Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O’Brien - Pdf 25

Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HOÀNG CÚC

LIÊN VĂN BẢN TRONG
NHỮNG THỨ HỌ MANG CỦA TIM Ơ BRIEN LUẬN VĂN THẠC SĨ Hà Nội - 2014

Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 3

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Trong văn học nghệ thuật, nhân loại đã chứng kiến bao sự vận
động phát triển, từ manh nha đến lúc cực thịnh rồi thoái trào của chủ nghĩa
lãng mạn (romanticism) chủ nghĩa cổ điển (classicism)… Chủ nghĩa hiện
đại (modernism) rồi đến hậu hiện đại (postmodernism) vẫn đang tiếp tục là
những giai điệu mạnh mẽ trong bản giao hưởng văn học thế kỉ XX và đầu
thế kỉ XXI. Không chỉ đặt vấn đề xem lại quan niệm về hiện thực đời sống,
quan niệm về con người hậu hiện đại còn góp phần tạo ra những lý thuyết
mới, những hệ thống thi pháp mới, những cách đọc mới. Một trong số đó
chính là Liên văn bản (intertextuality).
Không phải đến hậu hiện đại, khái niệm liên văn bản mới xuất hiện,
nhưng ở hậu hiện đại liên văn bản đã mang diện mạo và nội hàm mới. Nó
trở thành một cách đọc, một phương pháp tiếp cận tác phẩm văn chương
về cả nội dung lẫn nghệ thuật, sâu xa hơn nữa là về lịch sử, thời đại, xã
hội, phông văn hóa của tác giả cũng như vùng miền nơi tác phẩm thuộc về.
Thậm chí, khái niệm liên văn bản còn làm thay đổi cả nội hàm của khái
niệm văn bản: không có một văn bản nào không phải là một liên văn bản
và ngược lại, liên văn bản nào cũng tồn tại như một văn bản.
1.2 Cuộc chiến tranh với quân đội Mỹ đã lùi xa gần bốn mươi năm,
nhưng nỗi đau để lại cho người dân ở cả hai bờ chiến tuyến vẫn hiện hữu
như nó chỉ mới rời đi ngày hôm qua. Những câu chuyện từ “phía bên kia”
kể những truyện chân thực về chiến tranh, về những nỗi ám ảnh, hối hận,
sợ hãi… của người lính Mỹ tham chiến tại Việt Nam đã không còn hiếm
Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 4


2. Lịch sử vấn đề
2.1. Theo Rjanskaya trong Liên văn bản – sự xuất hiện của lịch sử và
lý thuyết của vấn đề (Ngân Xuyên dịch) thuật ngữ liên văn bản lần đầu tiên
xuất hiện trong một tham luận của Kristeva nói về sáng tác của Bakhtin,
đọc tại hội thảo do R.Barthes chủ trì năm 1966. Mùa xuân năm 1967, tham
luận được công bố dưới dạng một bài báo đăng trên tạp chí Critique (Phê
bình) với nhan đề: Bakhtin, le mot, le dialogue et le roman – Bakhtin, lời
nói, đối thoại và tiểu thuyết.
Theo nghĩa rộng nhất, khái niệm này có thể hiểu là “sự tương tác của
các văn bản”, nhưng tùy vào lập trường nghiên cứu của các nhà khoa học
mà nội dung cụ thể của nó có thể biến đổi, cách hiểu về thuật ngữ này có
thể phân thành ba cách:
Thứ nhất, Liên văn bản như một thủ pháp văn học xác định (trích dẫn,
ám chỉ, bình giải, nhại, vay mượn), cách hiểu này đòi hỏi sự hiện diện của
văn bản gốc đã có trước và xu hướng của tác giả sử dụng văn bản gốc đó.
Nếu hiểu liên văn bản theo cách này, thì liên văn bản đã tồn tại trong văn
học Việt Nam từ thời trung đại, với việc trích dẫn các điển cố, điển tích
trong các tác phẩm, ý nghĩa của các điển cố điển tích này thường không
thay đổi.
Thứ hai, liên văn bản được hiểu như một thuộc tính bản thể của văn
bản. theo Barthes thì mọi văn bản đều là một liên văn bản với một văn bản
khác. Điều đó nghĩa là liên văn bản được nhận định như là sự xóa nhòa
ranh giới giữa các văn bản của tác giả riêng rẽ, giữa văn bản văn học cá
nhân và văn bản vĩ mô truyền thống, giữa các văn bản thuộc các thể loại và
loại hình khác nhau, giữa văn bản và độc giả, giữa văn bản và hiện thực.
Với ý nghĩa này, liên văn bản phản ánh một quy luật khách quan trong sự
Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 6


● Mức Độ Tiếp Nhận và Hợp Nhất (scale of adoption and
incorporation): Đây là ý thức về kỹ năng tiếp nhận, đan xen và hợp nhất
các chất liệu từ nhiều nguồn khác nhau vào trong một văn bản. Nhiều khi,
sự kết hợp khéo đến nổi, nếu không chú ý, chúng ta khó mà nhận ra được
tính chất tương liên của những tầng ý nghĩa trong việc xếp đặt các dữ kiện.
Thứ ba, khái niệm liên văn bản được triển khai trong lý thuyết của các
nhà hậu cấu trúc luận (post–structuralist) Pháp (R. Barthes, J. Derrida, J.
Lacan, M. Foucault, J–F. Lyotard, G. Deleuze, F. Guattari) và được các
nhà giải cấu trúc luận (deconstructivist) Mỹ (P. de Man, H. Bloom, J.
Harmann, J. H. Miller) vay mượn với ý nghĩa gần như nghĩa gốc. Theo
quan niệm của họ, thế giới hiện ra với chủ thể trong ngôn ngữ; điều đó
nghĩa là cả thế giới, cả tâm lý của chủ thể đều được cấu trúc theo các quy
luật ngôn ngữ (tâm phân học của J. Lacan); ngôn ngữ bị mất đi chức năng
biểu hiện và không còn là cái biểu đạt siêu nghiệm (J. Derrida), và như
vậy, ý nghĩa nảy sinh không phải trong sự mô phỏng (mimesis), mà trong
ký hiệu (semiosis), tức là trong trò chơi tự do với nghĩa của các văn bản
văn hóa. Nói cách khác, thế giới được hiểu như một văn bản.
Vì vậy, trong hầu hết các tác phẩm (văn bản) hậu hiện đại, người viết
tạo ra càng nhiều yếu tố tự do trong ngôn ngữ bao nhiêu sẽ càng tốt bấy
nhiêu (trò chơi của ngôn ngữ. Trong những trò chơi ngôn ngữ như thế, lằn
ranh của mọi thể loại (genre) bị xoá mờ và biên giới của nhiều lĩnh vực
nghệ thuật dần dần biến mất.
2.2. Tác phẩm The things they carried của Tim O‟Brien được in hoàn
chỉnh ở Mỹ năm 1990, nhưng đến năm 2011, mới được dịch và xuất bản ở
Việt Nam với tên gọi Những thứ họ mang. Tác phẩm đã nhanh chóng
giành được tiếng vang và được đưa vào chương trình giảng dạy trong
Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 8


học về cuộc đời và tác phẩm của ông (Critical companion to Tim O’Brien:
a literary reference to his life and work), New York: Facts on File, 2011,
(), tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Tim
O‟Brien.
Airami C. Bentz, Từ người lính đến người kể chuyện: Tái hiện về
chiến tranh Việt Nam qua văn xuôi hư cấu của Tim O’Brien, Gustav
Hasford và Larry Heinemann (From soldiers to storytellers: reimaginings
of the Vietnam War through the fiction of Tim O’Brien, Gustav Hasford
and Larry Heinemann), Havard University, 2007, ,
phân tích các sáng tác của Tim O‟Brien, qua đó tái hiện lại cuộc chiến
tranh qua những chi tiết, sự kiện trong tác phẩm đồng thời so sánh hai vai
trò người lính và nhà văn của ông,
Mark A. Heberle, Nghệ sĩ bị chấn thương: Tim O’Brien và văn xuôi
hư cấu về Việt Nam (A trauma artist: Tim O’Brien and the fiction of
Vietnam), Iowa City, IA: University of Iowa Press, 2001,
là những nhận định về các tác phẩm mang chủ đề
chiến tranh của Tim O‟Brien.
Christopher Donovan, Phản tự sự hậu hiện đại: Mỉa mai và người
đọc trong tiểu thuyết của Paul Auster, Don DeLillo, Charles Johnson và
Tim O’Brien (Postmodern counternarratives: irony and audience in the
novels of Paul Auster, Don DeLillo, Charles Johnson, and Tim O’Brien),
New York: Routledge, 2005, , phân tích so sánh
tính hậu hiện đại trong sáng tác của Tim O‟Brien với các nhà văn Paul
Auster, Don DeLillo, Charles Johnson.
Stefania Ciocia, Việt Nam và phía kia: Tim O’Brien và quyền lực kể
chuyện (Vietnam and beyond: Tim O’Brien and the power of storytelling),
Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 10


, tái hiện lại cuộc chiến tranh Việt Nam dưới góc
nhìn từ phía quân đội Mỹ.
Michele Friedlander, Siêu hư cấu và “Hành trang họ mang” của
O’Brien (Metafiction and O’Brien's The Things They Carried), 2000,
nghiên cứu về siêu hư cấu trong Những
thứ họ mang.
Qua lược thuật các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi rút ra những
điều sau để làm điểm tựa triển khai đề tài:
Các chi tiết, sự kiện về cuộc đời, sự nghiệp của Tim O‟Brien và các
nghiên cứu về mô hình sáng tác của ông đã cung cấp cho chúng tôi những
thuận lợi trong việc nghiên cứu Chương 2: Liên văn bản từ góc độ tiếp
biến hiện thực và hư cấu.
Việc so sánh bút pháp của Tim O‟Brien với các nhà văn viết về chiến
tranh khác giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan về phong cách và sự phát
triển của dòng văn học chiến tranh trong nền văn học Mỹ, đặc biệt là trong
văn chương hậu hiện đại.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của liên văn bản là đề cao vai trò của người đọc trong tiếp
nhận. Với người đọc hậu hiện đại, đọc không còn là kiểu thưởng thức thụ
động thuần túy mà đọc đồng nghĩa với giải mã và tạo nghĩa cho văn bản.
Bằng việc phân tích, soi chiếu Những thứ họ mang từ góc độ liên văn
bản, chúng tôi mong muốn có thể “bóc tách” tác phẩm, tìm ra được từng
lớp văn bản chồng chéo, đan cài vào nhau cũng như những giao điểm của
các văn bản và các “giải trình ngôn ngữ”.
Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 12

4. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi tập trung đi sâu phân tích

1.1. Khái niệm hậu hiện đại
1.1.1. Cảm quan triết học hậu hiện đại
Thuật ngữ “postmodern” – hậu hiện đại hình thành trong vốn từ vựng
triết học qua việc Jean – François Lyotard công bố tác phẩm La Condition
Postmoderne năm 1979 (tên tiếng Anh: The Postmodern Condition: A
Report on Knowledge, 1984), ông dùng mô hình ngôn ngữ trò chơi của
Wittgenstein và những tư tưởng từ lý thuyết lời nói – hành động (speech
act theory) để giải thích nguyên nhân cái ông gọi là sự biến đổi của nguyên
tắc trò chơi trong khoa học, nghệ thuật và văn học từ cuối thế kỉ XIX. Ông
mô tả văn bản như sư kết hợp hai trò chơi ngôn ngữ của nhà triết học và
nhà văn. Nơi nhà văn biết điều gì anh ta biết và điều gì anh ta không biết,
nhà triết học cũng không biết nhưng lại đặt câu hỏi.
Vì sự mơ hồ này, Lyotard khẳng định cách miêu tả “không cố gắng
làm người khác tin điều gì là nguyên gốc hay thậm chí là sự thật” (“makes
no claims to being original or even true”), và giả thuyết “không nên thống
nhất giá trị tiên đoán với thực tế, nhưng nên thống nhất giá trị chiến lược
với câu hỏi được đặt ra” (“should not be accorded predictive value in
relation to reality, but strategic value in relation to the questions raised”)
[18,7]. Cuốn sách trở thành một cuộc thử nghiệm việc kết hợp trò chơi của
Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 14

ngôn ngữ hơn việc chỉ là một “báo cáo” khách quan.
Trong ý kiến của Lyotard, kỉ nguyên máy tính đã biến đổi tri thức
thành thông tin, thông điệp được mã hóa trong hệ thống truyền dẫn và liên
lạc. Việc nghiên cứu vấn đề này cần căn cứ vào thực tế về thông tin liên
lạc gần đây như diễn đạt thông điệp, truyền đạt và tiếp nhận tin tức, quan
trọng là phải tuân theo luật pháp để được chấp nhận. Tuy nhiên, như
Lyotard chỉ ra, vị trí, hoàn cảnh của việc đánh giá hay của cơ quan lập

phong tục tập quán.
Cảm quan hậu hiện đại không “than khóc” cho việc mất tính mạch lạc
trong trần thuật. Tuy nhiên, trần thuật biến mất để lại sự hợp lý cho tiêu
chuẩn thống nhất mới: biểu hiện của hệ thống tạo ra tri thức trong mô hình
tư bản là thông tin. Tính hợp lý của biểu hiện nghĩa là tăng cực đại dòng
chảy thông tin và giảm đến mức tối thiểu sự tĩnh tại (hoạt động không thiết
thực) trong hệ thống, vì vậy bất cứ điều gì không thể truyền đạt giống như
thông tin phải bị loại bỏ. Tiêu chuẩn biểu hiện đe dọa bất cứ điều gì không
đáp ứng được yêu cầu của nó, như trần thuật suy đoán, với sự vô lý và loại
trừ. Tuy nhiên, tư bản cũng yêu cầu việc tái phát minh liên tục cái “mới”
trong những trò chơi ngôn ngữ mới và việc biểu hiện nghĩa trực tiếp, và vì
vậy, lỗi ngộ biện (paralogy) được hệ thống quy định một cách ngược đời.
Về mặt này, sự phát triển hiện đại dưới các quy định được thiết lập đã đưa
đến cho mô hình hậu hiện đại việc phát minh những luật lệ mới và thay đổi
trò chơi.
Lyotard bắt đầu câu hỏi về luật pháp trong Chỉ là trò chơi – Just
Gaming và Sự khác biệt: Lối tranh luận - The Differend: Phrases in
Dispute, nơi ông kết hợp mô hình ngôn ngữ trò chơi với việc phân chia
quan năng của Kant (hiểu biết, tưởng tượng, lý do) cũng như sự phê phán
Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 16

của Kant (lý thuyết, thực tiễn, mỹ học) để khám phá vấn đề của luật pháp
được trình bày trong Hậu hiện đại - The Postmodern Condition. Tập ba
cuốn Phê bình - Critique của Kant vì vậy cung cấp chất liệu khái niệm cho
việc nghiên cứu của Lyotard, nhất là trong phê bình mỹ học.
Trong Hậu hiện đại là gì xuất hiện như phụ lục bản tiếng Anh của
The Postmodern Condition Lyotard nhấn mạnh tầm quan trọng của nghệ
thuật tiên phong trong mỹ học của cái cao cả. Nghệ thuật hiện đại là biểu

things is not the inviolable identity of their origin; it is the dissension of
other things. It is disparity” [dẫn theo 18,142]. Nghiên cứu về Nietzsche,
Foucault cho thấy lịch sử được diễn đạt như nguyên gốc và phát triển như
một môn học đặc trưng, ví dụ, “cái hiện đại” mang tính hư cấu bắt nguồn
từ thực tế. Nằm dưới sự hư cấu về cái hiện đại là cảm quan của sự tạm thời
loại trừ những nhân tố cơ hội và tính ngẫu nhiên xuất hiện ở mọi thời
điểm. Tóm lại, lịch sử phát triển không ngừng và che đậy những gián đoạn
đánh dấu những thời điểm nối tiếp nhau trong lịch sử.
Foucault triển khai bảng phả hệ để tạo nên cái ông gọi là “counter–
memory” – “phản kí ức” hay “sự chuyển dịch của lịch sử sang một mô
hình thời gian hoàn toàn khác” [dẫn theo 18,60]. Điều này đòi hỏi xóa đi
đặc tính của chủ thể trong lịch sử bằng việc dùng chất liệu và kĩ thuật của
việc nghiên cứu lịch sử hiện đại, Foucault đòi hỏi các nghiên cứu về phả
hệ sẽ phải dẫn tới việc tan rã của các chủ thể tri thức bởi tính liên tục của
chủ thể sẽ bị phá vỡ bởi các bước gián đoạn và sự tình cờ mà các nghiên
cứu lịch sử đã không phát hiện ra.
Nhà phê bình toàn diện và xuất sắc nhất của triết học hậu hiện đại là
Jürgen Habermas. Trong Diến ngôn triết học hiện đại ông đối diện với chủ
nghĩa hậu hiện đại ở mức độ xã hội và “hoạt động giao tiếp”. Ông không
Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 18

bênh vực khái niệm chủ thể được quan niệm như ý thức hoặc cái tôi tự trị,
chống lại cuộc công kích của những nhà hậu hiện đại, nhưng ủng hộ những
luận chứng trong sự kết nối liên chủ thể (inter–subjectivity) tương phản
với những kế hoạch thực nghiệm tiên phong. Ví dụ, ông khẳng định
Nietzsche, Heidegger, Derrida và Foucault đưa ra sự mâu thuẫn biểu hiện
trong lối phê bình chủ nghĩa hiện đại bằng các khái niệm và phương pháp
mà chỉ các lý lẽ hiện đại mới đưa ra được.

tranh luận phê bình hiện nay. Trong khi những nhà hậu hiện đại đã loại bỏ
lối phê bình này hoặc đáp lại bằng phản chiến lược tu từ học. Ví dụ,
Lyotard đã loại bỏ khái niệm mối liên hệ liên chủ thể, điều này được các
nhà phê bình hậu hiện đại khác nhất trí, đây được coi là mục tiêu cơ bản
của diễn ngôn. Những nhà hậu hiện đại hưởng ứng với Habermas do thực
tế ông nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại nghiêm túc và không bác bỏ
nó như những nhà phê bình khác. Ông có thể đọc kỹ lưỡng các văn bản
hậu hiện đại và cố gắng làm chúng dễ hiểu hơn, dù những luận chứng đó
nhiều khi còn rời rạc. Ông cũng đồng ý với các nhà hậu hiện đại rằng mục
tiêu của cuộc tranh luận nên tập trung vào cái hiện đại bởi nó được nhận ra
trong thực tiễn và thể chế hiện đại, hơn là trong lý thuyết nhận thức hay chỉ
trong ngôn ngữ học. Trong khía cạnh này, mối quan tâm của Habermas với
mối liên hệ liên chủ thể giúp làm sáng tỏ cơ sở mà các nhà hiện đại – hậu
hiện đại tiếp tục tranh luận.
1.1.2. Hậu hiện đại trong văn học
Chủ nghĩa hậu hiện đại mang đến sự khác biệt cho mọi lĩnh vực của
nghệ thuật và vốn tri thức mà chúng ta hằng biết, trong đó có văn học.
Giống như văn học hiện đại, văn học hậu hiện đại là một phần của sự phát
triển lịch sử và văn hóa – xã hội. Nó được coi là cách đặc trưng để mô tả
Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 20

đời sống và văn hóa hậu hiện đại. “Bản sắc” của hậu hiện đại trong văn
học có thể tóm lại trong những đặc điểm chính sau:
Trong văn bản văn học hậu hiện đại, ý tưởng về cái nguyên bản và
tính xác thực bị suy yếu dần và bị nhại (parody). Tác phẩm văn học hậu
hiện đại có thể sử dụng những hình thái, thể loại văn học cũ cùng các đoạn
trích dẫn, ám chỉ và các phương thức khác để cấu kết lại ý nghĩa trong
những ngữ cảnh khác nhau để biểu lộ sự khác biệt giữa mô hình quá khứ

điều bất khả bởi vì chính cái bất khả cũng có nét mê hoặc” [1,46].
Cách hiểu đơn giản nhất về siêu hư cấu là “hư cấu về sự hư cấu”,
nhưng tác phẩm hư cấu hậu hiện đại còn đi xa hơn. Waugh đã định nghĩa
về siêu hư cấu như sau: “Siêu hư cấu là thuật ngữ được dùng trong văn bản
viết hư cấu thu hút sự chú ý tới trạng thái của văn bản một cách có ý thức
và có hệ thống như là một tạo tác để đặt câu hỏi về mối quan hệ giữa thực
tế và hư cấu. Để đưa ra các phương pháp xây dựng lối phê bình này, các
bài viết không chỉ nghiên cứu cấu trúc cơ bản của truyện kể hư cấu, mà
còn khám phá tính hư cấu khả thi của thế giới bên ngoài văn bản. “…a
term given to fictional writing which self–consciously and systematically
draws attention to its status as an artifact in order to pose questions about
the relationship between fiction and reality. In providing a critique of their
own methods of construction, such writings not only examine the
fundamental structures of narrative fiction, they also explore the possible
fictitiousness of the world outside the literary/fictional text” [40, 1]. Bằng
cách dùng những yếu tố siêu hư cấu, các nhà văn hậu hiện đại đã chỉ ra sự
khác biệt giữa thực tế đời sống và sự thực trong văn bản, nhấn mạnh ngôn
ngữ “hoạt động” dựa trên nhiều nguyên tắc khác nhau chứ không chỉ dựa
vào thực tế. Đồng thời, việc dùng các yếu tố siêu hư cấu cũng chỉ ra tính
hư cấu trong tiểu thuyết, truyện ngắn,… liên quan đến cả độc giả trong
Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 22

việc tạo nghĩa của văn bản, và chỉ ra sự khác biệt giữa nghệ thuật trong quá
khứ và hiện tại, giữa cảm quan quá khứ và cảm quan hiện đại. Siêu hư cấu
có thể được trình bày bằng các cách thức như trích dẫn, ám chỉ, diễn giải,
nhại, châm biếm, liên văn bản,…
Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của tác phẩm văn học hậu
hiện đại liên quan chặt chẽ đến siêu hư cấu là liên văn bản. Đây là thuật

liên văn bản là đề cao vai trò của người đọc trong tiếp nhận. Người đọc
không còn thưởng thức thụ động văn bản mà tham gia vào quá trình giải
mã, tạo nghĩa cho văn bản. Nhà văn khi viết phải chú ý đến độc giả và tạo
nên nhiều khoảng trống cho văn bản.
Trong khi văn học hiện đại chú ý đến chiều sâu của văn bản thì văn
học hậu hiện đại lại nhấn mạnh đến bề mặt của văn bản. Theo quan điểm
của Frederic Jameson, vẻ bề ngoài và ý nghĩa trực tiếp – có thể coi là đặc
điểm chính thức quan trọng nhất của tất cả nền chủ nghĩa hậu hiện đại. Các
tác giả hậu hiện đại loại bỏ khả năng tìm và phản ánh chiều sâu ý nghĩa,
đồng thời nhấn mạnh trò chơi tự do của biểu tượng, kí hiệu dẫn tới việc gợi
nên văn bản – đó là ngôn ngữ không được hiểu như việc bộc lộ khách thể
hữu hình hay những sự thật sâu sắc, mà là những kí hiệu.
Theo quan điểm của Anton Pokrivčák, trong diễn ngôn hậu hiện đại
“Sự tạo nghĩa được cho là thiếu nền tảng siêu nghiệm và được chi phối bởi
trò chơi của bề mặt kí hiệu. Tính ngẫu nhiên của trò chơi phơi bày khái
niệm tổng quát phổ biến” – “Meaning–production is supposed to lack any
transcendal grounding and is governed only by the play of „surface‟
signifiers. The randomness of this play discloses the general concept–as–
generalization” (Pokrivčák, Postmodern Being and Text, Žilka, T.(ed.),
1998, 40). Theo ông, điều này dẫn tới việc tạo ra đặc trưng của những trích
Liên văn bản trong Những thứ họ mang của Tim O‟Brien

Nguyễn Hoàng Cúc – Cao học Văn K56 Page 24

dẫn “citational” trong mỗi kí hiệu, thực tế cuộc sống được coi như một văn
bản.
Một ảnh hưởng quan trọng trong việc tạo thành nền văn học hậu hiện
đại và nguồn gốc cho việc tạo ra những kĩ thuật tự sự hậu hiện đại là phá
bỏ dần dần những nguyên tắc bắt chước và sự mô tả hiện thực. Những
khuynh hướng này xuất hiện sớm dù chưa thành hệ thống trong Gargantua

Nếu hiểu liên văn bản theo cách này, thì liên văn bản đã tồn tại trong văn
học Việt Nam từ thời trung đại, với việc trích dẫn các điển cố, điển tích
trong các tác phẩm, ý nghĩa của các điển cố điển tích này thường không
thay đổi.
Thứ hai, liên văn bản được hiểu như một thuộc tính bản thể của văn
bản. theo Barthes thì mọi văn bản đều là một liên văn bản với một văn bản
khác. Điều đó nghĩa là liên văn bản được nhận định như là sự xóa nhòa
ranh giới giữa các văn bản của tác giả riêng rẽ, giữa văn bản văn học cá
nhân và văn bản vĩ mô truyền thống, giữa các văn bản thuộc các thể loại và
loại hình khác nhau, giữa văn bản và độc giả, giữa văn bản và hiện thực.
Với ý nghĩa này, liên văn bản phản ánh một quy luật khách quan trong sự
tồn tại của văn học. Và cách hiểu này là ý nghĩa cho thuật ngữ liên văn bản
lần đầu tiên xuất hiện trong công trình của Kristeva.
Theo Kristeva, tuy có sự quy chiếu hai chiều trên hệ toạ độ, trục
ngang (horizontal axis) – thể hiện sự liên kết giữa tác giả và người đọc; và
trục dọc (vertical axis) – biểu tượng cho sự liên kết một văn bản này đến
những văn bản khác bà nhấn mạnh rằng, sự minh hoạ chỉ có tính cách
tượng trưng hơn là sự xếp đặt cứng nhắc và máy móc vào một hệ thống
như thế. Theo bà, liên văn bản sẽ là sự toả lan ra mọi chiều không gian và
thời gian, và việc theo đuổi một hướng nào đó là tuỳ thuộc vào sự chọn lựa

Trích đoạn Những thứ họ mang nhƣ sự tổng hòa của các thể loại khác So sánh Những thứ họ mang với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Tiếng Việt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status