LUẬN VĂN: Bàn về những mâu thuẫn trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay potx - Pdf 12


LUẬN VĂN:

Bàn về những mâu thuẫn trong nền
KTTT định hướng XHCN ở nước ta
hiện nay
A. Đặt vấn đề

Nền kinh tế nước ta từ trước những năm 90 của thế kỷ 20 là nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung. Sự thiếu năng động của mọi thành phần kinh tế cũng như các chính sách,
chiến lược kinh tế chính trị lúc bấy giờ đã làm cho kinh tế trong nước yếu kém, đời sống
xã hội gặp nhiều khó khăn. Kể từ khi nhận thức được điều đó, Đảng và Chính phủ đã có
những chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp, chuyển đổi kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể nói sự thay đổi này đã làm “ thay da đổi thịt”
nền kinh tế trong nước. Hơn mười năm qua là những năm nền kinh tế mang lại nhiều
thành tựu lớn cả về mặt xã hội, kinh tế, chính trị. Đời sống nhân dân được cải thiện, đất
nước không những giữ vững được ổn định về chính trị trước những chấn động lớn trên
thế giới mà còn có bước phát triển đi lên. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình
quân 7%/năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng đáng kể 13,5%/năm, sản xuất lương thực,

ta.
Phương hướng giải quyết các mâu thuẫn.
B. Nội dung

1. Tính tất yếu và những đặc trưng của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
1.1. Tính tất yếu của quá trình xây dựng nền KTTT ở Việt nam.
1.1.1. Khái niệm nền KTTT định hướng XHCN
“Kinh tế thị trường định hướng XHCN thực chất là nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng
XHCN
(6)
. Kinh tế thị trường hoạt động dưới sự điều tiết và tác động lẫn nhau của các quy
luật vốn có của nó như quy luật cung – cầu, giá cả, cạnh tranh…
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đó toàn bộ
các yếu tố “ đầu vào” và “ đầu ra” của của sản xuất đều thông qua thị trường.
Trước đổi mới, trong quan điểm về chủ nghĩa xã hội, người ta hiểu kinh tế thị
trường chỉ là đặc trưng của CNTB còn trong CNXH sẽ không còn KTTT. Thời gian đầu
của quá trình đổi mới, tuy chúng ta hiểu rằng KTTT là điều không tránh khỏi trong quá
trình xây dựng CNXH, nhưng vẫn còn thái độ hoài nghi, chưa tin tưởng về khả năng dung
hợp của KTTT với bản chất của CNXH. KTTT là bước phát triển tất yếu của nền kinh tế
và nền văn minh nhân loại, là trình độ phát triển cao hơn của nền kinh tế nhân loại sau
kinh tế thị trường TBCN. Có quan niệm như vậy mới thấy được rằng bản chất của thời kỳ
quá độ từ TBCN đi lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới không phải là sự xoá bỏ nền
KTTT nói chung mà là sự quá độ TBCN nền KTTT sang CNXH.

1.1.2. Tính tất yếu của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
Tính tất yếu của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta dựa trên các cơ sở sau:


1.2. Đặc trưng của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam có 5 đặc trưng tổng quát
sau:
1.2.1 Đặc trưng về định hướng mục tiêu của nền kinh tế.
Đó là thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Để đạt được
mục tiêu này trước hết phải phát triển lực lượng sản xuất , động viên mọi nguồn lực xã
hội , phát huy cao độ tính năng động , sáng tạo của toàn dân, khai thác mọi tiềm năng
trong nước đi đôi với sử dụng có chọn lọc thành quả và kinh nghiệm quốc tế thúc đẩy
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm sớm cây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của cơ chế xã
hội ở Việt Nam.

1.2.2. Đặc trưng về thể chế kinh tế
Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là thể chế của các chủ thể kinh tế tự
do , tự chủ kinh doanh theo pháp luật. Kinh tế thị trường nước ta có nhiều hình thức sở
hữu , nhiều thành phần kinh tế vừa liên kết, hợo tác với nhau nhằm phát triển trình độ xã
hội hoá cao, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước có vai trò chủ đạo trong một số lĩnh vực
và một số khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế- xã hội theo
định hướng XHCN của đất nước.

1.2.3. Đặc trưng về thể chế quản lý
Trong quản lý điều hành các hoạt động kinh tế phải bảo đảm các hoạt động thị
trường được diễn ra theo nguyên tắc thị trường, tức là phù hợp với các quy luật giá trị,
cung cầu, cạnh tranh, hạn chế tối đa các mệnh lệnh hành chính không cần thiết. Mặt khác,
phải làm tốt kế hoạch hoá ở tầm vĩ mô và các hoạt động định hướng , có hệ thống chính
sách kinh tế phù hợp để điều tiết, hướng dẫn thị trường theo các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã
lựa chọn.

Trong lịch sử xã hội loài người, nếu xét kĩ, chúng ta đều thấy, sự phân hoá giàu
nghèo gần như là một xu thế vốn có của đời sống xã hội. Ngay từ trong lòng xã hội cộng
sản nguyên thuỷ xu thế đó đã đưa đến sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thuỷ . Sở dĩ
xu thế đó là vốn bởi vì con người sinh ra đã khác nhau về thể lực, thể chất và tinh thần,
thêm vào đó khác nhau về cơ hội và điều kiện xã hội cũng góp phần tạo nên sự khác biệt
về thu nhập, được tích tụ dần dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội. Các chế độ xã
hội, các quốc gia khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của mình mà xử lí việc
phân hoá giàu nghèo này theo những cách thức riêng.
Kinh tế thị trường không thể thủ tiêu phân hoá giàu nghèo, trái lại, nó là một
trong những môi trường thuận lợi nhất cho sự phân hoá giàu nghèo phát triển. Đồng thời,
nó cũng là phương thức phát triển kinh tế năng động nhất trong các phương thức phát
triển kinh tế từ trước tới nay. Vì vậy sự phân hoá giàu nghèo trong điều kiện nước ta mới
áp dụng cơ chế thị trường đã trở thành một trong những vấn đề nổi cộm. Chính sự phân
hoá giàu nghèo đã tạo nên mâu thuẫn với mục tiêu xây dựng XHCN ở nước ta là xây
dựng xã hội công bằng, bình đẳng.
Trong nhiều năm gần đây, vần đề công bằng xã hội được đề cập đến trong nhiều
công trình nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường. Trên thực tế vấn đề
công bằng xã hội thường được coi như một chính sách xã hội nhằm tập trung chủ yếu vào
việc giải quyết vấn đề phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội một cách đồng đều ,
thậm chí là một giải pháp hạn chế sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội.
Công bằng xã hội và bình đẳng xã hội là hai khái niệm thường được cùng nhắc
đến, nhưng đây là hai khái niệm khác nhau. Công bằng xã hội trước hết là nói đến sự
ngang bằng nhau giữa người và người trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa
cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau.
Còn nói đến bình đẳng xã hội là nói đến sự ngang bằng nhau giữa người với người trong
các lĩnh vực xã hội, chẳng hạn về kinh tế, chính trị, văn hoá, pháp luật .
ở nước ta , sự phân hoá giàu nghèo dựa trên lao động chính đáng đang được xã

trở thành mối quan tâm của nhiều nước.
ở Việt Nam , từ khi chuyển sang nền KTTT , việc giữ gìn và phát huy các giá trị
đạo đức truyền thống cungx như việc xây dựng hệ giá trị đạo đức mới đã và đang đặt ra
nhiều vấn đề cần giải quyết. Kinh tế càng phát triển, càng có nhiều người giàu trong xã
hội. Đó cũng chính là mục tiêu vươn tới trong quá trình phát triển nền kinh tế nước ta hiện
nay, đó là “ Dân giàu, nước mạnh”. Từ chỗ đủ ăn mặc, giờ đây những người dân còn quan
tâm đến những nhu cầu khác như giải trí, tín ngưỡng tôn giáo…Đó là những nhu cầu
chính đáng của con người trong một xã hội ngày càng được xã hội hoá cao.Bản chất xã
hội của mỗi cá nhân ngày càng phát triển. Chúng ta có thể xây dựng cuộc sống văn minh.
Điều đó sẽ tạo điều kiện phát triển của những giá trị đạo đức truyền thống và học hỏi giao
lưu với những nền văn hoá khác trên thế giới.
Bên cạnh mặt tích cực đó cũng phát sinh những mặt đối lập tiêu cực . Đó là
những biểu hiện coi nhẹ giá trị truyền thống, chạy theo thị hiếu không lành mạnh . Đặc
biệt là “tệ sùng bái nước ngoài, coi thường các giá trị văn hoá dân tộc, chạy theo lối sống
thực dụng, cá nhân vị kỉ đang gây hại đến thuần phong mĩ tục của dân tộc. Không ít
trường hợp vì đồng tiền và danh dự mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy
trò,đồng chí, dồng nghiệp. Buôn lậu, tham nhũng phát triển. Ma tuý mại dâm và các tệ
nạn khác gia tăng.”
(6)

Điều đáng buồn là tình trạng buông lỏng giáo dục trong gia đình. Có nhiều gia
đinh bố mẹ mải mê làm giàu không quan tâm đến con cái. Con muốn gì là bố mẹ cho tiền
để mua, điều đó khiến cho những đứa trẻ sống thiếu tình cảm và sự săn sóc của bố me
đồng thời sinh thoi ích kỉ, hưởng thụ. Nếu bố mẹ không đáp ứng nhu cầu của chúng là
chúng chống đối, bỏ nhà đi “bụi”. Những quan hệ xã hội bị sức mạnh đồng tiền làm băng
hoại. Vì tiền mà con cái hành hung cha mẹ, anh em từ bỏ nhau các quan hệ gia đình bị
đảo lộn. Chính sự rối loạn trong gia đình là một trong những nguyên nhân làm cho cái ác,

trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay diễn ra hết sức phức tạp. Đó là vấn đề
đáng lo ngại và cần báo động.

2.3. Mâu thuẫn giữa mục tiêu phát triển kinh tế và vấn đề ô nhiễm môi trường
Môi trường là tổng hợp các điều kiện sống của con người, phát triển là quá trình
cải tạo và cải thiện các điều kiện đó. Vì vậy giữa môi trường và phát triển có mối quan hệ
biện chứng rất chặt chẽ. Môi trường là địa bàn và đối tượng của phát triển
“ Hai hệ thống là hệ thống môi trường và hệ thống kinh tế –xã hội luôn tồn tại
song song trong phạm vi một quốc gia. Giữa hai khu vực này giao nhau tạo thành hệ môi
trường nhân tạo, có thể xem như là kết qủa tích luỹ của một hoạt động tích cực hoặc tiêu
cực của con người trong môi trường thiên nhiên. Môi trường thiên nhiên cung cấp tài
nguyên cho hệ kinh tế, đồng thời tiếp nhận chất thải từ hệ kinh tế. Chất thải này có thể ở
hẳn trong thiên nhiên hoặc qua chế biến rồi quay trở lại hệ kinh tế.
Một hoạt động sản xuất mà chất thải không thể quay trở lại hệ kinh tế được xem
như là hoạt động gây tổn hại đến môi trường”
(5)
. Như vậy bảo vệ môi trường và phát triển
kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng vừa thống nhất bởi vì cái này có thể làm
lợi cho cái kia và ngược lại chúng cũng đối lập nhau và gây hại cho nhau.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, mục tiêu
phát triển kinh tế là một mục tiêu hàng đầu. Cùng với sự phát triển kinh tế là sự ra đời của
những nhà máy , xí nghiệp với nhu cầu về nguyên vật liệu và khối lượng rác thải công
nghiệp sinh ra ngày càng lớn. Nó đã đóng góp không nhỏ vào kết quả là chất lượng môi
trường của nước ta xuống cấp.”Rừng bị tàn phá, khoáng sản bị khai thác bừa bãi,, đất đai
vị xói mòn và thoái hoá; đa dạng sinh học trên đất liền và dưới biển đều bị suy giảm,
nguồn nước mặt và nước ngầm ngày càng ô nhiễm và co nguy cơ cạn kiệt; môi trườn biển
đã có dâú hiệu bị ô nhiễm ; mức độ ô nhiễm nước không khí , ô nhiễm do chất thải rắn ở


3.2.1. Giải quyết mâu thuẫn giữa sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội với mục tiêu của
XHCN là bình đẳng , công bằng xã hội
Để giải quyết mâu thuẫn giữa sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội với mục tiêu
của XHCN là bình đẳng và công bằng xã hội chính là tích cực thực hiện sự bình đẳng và
công bằng xã hội. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay,
mong muốn thực hiện được công bằng xã hội theo hướng vừa tạo được động lực cho sự
phát triển kinh tế, vừa đồng thời hạn chế được phân hoá giàu nghèo trong xã hôi chỉ ở
phương diện đảm bảo sao cho những người có cống hiến ngang nhau thì được hưởng thụ
ngang nhau, bởi nếu như vậy thì chỉ có lợi cho những ai có đủ điều kiện và khả năng đáp
ứng được những đòi hỏi khắc nghiệt của quy luật thị trường, thậm chí lợi thế còn thuộc về
cả những người lợi dụng được mặt trái của cơ chế thị trường. Do đó, công bằng xã hội
phải được thực hiện cùng bình đẳng xã hội về cơ hội để cho nhiều nhóm đối tượng xã hôi
khác nhau, đặc biệt là người lao động , có cơ hội cùng vươn lên. Thực hiện bình đẳng xã
hôi về cơ hội chính là nhằm hạn chế hậu quả của việc thực hiện công bằng xã hội trong
điều kiện của nền kinh tế thị trường. Cái quan trong ở đay là phải căn cứ vào khả năng có
thể phát huy được những cơ hội ngang nhau ở mỗi cá nhân và mỗi đối tượng khác nhau.
Cơ hội ngang nhau đó chỉ thực sự là bình đẳng nếu mọi cá nhân và mọi đối tượng đều dựa
vào đó mà phát huy khả năng cao nhất của mình để cùng vương tới sự hưởng thụ ngang
nhau. Tuy nhiên, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng sã hội chủ nghĩa ở
nước ta, mặc dù bình đẳng có nghĩa là cho phép mọi cá nhân và mọi đối tương phát huy
hết khả năng của mình để đạt được lợi ích kinh tế cao nhất, nhưng điều đó không có nghĩa
là cho phép bất cứ cá nhân hay đối tượng nào chỉ vì mục đích kinh tế đơn thuần mà làm
bất cứ cái gì tổn hại đển lợi ích của cá nhân và đối tượng khác.
Thực hiện công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa hiện
nay được Đảng ta coi đó là một trong những yếu tố cấu thành đường lối cvà chiến lược
phát triển kinh té- xã hôi trong thời kì quá độ lên chủ nghĩ xã hội ở nước ta hiện nay.
gia đình có nếp sống văn hoá, các giá trị đạo đức, nhân văn phải được đề cao trong gia
đình.

Kết hợp với giáo dục đạo đức trong gia đình, cần phải tăng cường công tác giáo
dục đạo đực cho học sinh, sinh viên ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường. Giáo dục đạo
đức trong nhà trường là làm cho học sinh, sinh viên nhận thức được các giá trị đạo đức
nào là cần thiết, có ý nghĩa thiết thực đối với bản thân và xã hội trong điều kiện phát triển
KTTT định hướng XHCN, làm cho họ nhận thức được các giá trị truyền thống như lòng
nhân ái, tinh thần yêu nước, đức tính cần cù, năng động sáng tạo, lạc quan, Bên cạnh đó,
phải đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên, giữa đạo đức và pháp
luật có mối liên hệ với nhau và đều là các phương thức nhằm điều chỉnh hành vi của con
người trong xã hội.
Trong quá trình hội nhập và mở rộng giao lưu kinh tế với quốc tế cũng tạo cơ hội
để các luồng văn hoá tiên tiến du nhập vào nước ta, chúng ta phải biết chọn lựa các giá trị
văn hoá tốt, loại bỏ các giá trị văn hoá xấu để từ đó kết hợp các giá trị đạo đức truyền
thống và hiện đại, tạo bước phát triển cho văn hoá xã hội ngày càng phong phú hơn, đa
dạng hơn.

3.2.3. Giải quyết mâu thuẫn giữa mục tiêu phát triển kinh tế và vấn đề ô nhiễm môi
trường.
Dưới cái nhìn triết học được thể hiện qua hai cặp phạm trù khr năng và hiện thực, môi
trường và phát triển là hai mặt của một vấn đề đối lập thống nhất có liên hệ phụ thuộc
chặt chẽ, đòi hỏi được giải quyết hài hoà và cụ thể. Để đảm bảo chất lượng môi trường thì
trong nhiệm vụ phát triển kinh tế cần phải đặt ra trước tiên nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
Ngược lại, nhiệm vụ bảo vệ môi trường cần phải gắn liền với nhiệm vụ phát triển kinh tế
và nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế tốt hơn và hiệu quả hơn, nói cách khác trong
chất lượng của sự phát triển kinh tế phải bao gồm chất lượng của môi trường thiên nhiên
và ngược lại chất lượng của môi trường thiên nhiên phải đặc trưng bằng khả năng phát


Đề cương chi tiết
N

ủa nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta 03

1.1
. Tính t
ất yếu của nền kinh tế thị tr
ư
ờng ở n
ư
ớc ta
03

1.1.1.Khái ni
ệm nền KTTT
đ
ịnh h
ư
ớng XHCN
03

1.1.

04

1.2.2. Đ
ặc tr
ưng v
ề thể chế kinh tế04

1.2.3 Đ
ặc tr
ưng v
ề thể chế quản
lý05

1.2.4. Đ
ặc tr
ưng v
ề quan hệ phân phối051.2.5. Đ
ặc tr

ẳng ,công bằng xã
hội
2.2. Mâu thu
ẫn giữa mục tiêu t
ăng trư
ởng kinh tế và các
giá trị đạo đức trong xã hôi

07

2.3
. Mâu thu
ẫn giữa mục tiêu phát triển kinh tế và vấn
đề ô nhiễm môi trường

10

3.

ớng giải quyết các mâu thuẫn11

3.1 .Lý lu
ận chun
g11

D. Danh m
ục tài liệu tham khảo16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status