Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN Khoa Tài chính - Ngân hàng
LỜI CẢM ƠN
Trong 4 năm học qua, được sự dìu dắt, chỉ bảo của các thầy cô trong trường em đã
học hỏi được rất nhiều kiến thức có ích trong công việc cũng như trong cuộc sống
sau này.
Để hoàn thành luận văn này, ngay từ những ngày đầu đi thực tập em đã được sự
hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Tài chính ngân hàng,
thầy giáo hướng dẫn và các cô chú, anh chị trong Công ty cổ phần đầu tư và xây
dựng số 4. Qua đây em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- GS. Hiệu trưởng Trần Phương, thầy giáo Nguyễn Văn Long - chủ nhiệm khoá
9A cùng các thầy cô trong Ban đào tạo, trong trường đã quan tâm chỉ bảo em trong
suốt 4 năm học qua.
- Thầy giáo - GS. Vũ Văn Hóa (Trưởng khoa Tài chính ngân hàng), cùng các thầy
cô trong khoa Tài chính ngân hàng đã hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất để chúng
em được đi thực tập và làm luận văn.
- Thầy giáo - TS. Trần Trọng Khoái người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt
quá trình đi thực tập và làm luận văn.
- Các cô chú, anh chị trong phòng Tài chính kế toán Công ty cổ phần đầu tư và
xây dựng số 4 đã giúp em thu thập số liệu, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực
tập.
Hà Nội, tháng 03 năm 2008.
Sinh viên thực hiện
NGUYỄN THỊ THƠ
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Thơ - Lớp
9A02
Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN Khoa Tài chính - Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
Để thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hóa và dịch vụ khuyến khích phát
triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào
ngân sách nhà nước. Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 11 vào tháng 5 năm 1997 đã
Thuế là một phạm trù kinh tế xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự hình
thành và phát triển của Nhà nước. Thuế ra đời là một yếu tố khách quan để nhà
nước có nguồn tài chính thực hiện các chức năng của mình. Thuế là khoản đóng
góp mang tính chất bắt buộc của tổ chức, cá nhân vào Ngân sách nhà nước
(NSNN) và được Nhà nước sử dụng như một công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô
nền kinh tế.
* Xét về nội dung kinh tế: Thuế là một khoản tiền hay hiện vật mà người dân, tổ
chức kinh tế đóng góp vào Ngân sách để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước.
* Xét về góc độ Nhà nước: Thuế là một khoản thu bắt buộc, không hoàn trả trực
tiếp cho người nộp thuế, được pháp luật quy định.
* Xét về góc độ người nộp thuế: Thuế là một khoản đóng góp manh tính pháp luật
cao nhất của Nhà nước. Nhà nước buộc các cá nhân, tổ chức phải nộp nào NSNN
để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
* Xét về thực chất: Thuế là một hình thức phân phối được nhà nước sử dụng để
động viên một phần thu nhập của các tổ chức kinh tế và cá nhân đóng góp vào
NSNN.
2. Những nguyên tắc cơ bản của Thuế.
Thuế phải công bằng: Việc ấn định thuế phải tuỳ theo năng lực về thu nhập, của
cải và khả năng đóng thuế của người chịu thuế.
Thuận tiện cho người nộp thuế: thuận tiện cả về thời gian và địa điểm nộp thuế.
Các quy định của thuế phải rõ ràng: Rõ ràng về căn cứ đánh thuế, thủ tục nộp
thuế, số tiền phải đóng thuế...
Chi phí tiến hành thu thuế phải thấp nhất: nghĩa là chi phí xây dựng hệ thống tổ
chức tiến hành thu thuế là ít nhất.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Thơ - Lớp
9A02
Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN Khoa Tài chính - Ngân hàng
3. Vai trò của Thuế trong nền kinh tế.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN.
Thuế là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc quản lý và
Các sắc thuế thuộc loại thuế trực thu như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu
nhập của người có thu nhập cao, thuế tài sản.
Ưu điểm: Có tính công bằng cao, thuận tiện cho người nộp thuế và người thu thuế.
Nhược điểm: Vì đánh trực tiếp vào thu nhập nên gây ra phản ứng không tốt của
người nộp thuế (trốn thuế, trây ỳ), Nhà nước khó khăn và tốn kém sức người và
thời gian trong việc quản lý và thu thuế.
5.2. Thuế gián thu: Là loại thuế được thu qua giá bán, là yếu tố cấu thành trong giá
bán. Người chịu thuế là người mua, người nộp thuế là người bán - nộp hộ thuế cho
người mua vào NSNN.
Các sắc thuế thuộc loại thuế gián thu như: Thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
xuất - nhập khẩu.
Ưu điểm: Nhà nước bỏ ra ít chi phí nhưng thu được nhiều thuế nên tiết kiệm được
chi phí cho việc thu thuế.
Nhược điểm: Tính công bằng xã hội không cao.
6. Các yếu tố cấu thành thuế.
Để cấu thành một sắc thuế bao gồm những đặc điểm và yếu tố khác nhau. Luật
thuế bao gồm những sắc thuế song các sắc thuế đều được cấu thành bởi các yếu tố
cơ bản sau: tên sắc thuế, đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế
(giá tính thuế, thuế suất), kê khai thuế, đăng ký thuế, quyết toán thuế và nộp thuế,
khiếu nại hoặc xét thưởng thuế, miễn giảm hoặc hoàn thuế nếu có.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Thơ - Lớp
9A02
Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN Khoa Tài chính - Ngân hàng
7. Các sắc thuế hiện hành ở Việt Nam.
Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất - nhập
khẩu, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên, thuế nhà đất, thuế chuyển
quyền sử dụng đất, thuế thu nhập của người có thu nhập cao và một số khoản thu
khác: tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, phí và lệ phí.
II. KHÁI QUÁT VỀ THUẾ GTGT.
1. Sự ra đời và phát triển của thuế GTGT.
thuế. Về thực chất thếu GTGT là loại thuế gián thu đánh vào thu nhập của người
tiêu dùng để động viên phần thu nhập cho Nhà nước thông qua giá cả.
Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh
nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Vì tổng giá trị gia
tăng ở tất cả các giai đoạn luân chuyển có giá trị bằng giá bán của sản phẩm ở giai
đoạn cuối cùng, do đó việc thu thuế GTGT ở từng giai đoạn đảm bảo cho tổng số
thuế thu được tính trong giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Đối tượng điều tiết của thuế GTGT là phần thu nhập của người tiêu dùng cho việc
mua hàng hóa, dịch vụ. Như vậy về nguyên tắc chỉ thu thuế GTGT ở khâu bán
hàng là đủ. Nhưng trên thực tế khó có thể phân biệt đâu là khâu cuối cùng và đâu
là khâu trung gian. Vì vậy để đảm bảo việc thu thuế được công bằng và giảm bớt
việc gian lận thuế nên cứ có hành vi mua hàng là phải thu thuế GTGT. Nếu là tiêu
dùng trung gian thì số thuế được chuyển vào giá bán cho người mua ở giai đoạn
sau, cứ thế thuế GTGT được thu đến giai đoạn tiêu dùng cuối cùng.
4. Sự cần thiết phải ban hành luật thuế GTGT.
* Thuế GTGT ra đời là một nhu cầu tất yếu đối với nền kinh tế khi cơ cấu chính
sách thuế cũ không còn đáp ứng được nhu cầu trong tình hình mới vì:
- Thứ nhất: Thuế doanh thu không đáp ứng được yêu cầu thu và quản lý do có
nhiều bất hợp lý (trùng lặp, thuế thu trên thuế, có nhiều mức thuế suất (11 mức)).
- Thứ hai: Do quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, yêu cầu
mở rộng lưu thông hàng hóa giữa các nước đòi hỏi bãi bỏ, giảm thuế ở cửa khẩu
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Thơ - Lớp
9A02
Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN Khoa Tài chính - Ngân hàng
đối với xuất nhập khẩu hàng hóa, nó giúp kích thích các ngành sản xuất dịch vụ
trong nước, khuyến khích xuất khẩu những tiềm lực quốc gia và góp phần thúc đẩy
những mặt hàng thiết yếu.
* Như vậy thuế GTGT ra đời trước hết để đáp ứng tình hình mới, sau một thời gian
được áp dụng và kiểm nghiệm, thuế GTGT được đại đa số các nước trên thế giới
thừa nhận về những ưu điểm nổi bật của nó ở các mặt sau:
Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành
nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu
hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT.
5.2. Đối tượng chịu thuế GTGT: Là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh
doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế
GTGT.
5.3. Đối tượng không chịu thuế GTGT: Gồm 29 nhóm hàng hóa, dịch vụ (xem phụ
lục 1) có các đặc điểm sau:
Là sản phẩm của một số ngành nghề sản xuất và kinh doanh trong những điều kiện
khó khăn, sản phẩm sản xuất ra dùng cho chính những người sản xuất và cho đời
sống toàn xã hội, nhằm tạo điều kiện khuyến khích phát triển: sản phẩm trồng trọt,
chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản... và sản phẩm là thiết bị, máy móc nhập khẩu mà
trong nước chưa sản xuất được.
Là sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho nhu cầu toàn xã hội: Dịch vụ
bảo hiểm, khám chữa bệnh, triển lãm, văn hóa, hoạt động thể dục - thể thao, phát
thanh, truyền hình... nhằm nâng cao đời sống vật chất văn hóa của con người.
Là sản phẩm phục vụ nhu cầu toàn xã hội không vì mục đích lợi nhuận, tài nguyên
chuyên dùng cho an ninh quốc phòng, dịch vụ vệ sinh công cộng, tưới tiêu phục vụ
nông nghiệp... và một số hàng hóa nhập khẩu có tính chất việc trợ, quà tặng, hàng
hóa vì mục tiêu xã hội nhân đạo.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Thơ - Lớp
9A02
Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN Khoa Tài chính - Ngân hàng
Các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ do nhà nước quy định không chịu thuế GTGT:
Dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư, chuyển giao công nghệ, nhập khẩu máy móc,
phương tiện vận tải chuyên dùng (máy bay, tàu thủy, dàn khoan) mà trong nước
chưa sản xuất được, sản phẩm xuất khẩu khoáng sản mà trong nước chưa có điều
kiện chế biến thành sản phẩm tinh, hàng hóa đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì
không phải chịu thuế GTGT tại khâu nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.
thuê cho một thời hạn thuê thì thuế GTGT tính trên số tiền thu từng kỳ hoặc thu
trước, bao gồm cả các khoản thu dưới hình thức khác như thu tiền để hoàn thiện,
sửa chữa, nâng cấp nhà cho thuê theo yêu cầu của bên thuê.
(7) Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá bán trả một lần
chưa có thuế GTGT của hàng hóa đó (không bao gồm lãi trả góp, trả chậm), không
tính theo số tiền trả góp, trả chậm từng kỳ.
(8) Đối với gia công hàng hóa là giá gia công chưa có thuế GTGT bao gồm: tiền
công, tiền nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và các chi phí khác để gia công do bên
nhận gia công phải chịu.
(9) Đối với xây dựng, lắp đặt: Trường hợp xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên
vật liệu là giá xây dựng, lắp đặt bao gồm cả giá trị nguyên vật liệu chưa có thuế
GTGT. Đối với trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu thì
giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu
chưa có thuế GTGT. Trường hợp xây dựng, lắp đặt thực hiện thanh toán theo hạng
mục công trình hoặc giá trị khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành bàn giao là giá
tính theo giá trị hạng mục công trình hoặc giá trị khối lượng công việc hoàn thành
bàn giao chưa có thuế GTGT.
(10) Đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật do các cơ sở kinh doanh được Nhà nước giao
đất xây dựng để chuyển nhượng gắn với chuyển quyền sử dụng đất thì giá tính thuế
GTGT là giá thực tế chuyển nhượng cơ sở hạ tầng cùng với chuyển quyền sử dụng
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Thơ - Lớp
9A02
Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN Khoa Tài chính - Ngân hàng
đất chưa có thuế GTGT, trừ tiền sử dụng đất phải nộp vào NSNN theo giá do
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời điểm giao đất.
(11) Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, giá tính thuế GTGT đối với nhà,
hạ tầng gắn với đất được trừ giá đất theo giá do UBND các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương quy định tại thời điểm nhận quyền sở hữu hoặc sử dụng bất
động sản.
(12) Đối với dịch vụ đại lý tàu biển, dịch vụ môi giới, uỷ thác xuất nhập khẩu và
Theo luật thuế GTGT hiện hành ở Việt Nam có ba mức thuế suất khác nhau: mức
0%, 5%, 10% và được áp dụng với từng loại hàng hóa, dịch vụ sản xuất kinh
doanh trong nước hoặc nhập khẩu (xem phụ lục 2). Trong điều kiện hiện nay khi
mà mặt bằng kinh doanh của các ngành nghề chưa đồng nhất thì việc phân ra thành
nhiều mức thuế suất là rất cần thiết, nhằm thể hiện chính sách điều tiết thu nhập và
hướng dẫn tiêu dùng các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau của Nhà nước.
- Thuế suất 0%: Áp dụng với hàng hóa xuất khẩu kể cả hàng hoá gia công xuất
khẩu, hàng hóa không thuộc diện chịu thuế GTGT xuất khẩu, hoạt động xây dựng,
lắp đặt các công trình ở nước ngoài, công trình của doanh nghiệp chế xuất.
- Thuế suất 5%: Áp dụng với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cần khuyến khích hoặc
sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn và các hàng hoá, dịch vụ cần được ưu
đãi: nước sạch, thuốc chữa bệnh.
- Thuế suất 10%: Là mức thuế suất thông dụng, áp dụng cho các loại hàng hóa,
dịch vụ thông thường còn lại không thuộc mức thuế suất 0% và 5% như: sản phẩm
điện tử, sản phẩm may mặc, xây dựng, lắp đặt, dịch vụ tư vấn...
5.5. Phương pháp tính thuế GTGT.
Thuế GTGT cơ sở kinh doanh phải nộp được tính theo một trong hai phương
pháp: phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.
5.5.1. Phương pháp khấu trừ thuế:
* Đối tượng áp dụng: Các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành lập
theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp), Luật Hợp tác xã,
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Thơ - Lớp
9A02
Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN Khoa Tài chính - Ngân hàng
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị, tổ chức kinh doanh khác
được áp dụng phương pháp khấu trừ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, trừ các đối
tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT.
* Xác định thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT = Thuế GTGT - Thuế GTGT đầu vào
phải nộp đầu ra được khấu trừ.
- Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng
cho sản xuất , kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT.
Trường hợp hàng hóa, dịch vụ sử dụng chung cho sản xuất kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT nhưng cơ sở không hạch toán riêng
được thuế đầu vào được khấu trừ, thì thuế đầu vào được tính khấu trừ theo tỷ lệ %
doanh số của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng
hóa, dịch vụ bán ra.
- Thuế GTGT đầu vào hàng hóa, TSCĐ mua vào bị tổn thất, bị hỏng do thiên tai,
hoả hoạn, tai nạn bất ngờ, mất trộm nếu xác định được tổ chức, cá nhân có trách
nhiệm phải bồi thường thì thuế GTGT đầu vào của số hàng hóa này được tính vào
giá trị hàng hóa tổn thất phải bồi thường, không được khấu trừ.
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ được khấu trừ phát sinh trong tháng
nào được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân
biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho. Trường hợp hóa đơn GTGT hoặc chứng từ
nộp thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ mua vào phát sinh trong tháng
nhưng chưa kê khai kịp trong tháng thì kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp sau,
thời gian tối đa là 3 tháng kể từ thời điểm kê khai của tháng phát sinh.
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa (kể cả hàng hóa mua ngoài hoặc hàng hóa do
doanh nghiệp tự sản xuất) mà doanh nghiệp sử dụng để khuyến mại, quảng cáo
dưới các hình thức phục vụ cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
GTGT thì được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Thơ - Lớp
9A02
Trường ĐH Kinh doanh & Công nghệ HN Khoa Tài chính - Ngân hàng
5.5.2. Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên GTGT.
* Đối tượng áp dụng: Cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam. Tổ chức,
cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không thành lập pháp nhân tại Việt
Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hóa đơn chứng từ để làm căn
cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế. Cơ sở kinh doanh mua, bán vàng,
bạc, đá quý, ngoại tệ.