu chủng loại hàng hoá
Tiêu thụ SP là giai đoạn cuối cùng của quá trình SXKD, là yếu tố quyết định đến
sự tồn tại và phát triển của DN bởi có tiêu thụ được thì mới thực hiện được quá trình tái
sản xuất.
1.1.2.2 Vai trò của TTSP đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành qua nhiều khâu kế tiếp nhau, mỗi
khâu có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời với các khâu khác. Các khẩu của hoạt
động sản xuất kinh doanh được ví như một mắt xích trong cả một hệ thống mắt xích
nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đựơc trơn tru. Mắt xích này được gắn
liền với mắt xích kia tạo ra sự chuyển động liên tục và cái này là tiền đề, bổ trợ cho cái
kia. TTSP là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, song nó lại rất quan trọng, cũng
có khi giữ vai trò quyết định các vấn đề trong quá trình tồn tại và phát triển của DN.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
ix
TTSP là khâu quyết định sự thành bại của DN. Lợi nhuận trong sản xuất kinh
doanh thu đựơc thông qua việc bán hàng do đó tiêu thụ là khâu quan trọng chi phối các
khâu nghiệp vụ khác. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN đòi hỏi phải được diễn
ra liên tục và nhịp nhàng giữa các chu kỳ kinh doanh khác. Hiệu quả kinh doanh đựơc
đánh giá bởi nhiều nhân tố trong đó có tốc độ quay vòng vốn. Tốc độ quay vòng vốn lại
phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tiêu thụ lại là tấm gương để phản chiếu tình hình kinh
doanh của các DN.
TTSP là khâu hết sức quan trọng đối với bản thân mỗi DN và đối với toàn bộ nền
kinh tế quốc dân. Thông qua tiêu thụ, tính hữu ích của sản phẩm mới được xác nhận một
cách hoàn toàn. Có tiêu thụ đựơc hàng hoá thì mới thu hồi được vốn có nghĩa là tăng
nhanh số lượng tiêu thụ là tăng nhanh vòng quay của vốn và lãi suất phải trả cho việc
vay vốn. Sau quá trình tiêu thụ DN không những thu tổng số tiền liên quan đến hoạt
động sản xuất kinh doanh mà còn thực hiện được giá trị lao động thặng dư, thể hiện
được ở mức thu nhập thuần tuý của bản thân DN và của Nhà nước. Thông qua tiêu thụ,
lợi nhuận của DN được thực hiện đó là nguồn cơ bản nhằm bổ sung vào nguồn vốn tự
có của DN, giúp DN hình thành các quỹ của mình… Ngoài ra, TTSP tốt sẽ góp phần
thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội. Bới vì tổ chức tốt quá trình TTSP tức là
Vị thế của DN trên thị trường biểu hiện ở phần trăm doanh số hoặc số lượng
hàng hoá được bán ra so với số lượng hàng hoá của toàn bộ thị trường, con số này càng
lớn thì vị thế của DN càng lớn. Do đó TTSP có ý nghĩa quyết định đến vị thế của DN
trên thị trường. Tuy nhiên, để có được vị thế lớn trên thương trường trong điều kiện
cạnh tranh gay gắt như hiện nay là rất khó khăn, nó đòi hỏi DN phải hết sức có gắng tận
dụng mọi thời cơ, cơ hội và vị thế của mình để dành lấy thị trường có như vậy mới đảm
bảo chiến thắng trong cạnh tranh.
* Mục tiêu an toàn
Hàng hoá là những vật phẩm được sản xuất ra để bán. Đối với các DN, sản phẩm
sau khi được sản xuất ra phải đem đi bán trên thị trường để thu tiền về thì DN mới có
khả năng tái sản xuất và quá trình kinh doanh mới diễn ra liên tục được. Nếu không bán
được hàng thì sẽ ứ đọng vốn và thua lỗ kéo dài sẽ dẫn tới phá sản. Vì vậy, TTSP sẽ giúp
cho quá trình kinh doanh được diễn ra liên tục và có hiệu quả nhằm đảm bảo an toàn
cho kinh doanh của DN.
* Mục tiêu đảm bảo tái sản xuất liên tục
Quá trình tái sản xuất đảm bảo gồm bốn khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu
dùng. Quá trình này chỉ diễn ra liên tục khi các khâu của nó diễn ra trôi chảy, nhẹ nhàng.
TTSP nằm trong khâu phân phối và trao đổi do đó nó là một bộ phận hữu cơ của quá
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xi
trình tái sản xuất. Mặt khác, khi tái sản xuất diễn ra liên tục lại giúp cho các hoạt động
tiêu thụ diễn ra liên tục, tạo ưu thế trong cạnh tranh và mở rộng thị trường
1.1.2.4 Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
a. Nghiên cứu thị trường:
Nghiên cứu thị trường nhằm trả lời các câu hỏi: Sản xuất những sản phẩm gì?
Sản xuất như thế nào? Sản phẩm bán cho ai?
Cụ thể hơn là hoạt động điều tra, nghiên cứu xác định nhu cầu thị trường về các sản
phẩm hàng hóa kinh doanh để từ đó xác định được thị trường đang cần những sản phẩm
nào, đặc điểm dinh tế- kỹ thuật của nó ra sao, khả năng tiêu thụ về sản phẩm đó như thế
nào? Từ đó lựa chọn sản phẩm để doanh nghiệp tiến hành sản xuất.
Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, doanh nghiệp cần phải phân tích, đánh giá hoạt động
tiêu thụ sản phẩm nhằm xem xét khả năng mở rộng hay thu hẹp thị trường tiêu thụ, hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các nguyên nhân ảnh hưởng đến
kết quả tiêu thụ...nhằm kịp thời có các biện pháp thích hợp để thúc đẩy quá trình tiêu thụ
sản phẩm.
Đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ có thể xem xét trên các khía cạnh như: tình
hình tiêu thụ sản phẩm theo khối lượng, mặt hàng, trị giá, thị trường và giá cả các mặt
hàng tiêu thụ.
1.1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến TTSP
a. Các yếu tố thuộc môi trường ngành
Khách hàng: Để đẩy mạnh được quá trình TTSP, DN cần thiết phải hiểu được
các nhu cầu khách hàng hiện có hoặc tiềm ẩn, tâm lý hay hành vi tiêu dùng của họ đều
có thể khêu gợi, đáp ứng thoả mãn, thu hút họ.
Nhà cung cấp nguyên vật liệu: Đây là các công ty chuyên cung cấp các dầu vào
cho DN và cho đối thủ cạnh tranh.
Đối thủ cạnh tranh: Để có thể tồn tại, mở rộng thị trường sản phẩm DN cần phải
nghiên cứu, phát hiện chiến lược của dối thủ cạnh tranh, đánh giá các mặt mạnh, yếu
của họ, đánh giá cách họ phản ứng với mỗi hành động xúc tiến tiêu thụ của ta để có
những quyết định cần thiết.
Mối đe doạ xâm nhập: Khi có các đối thủ cạnh tranh mới xâm nhập sẽ xuất hiện
nguy có chia rẽ thị trường, cạnh tranh trở nên ác liệt hơn. Do đó với tư cách là một DN
tồn tại lâu hơn trên thị trường, DN cần phân tích điểm mạnh yếu của đối thủ mới tham
gia thị trường từ đó có chiến lược đối phó để bảo vệ thị trường, tạo hàng rào cản trở
xâm nhập.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xiii
Sản phẩm thay thế: Công ty cần phải phân tích về sản phẩm thay thế thông
thường, thay thế hoàn toàn trên cơ sở đó thấy được nguy cơ hay cơ hội có phản ứng kịp
thời, hợp lý (Dương Thế Hữu, 2005).
b. Các yếu tố bên trong DN
Chu kỳ sống của SP là thuật ngữ mô tả sự biến đổi của doanh số tiêu thụ kể từ
khi sản phẩm được tung ra thị trường cho đến khi nó phải rút lui khỏi thị trường
(Nguyễn Nguyên Cự, 2005).
Chu kỳ sống của SP có bốn giai đoạn: Giai đoạn tung SP ra thị trường; Giai đoạn
phát triển; Giai đoạn chín ; Giai đoạn suy thoái.
1.1.2.7 Giá cả sản phẩm
Trong nghiên cứu kinh tế, giá được hiểu là “sự biểu hiện bằng tiền của giá trị
hàng hóa”. Trong kinh doanh và quản trị giá, giá cả được mô tả đơn giản và cụ thể hơn
“giá là khoản tiền phải trả cho một thứ gì đó” (Nguyễn Xuân Giang,2005).
Giá là số tiền biểu hiện giá trị của một sự chuyển đổi nào đó: giá mua thể hiện sự
chuyển đổi lúc đầu vào, giá bán thê hiện sự chuyển đổi lúc đầu ra (Nguyễn Phú Giang, 2005).
Đối với người bán, giá cả là khoản tiền trù tính có thể nhận được từ phía người
mua sau khi chuyển cho họ quyền sở hữu hay sử dụng hàng hóa và dịch vụ đó. Còn đối
với người mua thì giá cả luôn là chỉ số đầu tiên để đánh giá phần được với chi phí mà
họ bỏ ra để có được quyền sở hữu hay sử dụng hàng hóa đó. (Nguyễn Nguyên Cự,
2005).
Phương pháp định giá:
- Phương pháp định giá theo giá thành
Giá bán = Chi phí bình quân 1 đơn vị SP + Lãi dự kiến
Lãi dự kiến: có thể xác định theo giá thành SP hoặc theo doanh số bán
Phương pháp này rất thích hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Phương pháp định giá theo lợi nhuận mục tiêu
Giá bán theo lợi
nhuận mục tiêu
=
chi phí một đơn vị
sản phẩm
+
Lợi nhuận mong muốn
tính trên vốn đầu tư
Nhà SX
Nhà SX
- Kênh 2 cấp: Có hai trung gian là nhà bán buôn và nhà bán lẻ.
- Kênh 3 cấp: Có ba cấp trung gian là đại lý đến nhà phân phối và nhà bán lẻ.
1.1.2.9 Chiến lược chiêu thị
Chiêu thị là những nỗ lực của doanh nghiệp để thông tin, thuyết phục, nhắc nhở và
khuyến khích khách hàng mua sản phẩm, cũng như hiểu rõ về doanh nghiệp
Chiến lược chiêu thị bao gồm:
-Hỗn hợp Chiêu thị ( promotional - mix)
-Quảng cáo (Advertising): là việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để
truyền tin tức về chất lượng hay ưu điểm của sản phẩm đến khách hàng.
Các phương tiện quảng cáo: Báo chí, tạp chí, radio, TV, quảng cáo ngoài trời,
internet, thư trực tiếp.
-Khuyến mãi (Sales Promotion): Khuyến mãi là những khích lệ ngắn hạn để
khuyến khích việc mua một sản phẩm hay dịch vụ.
Các công cụ khuyến mãi dành cho người tiêu dung: Tặng hàng mẫu, cuống phiếu,
giá trọn gói, quà tặng, các giải thưởng, xổ số, rút thăm, phần dành riêng cho khách hàng
quen thuộc,….
-Quan hệ công chúng (Public Relations): là những hoạt động truyền thông để xây
dựng và bảo vệ danh tiếng của công ty, của sản phẩm trước các giới công chúng.
Công cụ chủ yếu của quan hệ công chúng: Tổ chức sự kiện, tài trợ, tin tức, bài nói
chuyện, hoạt động công ích,….
- Bán hàng cá nhân (Personal selling): Là sự giao tiếp mặt đối mặt của nhân viên
bán hàng với khách hàng tiềm năng để trình bày, giới thiệu và bán sản phẩm
Các bước trong quá trình bán hàng cá nhân: Tiếp cận, truyền đạt thông tin, thuyết
phục, nhắc nhở, bán hàng, sau khi bán hàng.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xvii
- Marketing trực tiếp (Direct marketing): Là việc sử dụng điện thoại, thư, email và
những công cụ tiếp xúc khác( không phải là người) để giao tiếp và dẫn dụ một đáp ứng từ
đi vào tìm hiểu tình hình tiêu thụ của một số sản phẩm gạch đất sét nung của Công ty
sản xuất theo công nghệ lò đứng và lò Tuynel về số lượng sản xuất, sản lượng tiêu thụ,
thị trường tiêu thụ, giá bán sản phẩm, hệ số tiêu thụ,…
Nghiên cứu cũng tập trung phân tích các nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
như hoạt động nghiên cứu dự báo thị trường, tổ chức thực hiện chiến lược sản phẩm,
chiến lược giá cả, chiến lược chiêu thị,…
2. Nghiên cứu “Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu
thụ sản phẩm ở Công ty gạch ốp lát Thái Bình”, (Dương Thế Hữu, 2005) đã tập trung
vào thực trạng hệ thống kênh phân phối sản phẩm của Công ty như số đại lý ở các khu
vực thị trường, doanh thu từ các khu vực thị trường, sản lượng tiêu thụ qua các kênh
phân phối,…
Nghiên cứu cũng đã làm rõ các hoạt động tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm của
Công ty như thực trạng về giá cả, phân phối, các hoạt động hỗ trợ bán hàng…
Hai nghiên cứu trên đã đánh giá được kết quả trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm,
những thành tựu đạt được cũng như những tồn tại hạn chế. Tuy nhiên, lại chưa đánh giá
được hiệu quả trong tiêu thụ sản phẩm, cũng như chưa phân tích để thấy những điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong hoạt động TTSP của Công ty trong thời gian
qua cũng như trong tương lai. Đây chính là những vấn đề mà nghiên cứu của tôi bổ
sung.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xix
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG –KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
TÌNH HÌNH TTSP GẠCH ĐẤT SÉT NUNG TẠI CÔNG TY
CP ĐẦU TƯ & XÂY DỰNG TIỀN HẢI
2.1. Tổng quan về công ty
2.1.1 Vị trí địa lý của công ty
Nằm trên quốc lộ 39B, km 0 + 700 từ Thị trấn Tiền Hải đi khu nghỉ mát Đồng
Châu, công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải thuộc địa bàn quản lý của thị trấn
Tiền Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Với vị trí nằm trên khu trung tâm của thị trấn,
gần với khu công nghiệp Tiền Hải nên công ty có điều kiện thuận lợi để phát triển sản
cho nhiều lao động tại địa phương.
2.1.3 Tình hình lao động của công ty
Tổng số lao động của công ty qua 3 năm (2007 – 2009) không có sự biến động
lớn, năm 2007 là 364 người, năm 2008 giảm xuống chỉ còn 350 người, đến năm 2009 số
lượng lao động của công ty là 366 người, tốc độ tăng bình quân qua 3năm là 0,27%. Cụ
thể, xét theo tính chất lao động, công nhân sản xuất chiếm tỷ lệ cao nhất do đặc thù của
công ty đòi hỏi nhiều lao động chân tay như công nhân bốc xếp, công nhân vận chuyển
nhưng lao động sản xuất của công ty những năm qua lại có xu hướng giảm, bình quân
qua 3 năm giảm 0,5%. Nguyên nhân do trên địa bàn có nhiều công ty mới thành lập, đây
là lý do nhiều công nhân có kinh nghiệm và tay nghề bỏ công ty qua các công ty khác
làm ( họ bị hấp dẫn về thu nhập). Số lượng nhân viên phục vụ của công ty đựơc duy trì
ở mức ổn định với 12 người nên không có sự biến động gì. Đồng thời, cán bộ quản lý
cũng có sự biến động, trung bình qua 3 năm cán bộ quản lý của công ty tăng 4,53%, lý
do của sự biến động này là những năm gần đây sản xuất của Công ty đã đi vào ổn định,
sản lượng sản xuất ngày càng tăng do đó đòi hỏi những cán bộ có trình độ để quản lý,
giám sát công việc. Cùng với sự biến động về số lượng lao động thì chất lượng lao động
cũng có sự thay đổi. Cụ thể ở 2 nhóm đại học, cao đẳng và công nhân kỹ thuật và lao
động phổ thông số lượng lao động có trình độ đại học và cao đẳng tăng lên do nhu cầu
số lượng cán bộ quản lý của Công ty tăng, còn số lượng lao động phổ thông và công
nhân kỹ thuật giảm đi đã được phân tích ở trên.
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
xxi
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng lao động của công ty qua 3 năm 2007 – 2009
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 Tốc độ phát triển (%)
SL
(người)
CC
(%)
SL
1. Đại học 12 3,30 12 3,43 14 3,83 100,0
0
116,6
7
108,01
2. Cao đẳng 0 0 2 0,55 _ _ _
3. Trung cấp 22 6,04 22 6,29 22 6,01 100,0
0
100,0
0
100,00
4. CNKT và LĐ phổ thông 330 90,66 316 90,29 328 89,62 95,76 103,8
0
9970
III. Theo thời gian ký kết hợp
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
22
đồng
1. Ngắn hạn ( HĐ) 153 42,03 130 37,14 140 38,25 84,97 107,6
9
95,66
2. Dài hạn (Biên chế) 211 57,97 220 62,86 226 61,75 104,2
7
102,7
3
103,49
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
23
2.1.4 Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 So sánh (%)
SL
(Tr.đ)
CC
(%)
SL
(Tr.đ)
CC
(%)
SL
(Tr.đ)
CC
(%)
07/06 08/07 BQ
I. Tài sản 42.522,2
7
100,0
0
42.154,3
3
100,0
0
54.211,8
8
100,0
0
99,13 128,6
0
112,91
123,4
6
111,16
II. Nguồn vốn 42.522,2
7
100,0
0
42.154,3
3
100,0
0
54.211,8
8
100,0
0
99,13 128,6
0
112,91
1. Nợ phải trả 16.242,9
8
38,20 18.134,2
5
43,02 20.389,9
8
3761 111,6
4
112,4
4
112,04
- Nợ ngắn hạn 10.834,9
là 45.000.000 viên/năm, nhà xưởng trị
giá 6.800 triệu đồng, hệ thống nhà xưởng được thiết kế một cách hợp lý và khoa học phục
vụ sản xuất một cách tốt nhất.
Các phương tiện vận chuyển hàng hoá được công ty trang bị khá đầy đủ với 8 xe
chở hàng có công suất 6 tấn/xe. Ngoài số xe vận chuyển tự mua sắm công ty còn hợp
đồng vận chuyển với tư nhân nhằm đảm bảo cung cấp sản
phẩm kịp thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra, công ty còn mua sắm các trang
thiết bị, các đồ dùng văn phòng cho các phòng ban nhu máy vi tính, máy in, máy fax, điện
thoại… tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý của các phòng ban và công ty.
2.1.6 Bộ máy tổ chức quản lý
Sơ đồ 3.1 sẽ cho ta thấy toàn bộ bộ máy tổ chức quản lý của công ty.
Sơ đồ 3.1: Bộ máy tổ chức quản lý của công ty
2.2 Thực trạng tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần đầu tư và xây
dựng Tiền Hải
2.2.1 Quy trình sản xuất gạch đất sét nung của công ty
Từ tháng 4 năm 2001 công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải mạnh dạn đầu
tư 2 dây truyền sản xuất gạch Tuynel hiện đại với công suất thiết kế 30.000.000 viên/năm.
Để có một sản phẩm cuối cùng công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải đi theo một
quy trình chặt chẽ như sau:
Đất sét sau khi mua về được đưa vào ủ với thời gian từ 3 đến 6 tháng để đảm bảo
cho đất đã được phong hoá và trở thành nguyên liệu. Nguyên liệu được đưa vào máy nạp
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
GIÁM ĐỐC
Phó GĐ phụ trách
KD
Phó GĐ phụ trách
sản xuất
Phòng
kinh
doanh
làm nguội. Không khí lạnh dần được đốt nóng lên sau khi làm nguội sản phẩm và được
chuyển sang vùng nung tham gia quá trình cháy. Lượng khói thải từ lò nung được tận
dụng đưa sang lò Tuynel sấy mộc nhằm tiết kiệm than. Điều này khiến cho lượng bụi thải
ra rất ít và nhiệt thải ra ở mức tối thiểu. Nhiệt độ của khí thải khi ra khỏi lò sấy chỉ còn 40
– 50
0
C không ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động. Khói lò được thải ra ngoài qua ống
khói nhờ quạt hút. Sự tuần hoàn của khí thải cho phép tạo ra chế độ nhiệt và chế độ ẩm
dịu hơn, làm cho nhiệt độ đồng đều trên tiết diện lò, giảm tác động có hại của không khí
lạnh lọt vào. Trong quá trình nung, nhiệt độ trong lò luôn đảm bảo từ 850 – 1050
0
C và
thời gian nung từ 4 – 5h (La Thu, 2008).
Sv: Chu Thị Hồng Lý Luận văn tốt nghiệp
28