Đề tài luận án Nghiên cứu chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi ở tỉnh Quảng Nam (2015) - Pdf 25

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ VĂN THU NGHIÊN CỨU CHUỖI CUNG SẢN PHẨM
TÔM NUÔI Ở TỈNH QUẢNG NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ HUẾ - 2015
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Tôi xin cam đoan luận án Tiến sĩ kinh tế “Nghiên cứu chuỗi cung sản phẩm
tôm nuôi ở tỉnh Quảng Nam” là công trình do chính tôi nghiên cứu và thực hiện. Các
thông tin, số liệu được sử dụng trong luận án này hoàn toàn trung thực và chính xác.
Tất cả những sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn và các thông tin
trích dẫn trong luận án đã được ghi rõ nguồn gốc.

Tác giả luận án

iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (Association of South East Asian Nations)
2
BBNT
Bán buôn ngoài tỉnh
3
BLNT
Bán lẻ ngoài tỉnh
4
BQ
Bình Quân
5
BTC
Bán thâm canh
6
BRC
Tiêu chuẩn đáp ứng khách hàng cả an toàn và chất lượng (British Retail
Consortium)
7
C
Chi phí sản xuất kinh doanh
8
CCSPTN

Tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt (Good Manufacturing Practice)
19
GO
Tổng giá trị sản xuất (Goss Output)
20
HACCP
Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (Hazard Analysis and Critical
Control Points)
21
HĐTGT
Hoạt động tạo giá trị
22
ISO
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (International Standard Organization)
23
HTX
Hợp tác xã
24
MI
Thu nhập hỗn hợp
25
NTD
Người tiêu dùng
26
NS
Năng suất
27
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
28

Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
38
TACN
Thưc ăn công nghiệp
39
TB
Trung bình
40
TC
Thâm canh
41
TG-CH
Tam Giang - Cầu Hai
42
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
43
TTYTS
Thuốc thú y thủy sản
44
TXNG
Truy xuất nguồn gốc
45
VASEP
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Việt Nam (Vietnam Association of Seafood
Exporters and Producers
46
VSATTP
Vệ sinh an toàn thực phẩm


1.2.2. Thực tế về quản lý CCSPTN ở Việt Nam 46

vi
1.3. Tóm tắt chương 1 49
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến CCSPTN ở Quảng Nam 51
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 51
2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội 54
2.2. Thực trạng ngành hàng tôm nuôi ở tỉnh Quảng Nam thời kỳ 2007- 2012 58
2.2.1. Thực trạng nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 58
2.2.2. Nguồn cung con giống, thức ăn và thuốc phòng trừ dịch bệnh cho nuôi tôm 63
2.2.3. Tình hình tiêu thụ và chế biến tôm ở tỉnh Quảng Nam 64
2.3. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu và khung nghiên cứu CCSPTN 66
2.3.1. Phương pháp tiếp cận 66
2.3.2. Khung nghiên cứu CCSPTN 67
2.4. Phương pháp nghiên cứu 69
2.4.1. Chọn điểm nghiên cứu 69
2.4.2. Phương pháp thu thập thông tin và số liệu 70
2.4.3. Phương pháp phân tích 72
2.5. Tóm tắt chương 2 74
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG SẢN PHẨM
TÔM NUÔI Ở TỈNH QUẢNG NAM 75
3.1. Phân tích chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi ở tỉnh Quảng Nam 75
3.1.1. Cấu trúc về CCSPTN ở tỉnh Quảng Nam 75
3.1.2. Quá trình tạo giá trị trong chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi ở Quảng Nam 79
3.1.3. Dòng tài chính trong chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi ở Quảng Nam 95
3.1.4. Dòng thông tin trong chuỗi 101
3.1.5. Phân tích mối quan hệ hợp tác giữa các tác nhân trong chuỗi 104
3.2. Các yếu tố đầu vào chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả kinh tế đầu tư
nuôi tôm của hộ. 107

PHỤ LỤC 1 164
PHỤ LỤC 2 175
PHỤ LỤC 3 203
PHỤ LỤC 4 242
PHỤ LỤC 5 252

viii
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng Trang
Bảng 1.1. Năm trở ngại đến ngành tôm Việt Nam 48
Bảng 3.1. Kết quả và hiệu quả nuôi tôm của hộ nuôi 81
Bảng 3.2. Kết quả và hiệu quả của các cơ sở sản xuất giống 84
Bảng 3.3. Kết quả và hiệu quả chế biến thức ăn công nghiệp nuôi tôm 86
Bảng 3.4. Kết quả và hiệu quả kinh tế của hệ thống đại lý 87
Bảng 3.5. Kết quả và hiệu quả kinh doanh của thu gom lớn 89
Bảng 3.6. Kết quả và hiệu quả chế biến và xuất khẩu tôm 92
Bảng 3.7. Kết quả và hiệu quả của người bán buôn ngoài tỉnh 93
Bảng 3.8. Kết quả và hiệu quả của người bán lẻ ngoài tỉnh 94
Bảng 3.9. Kết quả và hiệu quả hoạt động tài chính của các tác nhân 98
trong CCSPTN ở tỉnh Quảng Nam 98
Bảng 3.10. Tỷ trọng chi phí HĐTGT, lợi nhuận của các tác nhân tham gia vào
CCSPTN thị trường tiêu thụ ngoài tỉnh 99
Bảng 3.11. Tỷ trọng CPHĐTGT, lợi nhuận của các tác nhân tham gia 100
vào CCSPTN thị trường xuất khẩu 100
Bảng 3.12. Kết quả ước lượng hàm sản xuất Cobb- Douglas của các hộ nuôi tôm
theo phương thức TC vụ 1 và TC vụ 2 ở tỉnh Quảng Nam 108
Bảng 3.13. Năng suất cận biên của các yếu tố đầu vào chủ yếu 111
đối với nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Quảng Nam 111
Bảng 3.14. Hiệu quả kinh tế trong việc đầu tư các yếu tố đầu vào chủ yếu 112
đối với nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Quảng Nam 112

DANH MỤC ĐỒ THỊ
Tên đồ thị Trang
Đồ thị 2.1. Giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản 57
Quảng Nam thời kỳ 2005-2012 57
Đồ thị 2.2. Giá trị sản xuất ngành thủy sản, nuôi trồng thủy sản 58
Quảng Nam thời kỳ 2005-2012 (giá so sánh năm 2010) 58
Đồ thị 2.3. Cơ cấu diện tích nuôi tôm ở Quảng Nam theo đối tượng nuôi 60
thời kỳ 2007-2012 60
Đồ thị 2.4. Giá trị sản xuất tôm nuôi và tốc độ tăng hàng năm ở Quảng Nam 62
thời kỳ 2005-2012 62
Đồ thị 2.5. Cơ cấu sản lượng tôm nuôi tiêu thụ nội địa và xuất khẩu 65
ở Quảng Nam thời kỳ 2007-2012 65
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu tôm hàng đầu của thế giới.
Năm 2011 tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng tôm đạt 2,4 tỷ USD tăng 17,64% so
với năm 2010, trong đó tôm sú chiếm 59,7%, tôm thẻ chân trắng chiếm 29,3% trong
tổng kim ngạch xuất khẩu tôm. Sản phẩm tôm của Việt Nam đã có mặt trên 91 quốc
gia và vùng lãnh thổ với 3 thị trường lớn nhất là Mỹ, Nhật Bản, EU chiếm hơn 65%
tổng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam [2] [3] [32].
Trong hơn hai thập kỷ qua, ngành nuôi tôm đã từng bước phát triển và đóng góp tỷ
trọng lớn trong tổng giá trị gia tăng của ngành thủy sản và trong GDP của nền kinh tế
nước ta; nó là một trong những ngành mà loại hình sản xuất chủ yếu là nông hộ, đang tồn
tại và ngày càng phát huy thế mạnh trong bối cảnh hội nhập, từng bước khai thác hiệu
quả các lợi thế cạnh tranh và khẳng định thế mạnh trên thị trường quốc tế [5] [32] [50].
Chuỗi cung nói chung và chuỗi cung sản phẫm tôm nuôi nói riêng là “con

hưởng đến quá trình đó là do chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi được nhìn nhận với tư
cách là một ngành hàng hoạt động chưa hiệu quả, mối liên kết giữa các tác nhân
tham gia trong chuỗi, khả năng kiểm soát các vấn đề ô nhiễm môi trường, vệ sinh
an toàn thực phẩm trong từng mắt xích còn hạn chế; lợi ích giữa các tác nhân, nhất
là người nuôi tôm chưa được phân phối hợp lý.
Từ thực trạng của chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi và bối cảnh hội nhập của nền
kinh tế tỉnh Quảng Nam đòi hỏi phải có những giải pháp thiết thực và hữu hiệu để
hoàn thiện các mối liên kết giữa các thành viên trong chuỗi thông qua các chức
năng hoạt động của nó nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, khả năng cạnh tranh và phát
triển ngành hàng tôm nuôi bền vững ở tỉnh Quảng Nam.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu chuỗi cung
sản phẩm tôm nuôi ở tỉnh Quảng Nam” làm luận án tiến sĩ kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Cung cấp luận cứ khoa học và đề xuất các giải pháp hoàn hiện chuỗi cung sản
phẩm tôm nuôi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững ngành hàng
tôm nuôi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

3
2.2. Mục tiêu cụ thể
(1) Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi (CCSPTN);
(2) Phân tích, đánh giá thực trạng CCSPTN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam;
(3) Đề xuất một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện CCSPTN nhằm nâng cao hiệu
quả kinh tế, khả năng cạnh tranh và phát triển ngành hàng tôm nuôi bền vững trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề liên quan đến chuỗi cung/chuỗi giá trị sản phẩm tôm nuôi xét
trong mối quan hệ mật thiết với hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh của ngành

việc đưa sản phẩm tôm nuôi từ chủ thể nuôi tôm đến người tiêu dùng. Các hoạt động của
chuỗi cung là quá trình tạo giá trị nhằm chuyển nguồn tài nguyên nước, đất đai, con
giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản… các sản phẩm qua xử lý, chế biến hoàn chỉnh và tổ
chức đưa sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng.
Luận án nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chuỗi cung/chuỗi giá trị sản phẩm
tôm nuôi trong mối quan hệ mật thiết với hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh của
sản phẩm tôm nuôi. Trước hết, thực trạng CCSPTN ở tỉnh Quảng Nam được phân tích
thông qua khung nghiên cứu với mô hình phân tích chuỗi cung theo quan điểm tích hợp
giữa phân tích chuỗi cung truyền thống với quan điểm giá trị gia tăng của Micheal Porter
trong khái niệm chuỗi giá trị. Mô hình này xác định các tác nhân tham gia trong từng mắt
xích thông qua quá trình vận động của dòng sản phẩm vật chất tạo nên cấu trúc của
CCSPTN, quá trình tạo giá trị, dòng tài chính, dòng thông tin và mối quan hệ hợp tác
giữa các tác nhân trong CCSPTN. Trong đó, quá trình tạo giá trị là quá trình quan trọng
nhất và cũng là mục tiêu chính của quản lý chuỗi cung. Phân tích chuỗi cung sản phẩm
tôm nuôi cũng bao gồm cả việc đánh giá các nhóm nhân tố như: điều kiện tự nhiên, thị
trường, chủ thể nuôi tôm, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, quản lý chuỗi
cung, cơ sở hạ tầng vùng nuôi và dịch vụ hỗ trợ tác động đến quá trình hoạt động của
chuỗi. Từ đó luận án xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá và các phương pháp nghiên cứu
CCSPTN ở tỉnh Quảng Nam. Với kết quả phân tích quá trình hoạt động tạo giá trị, luận
án đã đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế của từng tác nhân và toàn bộ chuỗi cung sản
phẩm tôm nuôi này. Luận án chỉ ra những hạn chế và bất cập về dòng thông tin, về quan

5
hệ liên kết hợp tác, quá trình tạo giá trị và sự bất hợp lý trong quá trình phân phối giá trị
gia tăng giữa các tác nhân với nhau, làm sáng tỏ những nguyên nhân dẫn đến sự thua
thiệt của hộ nuôi tôm trong quá trình phân phối lợi ích đó. Phân tích các nhân tố chủ yếu
ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả kinh tế đầu tư của hộ nuôi tôm - tác nhân trung tâm
của chuỗi; đồng thời, xác định lợi thế cạnh tranh của sản phẩm tôm nuôi, khẳng định khả
năng tồn tại và phát triển của ngành hàng này trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay. Luận án đã đi sâu đánh giá mức độ tác động theo hướng tích cực lẫn tiêu cực

thực phẩm liên quan đến toàn bộ chuỗi (tức là tất cả các giai đoạn bắt đầu từ người
cung cấp nguyên liệu đến các nhà bán lẻ) và bao gồm một tập hợp tất cả các chỉ số
hiệu suất. Dựa trên tài liệu về chỉ số hiệu suất hiện có và các mô hình trong các tài
liệu chuỗi cung, một khung khái niệm để đo lường hiệu suất của chuỗi cung nông
nghiệp - thực phẩm được phát triển bao gồm các chỉ số tài chính, phi tài chính, cũng
như kết hợp với đặc điểm cụ thể của chuỗi cung nông nghiệp - thực phẩm. Khuôn khổ
khái niệm này được sử dụng đánh giá trong một chuỗi cung cà chua Hà Lan - Đức và
tiếp tục phát triển thành một mô hình khái quát với những chỉ số hoạt động quan trọng.
Kết quả cho thấy: hiệu quả, linh hoạt, đáp ứng nhanh và chất lượng thực phẩm là bốn
thành phần hoạt động quan trọng và là cơ sở cho một hệ thống phương pháp đo lường
hiệu xuất của chuỗi cung nông nghiệp- thực phẩm. Nghiên cứu chưa làm rõ mối quan hệ
mật thiết giữa chuỗi cung với hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh của chuỗi [89].
Normansyah (2012), Luận án tiến sĩ với đề tài “Quản lý chuỗi cung bền vững,
trường hợp nghiên cứu ngành hàng ca cao ở Inđônêsia ”. Về mặt lý luận, luận án đã
đi sâu nghiên cứu phát triển nông nghiệp bền vững và chỉ ra mối quan hệ giữa phát
triển nông nghiệp bền vững với quản lý chuỗi cung nông nghiệp bền vững. Chuỗi
cung là công cụ đáp ứng các yêu cầu bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội thông
qua các hoạt động quản lý VSATTP, xử lý ô nhiễm môi trường trong từng giai đoạn
của từng tác nhân tham gia chuỗi cung nông nghiệp. Luận án đã xem xét vai trò của

7
quản lý chuỗi cung bền vững trong ngành hàng ca cao của Inđônêsia. Ở Inđônêsia,
chuỗi cung này đã phải đối mặt với nhiều trở ngại đối với việc triển khai các hoạt
động bền vững, chẳng hạn như thu nhập thấp của nông dân, việc sử dụng lao động trẻ
em, và việc sử dụng các phương tiện vận tải thông thường cho các mục đích thương
mại. Các kết quả của nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện hoạt động bền vững trong
từng giai đoạn khác nhau của chuỗi cung, tác động đến hiệu suất của toàn bộ chuỗi
cung. Mặc dù, nghiên cứu chỉ tập trung vào chuỗi cung ca cao ở Inđônêsia., nhưng
quan điểm về quản lý chuỗi cung nông nghiệp bền vững của nghiên cứu này sẽ được
kế thừa, vận dụng trong phân tích chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi của đề tài luận án

xuất và thương mại trong nước bằng các chính sách của chính phủ [101].
Võ Thị Thanh Lộc (2006), Luận án tiến sĩ với đề tài: “Quản lý chất lượng chuỗi
cung thực phẩm hải sản: cải tiến chất lượng chuỗi cung tôm – triển vọng của các công
ty thủy sản ở đông bằng Sông Cửu Long, Viêt Nam”. Nghiên cứu đã phát triển khung
quản lý chất lượng chuỗi cung, thông qua phương pháp tiếp cận kỹ thuật quản lý.
Khung nghiên cứu này bao gồm các biện pháp về chất lượng tôm và bảo đảm an toàn
(i) Trong sản xuất, chẳng hạn như quản lý và quan hệ đối tác về chất lượng giữa các
nhà cung cấp, (ii) Ở cấp công ty như quản lý chất lượng, đặc biệt là thực hiện HACCP,
và (iii) Ở khâu phân phối sản phẩm với việc tập trung về lưu trữ và vận chuyển. Ngoài
ra, khung này thể hiện vai trò của các chính phủ, các cơ quan nông nghiệp địa phương,
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Cục Quản lý chất lượng
thủy sản và Thú y là rất quan trọng để đạt được chất lượng và mục tiêu an toàn cho
thủy sản của Việt Nam trong toàn bộ chuỗi giá trị, đặc biệt là trong sản xuất. Các sản
phẩm của nghiên cứu cũng cung cấp một quá trình nâng cao chất lượng cho các công ty
thủy sản và các biện pháp tiềm năng để tiếp tục cải thiện an toàn sản phẩm và chất
lượng trong chuỗi. Nghiên cứu cho rằng: Trong chuỗi cung, mỗi công ty tiến hành một
số hoạt động cụ thể chuyển đổi nguyên liệu thô thành các sản phẩm tiêu dùng cuối
cùng. Khái niệm này đã được thực hiện rõ ràng hơn bởi khái niệm của Porter về “chuỗi
giá trị ” và “hệ thống giá trị". Mỗi công ty là một phần của một hệ thống giá trị, và hợp
tác toàn bộ hoạt động của hệ thống giá trị có thể được cải thiện. Đối với những công ty
hoạt động trong kinh doanh nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, điều quan trọng là
thiết lập quan hệ đối tác giá trị gia tăng [87]. Đề tài chưa đi sâu phân tích mô hình phân

9
tích chuỗi cung sản phẩm tôm, cũng như hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh của
ngành hàng tôm.
Trương Chí Hiếu (2012), Luận án tiến sĩ với đề tài: “Chuỗi cung tôm, quản lý
tài sản sở hữu chung và ô nhiễm môi trường tại phá Tam Giang Cầu Hai, Việt
Nam”. Mục đích của nghiên cứu này là xác định các yếu tố làm kiềm hãm chuỗi
cung tôm của phá Tam Giang Cầu Hai và đưa ra giải pháp nhằm cải tiến việc thực

và các tập đoàn bán lẻ ở thị trường nước ngoài yêu cầu các nhà cung cấp sản phẩm
tôm nuôi tuân thủ các quy định của các nước nhập khẩu về truy xuất nguồn gốc sản
phẩm, thực hiện chứng nhận về nuôi tôm bền vững. Kênh nội địa chưa thiết lập các
mối liên kết, sản xuất còn manh mún, chất lượng sản phẩm chưa ổn định. Luận án chỉ
ra những mối liên kết thông qua các kênh phân phối, chưa chỉ ra các mối liên kết từ
các kênh cung ứng các yếu tố đầu vào như thức ăn, con giống Nói cách khác, tác giả
chưa đề cập đến phân tích chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi của các tỉnh Duyên hải
miền Trung. Một hình thức tổ chức, một công cụ phân tích hữu ích có tính hệ thống
trong chuỗi ngành hàng tôm nuôi đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh
hội nhập của nền kinh tế nói chung, Duyên hải miền Trung nói riêng [4].
2. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về chuỗi cung sản phẩm nông nghiệp, sản
phẩm tôm nuôi, đề cập ở phần trên đã góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm về
mặt lý luận của chuỗi cung sản phẩm trong nông nghiệp, trong phân tích chuỗi cung
các tác giả đã đề cập đến 2 thuật ngữ chuỗi cung và chuỗi giá trị và đều cho rằng, hai
thuật ngữ này không mâu thuẫn nhau, chúng bổ sung cho nhau. Về phương diện thực
tiễn, các công trình nghiên cứu chuỗi cung sản phẩm nông nghiệp gắn liền các lĩnh vực
quản lý vi mô và cả vĩ mô, như: đo lượng hiệu suất, quản lý chuỗi cung bền vững, chuỗi
giá trị, chuỗi giá trị toàn cầu hay phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm
trong chuỗi cung, các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hoạt động chuỗi cung. Các nghiên
cứu cho rằng, các cơ quan của chính phủ đóng vai trò quan trọng đối với quá trình hoạt
động của chuỗi cung, như định hướng thị trường, quản lý chất lượng (tôm ở ĐBSCL),
quản lý ô nhiễm môi trường (chuỗi cung tôm ở phá TG-CH). Chuỗi cung là công cụ, biện
pháp hữu hiệu để tổ chức quản lý ngành hàng sản phẩm trong nông nghiệp, sản phẩm tôm
nuôi trong các lĩnh vực hoạt động liên quan như: công tác VSATTP, truy suất nguồn gốc,
phát triển bền vững trong nông nghiệp, ô nhiễm môi trường, quản lý chất lượng, phân phối

11
thu nhập giữa các tác nhân. Các tác giả đã chỉ ra những bất cập trong quản lý chuỗi cung
ảnh hưởng đến các khía cạnh đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện, phát triển

phương pháp phân tích chuỗi để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang
phát triển. Khái niệm chuỗi chỉ đơn giản bao hàm các mối quan hệ vật chất và kỹ
thuật, được sử dụng lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa, xác định những tác
nhân tham gia và hoạt động của họ [41]. Tùy theo giác độ nghiên cứu mà người ta
sử dụng những tên gọi khác nhau cho các chuỗi hoạt động và tổ chức. Khi nhấn
mạnh đến hoạt động sản xuất, người ta xem như các quy trình sản xuất; khi nhấn
mạnh đến khía cạnh marketing, họ gọi chúng là kênh phân phối; khi nhìn ở góc độ
tạo ra giá trị, người ta gọi chúng là chuỗi giá trị; khi nhìn nhận về cách thức thỏa
mãn nhu cầu của khách hàng, người ta gọi là chuỗi nhu cầu. Theo quan điểm
logistics của ngành hàng, chúng ta gọi là chuỗi cung [28] [82].
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về chuỗi cung:
“Chuỗi cung là sự liên kết giữa các công ty chịu trách nhiệm mang sản phẩm
hoặc dịch vụ ra thị trường” [82].
“Chuỗi cung bao gồm tất cả các giai đoạn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp
đến việc thỏa mãn yêu cầu của khách hàng. Chuỗi cung không chỉ bao gồm nhà sản
xuất và người phân phối mà còn cả người vận chuyển, nhà xưởng, người bán lẻ và
bản thân khách hàng ” [62].
“Chuỗi cung là mạng lưới các nhà xưởng và những lựa chọn phân phối nhằm
thực hiện chức năng thu mua nguyên vật liệu, chuyển vật liệu này thành bán thành
phẩm và thành phẩm, phân phối những thành phẩm này đến các khách hàng” [72].

13
Theo Christoper (2005), “Chuỗi cung là một mạng lưới của các tổ chức có liên
quan, thông qua các mối liên kết dòng thượng nguồn và hạ nguồn, trong các quá
trình và hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm, dịch vụ cho
khách hàng” [91].
“Chuỗi cung là một hệ thống bao gồm các tổ chức, con người, công nghệ, hoạt
động, luồng thông tin trao đổi giữa các tổ chức về biến động thị trường, năng lực
sản suất và các nguồn lực khác” [41].
Như vậy, có thể thấy rằng chuỗi cung thực chất là sự liên kết chuỗi các hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status