Lời nói đầu
Trong những Thập kỷ gần đây, với chính sách đổi mới đúng đắn của Đảng
và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa và đặc biệt là nước ta đã trở thành Thành viên của tổ chức thương mại
thế giới (WTO) với mong muốn giao lưu, học hỏi, hợp tác với tất cả các quốc gia
trên thế giới. Để có những cơ chế, chính sách, những quyết định phù hợp với quy
luật thị trường, Kế toán đã trở thành một công cụ kinh tế tài chính đắc lực không
chỉ với hoạt động tài chính của Nhà nước mà còn vô cùng quan trọng và cần
thiết đối với hoạt động tài chính của Doanh nghiệp.
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa hiện nay, nền kinh tế nói chung và
hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã có nhiều thay đổi phong phú. Các
hoạt động kinh tế diễn ra một cách sôi động trên phạm vi rộng lớn và thu hút mọi
thành phần kinh tế tham gia. Để đứng vững trên thị trường, phù hợp với sự phát
triển của nền kinh tế, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đều cố gắng tìm mọi cách
để làm cho doanh nghiệp mình tăng trưởng và phát triển. Chính vì thế, bên cạnh
việc thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần chú trọng
đến công tác tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Bởi vì, một sản
phẩm có chất lượng tốt sẽ không được người tiêu dùng chấp nhận nếu nó không
có giá bán hợp lý.
Giá thành sản phẩm với các chức năng vốn có của nó đã trở thành chỉ tiêu
kinh tế quan trọng trong việc quản lý chất lượng sản xuất kinh doanh. Giá bán
sản phẩm nói lên tất cả các biện pháp tổ chức quản lý, kỹ thuật mà doanh nghiệp
đã và đang thực hiện. Chính vì lẽ đó, quản lý và hạch toán chi phí, tính giá thành
sản phẩm luôn là sự quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp sản xuất kinh
1
doanh, đòi hỏi công tác kế toán phải làm tốt việc quản lý chặt chẽ, hạch toán đầy
đủ các chi phí bỏ ra, tính đúng và tính đủ chi phí và giá thành sản phẩm nhằm
cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin tài chính cho các nhà quản lý để đưa ra
các chính sách, biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm phẩm kịp thời
giúp doanh nghiệp có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác và đứng vững
số 364/TB-BXD ngày 27/12/1992, đơn vị được UBND tỉnh ra quyết định số
08/NĐ-CP ngày 7/1/1993 và được trọng tài kinh tế cấp tỉnh cấp giấy phép kinh
doanh số 10673 ngày 4/3/1993 và được đổi tên thành Công ty Xây Lắp Tiền Hải.
Sau gần 20 năm đi vào hoạt động, Công ty lại tiếp tục đổi tên thành Công
ty Cổ Phần Đầu Tư và Xây Dựng theo quyết định số 979/QĐ – UB ngày
4/5/2005 của UBND tỉnh Thái Bình.
1.1.1. Các giai đoạn phát triển của Công ty
3
Là một Công ty được ra đời trong thời kỳ nền kinh tế còn bao cấp, nên
Công ty đã gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể các giai đoạn phát triển của Công ty
như sau:
Năm 1985- 1990 Công ty chỉ tiến hành đấu thầu xây dựng các công trình
với quy mô nhỏ ở trong huyện, lợi nhuận còn chưa cao.
Năm 1991-1993 trong thời kỳ này khi trở thành doanh nghiệp nhà nước
Công ty mở rộng sang lĩnh vực sản xuất kinh doanh gạch. Thời kỳ này quy mô
sản xuất còn ở trình độ thấp, lao động thủ công bán cơ giới, máy móc lạc hậu
năng suất thấp. Máy tạo hình đơn giản, không có khả năng sản xuất đa dạng,
nhiều sản phẩm khi nung thì bằng thủ công không điều khiển được nhiệt độ cho
phép nên chất lượng sản phẩm chỉ đạt rất thấp, sản phẩm hỏng và hao phí nhiều,
môi trường lao động còn ô nhiễm và độc hại, công việc sản xuất kinh doanh liên
tục bị thua lỗ, năm 1992 lỗ 127 triệu đồng, năm 1993 lỗ 130 triệu đồng, thu nhập
bình quân đầu người chỉ đạt 270.000đ/tháng, sản xuất mang tính chất cầm
chừng.
Năm 1994- 2004, đầu năm 1994 , Ban giám đốc đã làm luận chứng kinh
tế kỹ thuật xin được đầu tư mở rộng sản xuất lắp đặt dây chuyền mới với lò nung
Tuynel. Luận chứng kinh tế đã được UBND tỉnh và các nghành có liên quan phê
duyệt và đến tháng 11/1994 công nghệ này đã chính thức được đưa vào sử dụng
với công suất thiết kế từ 12- 15.000.000 viên/năm. Từ đó sản phẩm của Công ty
có chất lượng cao, chủng loại đa dạng, tạo được uy tín với khách hàng, với chủ
đầu tư và đáp ứng được nhu cầu của thị trường, lợi nhuận bình quân hàng năm
Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu tài chính của Công ty CP Đầu Tư và Xây Dựng
Tiền Hải
< Đơn vị 1.000.000đ>
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tổng NV 23230 26120 30200 35980
TSCĐ 18110 19620 20711 23900
TSLĐ 5120 6500 9489 12080
Nợ phải thu 2115 1540 5630 8720
Nợ phải trả 1140 1230 4798 4320
Doanh thu 21969,08 21996,08 22782,61 22808,81
GVHB 10879,6326 10893,9684 18274,23 18219,71
LNTT 1108,9474 1110,2116 4508,38 4589,1
TNBQ 1,017 1,029 1,053 1,117
Số lao động
(người)
350 350 375 400
( Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Bảng 1.2. Chênh lệch giữa các năm của một số chỉ tiêu tài chính của Công ty
CP Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải
Chỉ tiêu
Chênh lệch 2005/2004 Chênh lệch 2007/2006
+/- % +/- %
Tổng NV 2890 12,44 5780 19,14
TSCĐ 1510 8,33 3189 15,4
TSLĐ 1380 26,95 2591 27,31
Nợ phải thu - 575 - 27,19 3090 54,88
Nợ phải trả 90 7,89 - 478 - 9,96
Doanh thu 270. 1,229 262 1,15
GVHB 14,34 0,132 - 54,52 - 0.298
LNTT 12,642 1,14 80,7 1,79
1.2. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ
phần Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải
1.2.1. Đặc điểm về nghành nghề kinh doanh của Công ty
Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải là đơn vị hạch toán độc
lập có tư cách pháp nhân, có tài khoản tiền gửi tại Ngân Hàng, có con dấu riêng
hoạt động trên nguyên tắc lấy thu bù chi và có lãi. Với các nghành nghề kinh
doanh chủ yếu sau:
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông thuỷ lợi.
- Tư vấn thiết kế, giám sát thi công công trình xây dựng, tư vấn đấu thầu
thẩm định hồ sơ xây dựng.
- Chuyển giao công nghệ sản xuất gạch Tuynel, gạch lát màu tự chèn.
- Kinh doanh bất động sản.
- Và một số lĩnh vực khác như: Cho thuê thiết bị máy xây dựng có người
điều khiển, cho thuê bãi đỗ xe, cho thuê nhà ở, đại lý, dịch vụ hoà mạng điện
thoại di động…
1.2.2. Đặc điểm về quy trình công nghệ của Công ty
Đơn vị có đầy đủ các máy móc thiết bị và phương tiện thi công công trình,
thực hiện hợp đồng xây dựng các công trình đảm bảo chất lượng kỹ mỹ thuật và
đúng tiến độ.
Do đặc thù của nghành xây dựng để chế tạo ra một sản phẩm cần rất nhiều
chi tiết, quy trình công nghệ phải trải qua nhiều khâu. Tuy nhiên các bước công
nghệ tuần tự chung ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý vật tư, tiết kiệm chi phí.
Vì vậy, yêu cầu cơ bản là phải đảm bảo sự cân đối năng lực giữa các bộ phận
8
trong dây chuyền sản xuất để cho quy trình sản xuất được hoạt động nhịp nhàng
thông suốt, đúng tiến độ sản xuất.
Với công nghệ sản xuất như hiện nay, nhà máy gạch đỏ Tuynel của Công
ty sản xuất với tiêu chuẩn là 36 triệu viên /năm nhưng Công ty đã sản xuất vượt
tiêu chuẩn với số lượng lên tới 38-45 triệu viên /năm nhằm tăng doanh thu và thu
nhập cho Công ty.
loại sản phẩm
Lò nung
Tuynel
Buồng
sấy phụ
1.2.3 Đặc điểm về tình hình lao động của Công ty
Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải là Công ty vừa và nhỏ Do
đặc điểm kinh doanh, tính chất và quy mô kinh doanh như hiện nay Công ty gồm
400 lao động, trong đó có 250 là lao động tại nhà máy gạch.
Công ty có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn kỹ thuật vững vàng và
giàu kinh nghiệm, năng động trong công tác quản lý. Trong đó có 20 đồng chí là
Kỹ sư, 50 đồng chí có trình độ trung cấp và cao đẳng. Lực lượng công nhân lành
nghề, trẻ khỏe nhiệt tình, lao động sáng tạo lên tới hơn 200 người.
Ngoài ra, Công ty còn có chi bộ vững mạnh với trên 40 đảng viên, Đoàn
thanh niên, tất cả đều nhiệt tình trong công tác. Trong những năm gần đây do
tình hình mất ổn định về chính trị ở Thái Bình, Công ty đã gặp không ít khó khăn
nhưng dưói sự lãnh đạo của Ban lãnh đạo Công ty, tập thể cán bộ công nhân viên
đã đoàn kết phấn đấu không ngừng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh đồng thời nâng cao thu nhập ổn định đời sống, không những vậy Công ty
còn ký thêm được nhiều hợp đồng ngắn hạn với lao động trong và ngoài tỉnh để
phục vụ cho những công trình lớn, phức tạp yêu cầu công nghệ và kỹ thuật cao.
Phương châm kinh doanh của Công ty là sản xuất, tiêu thụ theo địa chỉ của
khách hàng, đảm bảo chất lượng, tiến độ thi công và thời gian bàn giao công
trình, hàng hóa cho khách hàng. Việc thanh toán được tiến hành dứt điểm, nợ
quá hạn ít trong kinh doanh Công ty coi trọng hiệu quả kinh tế lấy thu bù chi và
đảm bảo có lãi.
Là một doanh nghiệp đã dược cổ phần hóa nhưng Công ty đã thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước, luôn luôn tìm tòi những hướng đi mới, không
ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa, đa dạng hóa chủng loại và nâng cao thu
nhập cho cán bộ công nhân viên toàn Công ty.
đồng thời phụ trách toàn bộ khâu hành chính trong Công ty.
Phòng kinh doanh: tiếp nhận toàn bộ hóa đơn của phòng tài vụ phát bán
hàng và chịu trách nhiệm cung ứng vật tư theo yêu cầu của công trình và nghiên
cứu thị trường tiêu thụ, tìm hiểu khách hàng và các đối thủ cạnh tranh, tư vấn giá
cả giúp ban giám đốc xây dựng chính sách giá cả sản phẩm phù hợp với thị
trường tiêu dùng theo từng giai đoạn cụ thể.
12
GIÁM ĐỐC
PGĐ kỹ thuậtPGĐ kinh doanh
Phòng kỹ
thuật
Phòng tài chính
kế toán
Phòng tổ
chức
Phòng KD
PX1PX2CH2CH1Đ3Đ2Đ1
Thủ quỹ
Phòng tài chính kế toán: thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính đúng chế
độ tài chính của nhà nước để phân tích tổng hợp đánh giá kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty. Phòng kế toán gồm có 7 nhân viên đảm nhiệm
công tác thu thập và xử lý thông tin, số liệu theo đối tượng và nội dung công việc
kế toán, kiểm tra sát các khoản thu chi, các nghĩa vụ thu nộp, thanh toán nợ để
đảm bảo uy tín cho Công ty, đối với các khoản nợ phải thu thì đôn đốc thu hồi
giảm việc bị chiếm dụng vốn. Kiểm tra quản lý tài sản, nguồn hình thành tài sản,
theo dõi tình hình thực hiện các hợp đồng mua bán của khách hàng. Lập các Báo
cáo tài chính, Báo cáo định kỳ, Báo cáo bất thường theo qui định của nhà nước
và của nhà quản lý Công ty. Tổ chức ghi chép, phản ánh trung thực các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh.
Phòng kỹ thuật: tổ chức quản lý kỹ thuật, ứng dụng những công nghệ
Kế toán VL,
CCDC,TSCĐ
Kế toán bán
hàng
Kế toán tiền
lương
Thủ kho Thủ quỹ
Kế toán
phân xưởng
Kế toán vốn
bằng tiền
Phòng kế toán gồm có 7 cán bộ với trình độ đào tạo 2 Đại hoc, 3 Cao đẳng
và 2 Trung cấp. Công ty chia làm 5 phần hành kế toán và mỗi người chịu trách
nhiệm một phần hành và cũng có thể kiêm nhiệm như sau:
• Kế toán vốn bằng tiền
• Kế toán tiền lương
• Kế toán bán hàng kiêm theo dõi công nợ phải thu
• Kế toán VL, CCDC, TSCĐ kiêm theo dõi công nợ phải trả
• Kế toán Phân xưởng
Chức năng, nhiệm vụ của kế toán
Kế toán trưởng: Là người trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động tài chính
của Công ty, phân công công việc cho các nhân viên kế toán, là người giúp việc
cho giám đốc về các công tác chuyên môn, phân tích và cung cấp thông tin về
tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty cho giám đốc. Do kiêm cả kế toán
tổng hợp nên kế toán trưởng còn có nhiệm vụ theo dõi tình hình tăng giảm
TSCĐ, trích khấu hao TSCĐ, tập hợp chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm,
lên báo cáo kế toán, kê khai quyết toán thuế với cơ quan nhà nước.
Kế toán vốn bằng tiền: Có nhiệm vụ theo dõi và lập các hoá đơn chứng từ
liên quan đến thu chi tiền mặt phát sinh hàng ngày tại Công ty, theo dõi các
khoản tiền vay, tiền gửi ngân hàng, thanh toán công nợ với ngân hàng.
bình quân.
16
1.3.3.2. Tổ chức hệ thống chứng từ
Hệ thống chứng từ sử dụng tại Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng
Tiền Hải căn cứ vào luật kế toán ban hành năm 2003 và nghị định số
129/2004/NĐ-CP của chính phủ ngày 31/05/2004 và căn cứ vào quyết định số
15/2006/QĐ_BTC ngày 20/03/2006.
Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của
doanh nghiệp đều phải lập chứng từ kế toán, chứng từ kế toán chỉ lập 1 lần cho
một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh. Nội dung chứng từ kế toán phải đầy
đủ các chỉ tiêu, phải rõ ràng, trung thực, phù hợp với nội dung nghiệp vụ. Chữ
viết trên chứng từ phải rõ ràng, không tẩy xoá, không viết tắt. Số tiền viết bằng
chữ phải khớp, đúng với số tiền viết bằng số.
Chứng từ kế toán phải được lập đủ số liên theo quy định mỗi chứng từ và
được đặt giấy than viết một lần. Mọi chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký theo
chức danh quy định trên chứng từ, chữ ký của một người phải thống nhất và phải
giống với chữ ký đã đăng ký theo quy định, trường hợp không đăng ký chữ ký
thì chữ ký lần sau phải khớp với chữ ký các lần trước đó.
Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải mở sổ đăng ký mẫu chữ
ký của Giám đốc, các Phó giám đốc, trưởng các phòng ban, kế toán trưởng, các
nhân viên kế toán và thủ quỹ. Sổ đăng ký mẫu chữ ký được đóng dấu giáp lai do
thủ trưởng đơn vị quản lý để tiện kiểm tra khi cần. Việc phân cấp ký trên chứng
từ kế toán do Giám đốc Công ty quy định phù hợp với pháp luật, yêu cầu quản
lý, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, an toàn tài sản.
Trong năm kế toán, chứng từ được bảo quản tại kế toán phần hành. Khi
báo cáo quyết toán năm được duyệt thì các chứng từ được chuyển vào lưu trữ.
Hệ thống chứng từ kế toán của Công ty như sau:
17
Với phần hành kế toán tiền lương gồm các chứng từ: Bảng chấm công,
Bảng thanh toán tiền lương, Bảng thanh toán BHXH, Hợp đồng giao khoán,
2 112-NN TG tại NHNN 1 Không Không
3 112-TM TG tại NHTM 1 Không Không
4 112-CT TG tại NHCT 1 Không Không
5 131 PTKH 1 Có Không
6 131-Hoà PTKH Hoà 1 Không Không
7 131-Minh PTKH Minh 1 Không Không
...... ................. ............. ....... ............. .........
20 152 NVL 1 Không Có
21 152-Sắt Sắt 1 Không Không
22 152-Đất Đất 1 Không Không
23 152-Than Than 1 Không Không
...... ........ ............ ..... ....... ......
30 154 CPSX kinh doanh DD 1 Có Không
31 154.1 Công ty 2 Không Không
32 154.2 Uỷ ban VT 2 Không Không
33 154- GĐ Gạch đặc 1 Có Không
34 154- G6 Gạch 6 lỗ 1 Có Không
........ ................ ................ .... ......... ......
50 155 Thành phẩm 1 Có Không
51 155-GĐ Gạch đặc 1 Không Không
52 155-G6 Gạch 6 lỗ 1 Không Không
53 241 Xây dựng cơ bản DD 1 Có Không
54 311 Vay ngắn hạn 1 Có Không
....... ................ ................. ....... ............... ..........
80 621 CPNVLTT 1 Có Không
81 621-GĐ Gạch đặc 1 Không Không
82 621-G4 Gạch 4 lỗ 1 Không Không
83 621-G6 Gạch 6 lỗ 1 Không Không
...... ............ ......... ..... ........ .......
89 622 CPNCTT 1 Có Không
157, 211, 212, 213, 331, 621, 622, 627,…
- Sổ, thẻ kế toán chi tiết:
+ Sổ chi tiết thành phẩm
+Sổ chi tiết nguyên vật liệu
+Sổ chi tiết thanh toán với người mua, người bán
+ Sổ quỹ tiền mặt
+Sổ theo dõi thuế GTGT
+Sổ tiền gửi ngân hàng
+ Thẻ tài sản cố định
- Bảng kê:
- Nhật ký chứng từ
Trình tự ghi sổ :
Khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh kế toán tiến hành lập chứng từ, hàng
ngày căn cứ vào các chứng từ gốc kế toán phụ trách từng phần hành tập hợp ,
phân loại theo nội dung kinh tế . Sau đó kế toán tiến hành định khoản và lấy số
liệu ghi vào các Nhật ký chứng từ, bảng kê, sổ chi tiết có liên quan. Ngoài ra các
Nhật ký chứng từ được ghi căn cứ vào bảng kê.
Cuối tháng chuyển số liệu tổng cộng của bảng kê và sổ chi tiết vào Nhật
ký chứng từ. Khi khoá sổ, cộng số liệu trên các Nhật ký chứng từ đối chiếu với
số liệu trên sổ kế toán chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết có liên quan rồi lấy số liệu
tổng cộng của các Nhật ký chứng từ ghi trực tiếp vào Sổ Cái.
Đối với các chứng từ có liên quan đến sổ và thẻ kế toán chi tiết thì ghi trực
tiếp vào thẻ, sổ chi tiết có liên quan. Cuối tháng, cộng các sổ, thẻ chi tiết và căn
21
cứ vào sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết lập Bảng tổng hợp chi tiết theo từng tài khoản
rồi đối chiếu với Sổ Cái.
Cuối quý, năm, số liệu tổng cộng ở Sổ Cái và Nhật ký chứng từ, Bảng kê
và các Bảng tổng hợp chi tiết dùng để lập Báo cáo tài chính.
1.3.3.5. Hệ thống Báo cáo kế toán
Công ty đang áp dụng hệ thống báo cáo kế toán theo quyết định
Việc lập đúng lập đủ các Báo cáo tài chính là việc vô cùng quan trọng và
cần thiết. Vì Báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng trong việc phân tích, nghiên
cứu, phát hiện tiềm tàng và là căn cứ quan trọng đề ra các quyết định về quản lý
phù hợp. Mặt khác, Báo cáo tài chính còn cung cấp thông tin cho các đối tượng
bên ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng và người
lao động….
Các phần hành kế toán có quan hệ mật thiết với nhau trong việc lập các
Báo cáo nói trên, có tác dụng bổ sung thông tin cho nhau và là cơ sở để đối
chiếu, nhằm đưa ra Báo cáo kế toán trung thực và cung cấp thông tin tốt nhất cho
người sử dụng. Để lập Báo cáo giá thành sản phẩm thì phải kết hợp với các phần
hành kế toán TSCĐ, kế toán tiền lương, kế toán vật tư để thu thập số liệu cho
việc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, để từ đó kế toán trưởng lập Báo
cáo giá thành sản phẩm …Mặt khác Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp
nhất về tình hình tài sản, Vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài
chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Do đó, để lập 4 Báo cáo
23
tài chính thì cần phải tổng hợp số liệu của tất cả các phần hành kế toán như: kế
toán tiền mặt, tiền lương, TSCĐ, vật tư hàng hoá, chi phí, tiêu thụ và xác định
kết quả.
24
Phần 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng
Tiền Hải
2.1 Nội dung phân loại chi phí, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm
2.1.1. Phân loại chi phí sản xuất
Để đáp ứng nhu cầu của công tác tính giá thành thực tế của sản phẩm, chi
phí sản xuất ở Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải được phân loại
thành các khoản mục chi phí trong giá thành sản xuất sản phẩm bao gồm:
-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu