Tài liệu Tiểu luận: thực trạng nghiên cứu và vận dụng giá trị thặng dư trong nền kinh tế định hướng XHCN ở nước ta hiện nay doc - Pdf 98

Phần mở đầu
Kinh tế chính trị Mác-Lênin có vai trò quan trọng trong đời sống Xã
hội. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay yêu cầu học tập, nghiên
cứu kinh tế chính trị Mác-Lênin càng được đặt ra một cách bức thiết, nhằm
khắc phục lạc hậu về lý luận kinh tế, sự giáo điều, tách rời lý luận với cuộc
sống, góp phần hình thành tư duy kinh tế mới. Nước ta đang xây dựng và
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mà nền kinh tế thị
trường thì luôn gắn liền với các phạm trù và các quy luật kinh tế của nó.
Trong đó có phạm trù giá trị thặng dư hay nói cách khác “sự tồn tại giá trị
thặng dư là một tất yếu khách quan ở Việt Nam khi mà ở Việt Nam ta đang
áp dụng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”.Tuy nhiên hiện nay
chúng ta đang thực hiện nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định
hướng XHCN nhưng trong chừng mực nào đó vẫn tồn tại thành kiến đối
với các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản, coi các thành phần kinh tế này
là bóc lột, những nhận thức này không thể xảy ra với một số cán bộ, đảng
viên làm công tác quản lý mà còn xảy ra ngay trong những người trực tiếp
làm kinh tế tư nhân ở nước ta. Mà theo lý luận của Mác thì vấn đề bóc lột
lại liên quan đến “giá trị thặng dư”. Vì thế việc nghiên cứu về chất và
lượng của giá trị thặng dư sẽ giúp chúng ta có nhận thức đúng đắn về con
đường đi lên xây dựng CNXH ở Việt Nam mà đảng và nhà nước ta đã
chọn. Với kiến thức còn hạn hẹp bài viết này chỉ nêu ra những nội dung cơ
bản của “giá trị thặng dư” , cùng một vài ý nghĩa thực tiễn rút ra được khi
nghiên cứu vấn đề này và một số ý kiến để việc vận dụng “giá trị thặng dư”
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
Bài viết này được chia thành 3 chương:
Chương I: Mặt chất và mặt lượng của giá trị thặng dư. ý nghĩa thực tiễn
của vấn đề nghiên cứu đối với nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa
Chương II: Thực trạng việc nghiên cứu và vận dụng giá trị thặng dư ở
nước ta hiện nay
Chương III: Một số gải pháp để vận dụng lý luận giá trị thặng dư nhằm

nhuyễn phương pháp duy vật biện chứng để nghiên cứu. Người đã gạt bỏ đi
những cái không bản chất của vấn đề để rút ra bản chất của nó, đi từ cái
chung đến cái riêng, từ trừu tượng đến cụ thể và đặc biệt là việc sử dụng
phương pháp trừu tượng hoá khoa học.
A. Mặt chất của giá trị thặng dư.
Mối quan hệ kinh tế giữa người sở hữu tiền và người sở hữu sức lao
động là điều kiện tiên quyết để sản xuất ra giá trị thặng dư vì vậy việc phân
tích của Mác về quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư về bản chất và nguồn
gốc là một vấn đề cần lưu ý.
I. Sự chuyển hoá của tiền thành tư bản.
1. Công thức chung của tư bản
Tiền là sản phẩm cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá. Đồng
thời tiền cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản. Song bản thân tiền
không phải là tư bản mà tiền chỉ trở thành tư bản khi chúng được sử dụng
để bóc lột lao động của người khác. Tiền được coi là tiền thông thường thì
vận động theo công thức H-T-H. còn tiền được coi là tư bản thì vận động
theo công thức T-H-T. Ta thấy hai công thức này có những điểm giống và
khác nhau:
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
2
Giống nhau: Cả hai sự vận động đều bao gồm hai nhân tố là tiền và
hàng và đều có hai hành vi là mua và bán, có người mua, người bán.
Khác nhau: Trình tự hai giai đoạn đối lập nhau (mua và bán) trong hai
công thức lưu thông là đảo ngược nhau. Với công thức H-T-H thì bắt đầu
bằng việc bán (H-T) và kết thúc bằng việc mua (T-H), bán trước mua sau
nhưng tiền chỉ đóng vai trò trung gian và kết thúc quá trình đều là hàng
hoá. Ngược lại, với công thức T-H-T thì bắt đầu bằng việc mua (T-H) và
kết thúc bằng việc bán (H-T). ở đây tiền vừa là điểm xuất phát vừa là điểm
kết thúc còn hàng hoá đóng vai trò trung gian, tiền ở đây chỉ để chi ra để
mua rồi lại thu lại sau khi bán. Vởy tiền trong công thức này chỉ được ứng

Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
3
-Trong lưu thông có thể có hai trường hợp xảy ra: một là trao đổi tuân
theo quy luật giá trị (trao đổi ngang giá); hai là trao đổi không tuân theo
quy luật giá trị (trao đổi không ngang giá).
- Trường hợp trao đôi ngang giá : Nếu hàng hoá được trao đổi ngang
giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, từ T-H và H-T còn tổng giá
trị cũng như phần giá trị nằm trong tay mỗi bên tham gia trao đổi, trước sau
không đổi. Tuy nhiên về giá trị sử dụng thì cả hai bên đều có lợi.ở đây
không có sự hình thành giá trị thặng dư.
Trường hợp trao đổi không ngang giá: Nếu hàng hóa bán cao hơn giá
trị của chúng khi đó người bán được lợi một khoản là một phần chênh lệch
giữa giá bán và giá trị thực của hàng hóa,còn người mua bị thiệt một khoản
đúng bằng giá trị mà người bán được lợi. Còn nếu người bán hàng hoá dưới
giá trị của chúng (bán rẻ) thì người mua được lợi một khoản là phần chênh
lệch giữa giá trị thực và giá bán của hàng hoá còn người bán bị thiệt một
giá trị đúng bằng giá trị mà người mua được lợi.
Vậy trong cả hai trường hợp trên cho thấy,nếu người này được lợi thì
người kia thiệt nhưng tổng hàng hoá vẫn không tăng lên nên cả hai trường
hợp này không hình thành nên giá trị thặng dư.
Tiền đưa vào lưu thông, qua lưu thông thì thu được giá trị thặng dư mà
lưu thông không tạo ra giá trị nên không tạo ra giá trị thặng dư, tiền rút
khỏi lưu thông làm chức năng lưu thông thì làm chức năng cất trữ thì
không thu được giá trị thăng dư.Như vậy cùng với lưu thông và lại không
cùng với lưu thông đây chính là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản
.
Để giải quyết vấn đề này ta phải đứng trên các quy luật của lưu thông
hàng hoá và lưu thông tiền tệ. Vấn đề cơ bản là nhà tư bản đã gặp trên thị
trường một loại hàng hoá đặc biệt mà khi tiêu dùng nó sẽ đem lại giá trị
thặng dư đó là sức lao động.

sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định. Mà sức lao động lại gắn
liền với cơ thể sống. Do đó việc sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động
cũng bao hàm việc duy trì cuộc sống của con người đó.Muốn duy trì cuộc
sống của bản thân mình, con người cần có một số tư liệu sinh hoạt nhất
định. Mặt khác số lượng của những nhu cầu cần thiết ấy, cũng như phương
thức thoả mãn những nhu cầu đó ở mỗi một người, nhóm người lao động
lại khác nhau,do các yếu tố lịch sử, tinh thần, nên giá trị của sức lao động
còn mang tính tinh thần, thể chất lịch sử. Nhưng những người sở hữu sức
lao động có thể chết đi do vậy muốn cho người ấy không ngừng xuất hiện
trên thị trường hàng hoá sức lao động thì người bán sức lao động ấy phải
trở nên vĩnh cửu bằng cách sinh xon đẻ cái. Vì vậy tổng số những tư liệu
sinh hoạt cho những người thay thế đó tức là con cái của những người lao
động. Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vất chất và tinh thần cần thiết để tái
sản xuất sức lao động,duy trì đời sống công nhân.Muốn cho mgười lao
động có kiến thức và sức lao động vận dụng khoa học trong một ngành lao
động nhất định thì cần phải tốn nhiều hay ít chi phí đào tạo.
*Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động:
Nó cũng giống như các hàng hoá thông thường khác ở chỗ là nó cũng
phải thoả mãn nhu cầu nào đó của người mua. Còn khác ở chỗ các hàng
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
5
hoá thông thường qua tiêu dùng thì giảm dần còn sức lao động qua tiêu
dùng tức là qua lao động thì nó tạo ra lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản
thân nó do người công nhân theo thời gian đã tích luỹ được kinh nghiệm
sản xuất. Và phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Đến
đây ta đã hiểu được mâu thuẫn công thức chung của tư bản là cùng lưu
thông và không cùng với lưu thông từ đó ta thấy khi sức lao động trở thành
hàng hóa,tiền tệ thành tư bản.
II. Sản xuất ra giá trị thặng dư.
Khi người có sức lao động đem bán sức lao động thì người mua sẽ tiêu

dùng để tác động vào đối tượng lao động cho phù hợp với nhu cầu con
người.Trong tư liệu lao động trước hết phải kể đến công cụ lao động,đây là
yếu tố trực tiếp cải biến đối tượng lao động. Sự phát triển của công cụ lao
động nói lên thời đại khác.
Tư liệu lao động và đối tượng lao động có sự phân biệt tương đối. Đối
tượng lao động và tư liệu lao động trong quá trình lao động sản xuất hợp
thành tư liệu sản xuất, do đó, có thể nói rằng: quá trình lao động là sự kết
hợp của hai yếu tố: sức lao động và tư liệu sản xuất.
Đi từ cái chung là việc nghiên cứu quá trình lao động, Mác đã đi đến
phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng dư dưới CNTB.
2. Sản xuất ra giá trị thặng dư:
Mụcđích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng
mà là giá trị, hơn nữa cũng không phải là giá trị đơn thuần mà là giá trị
thặng dư.Nhưng để sản xuất giá trị thặng dư trước hết nhà tư bản phải sản
xuất ra một giá trị sử dụng nàậ đó,vì giá trị sử dụng là vật mang giá trị và
giá trị thặng dư.
Để hiểu rõ hơn quá trình sản xuất giá trị thặng dư, chúng ta lấy việc
sản xuất sợi của một nhà tư bản làm ví dụ:
Giả sử để có sợi bán nhà tư bản đã mua (giả định theo đúng giá trị)
20kg bông giá 20đôla; tiền hao mòn máy móc 3 đôla, tiền thuê công nhân
là 4đôla (Ngang bằng tư liệu sinh hoạt để họ sống trong một ngày)và giả sử
họ kéo hết số bông trên trong 4 giờ và mỗi giờ tạo ra một lượng giá trị mới
là 1 đôla. Việc mua bán trên là đúng giá trị và điều kiện sản xuất trung bình
của Xã hội.
Quá trình sản xuất được tiến hành trong 4 giờ lao động với tư cách là
lao động cụ thể công nhân kéo hết 20kg bông thành sợi. Giá trị của bông và
hao mòn máy mócđược lao động cụ thể của công nhân chuyển dịch và bảo
tồn vào giá trị của sợi, hình thành ra bộ phận giá trị cũ (C) là 23 đôla.Như
vậy để sản xuất ra 20kg sợi thì nhà tư bản phải ứng trước một số tiền là 23
đôla. Để sản xuất ra 20kg sợi thì cần phải có 20kg bông và sự hao mòn của

suy nghĩ công nhân lao động được trả tiền họ cũng lao động nhưng không
được gì. Họ suy nghĩ công nhân được trả 4 đôla ngang bằng với tư liệu sinh
hoạt sống trong một ngày do đó không thể chỉ lao động 4 giờ mà nhiều hơn
nữa là 8 giờ chẳng hạn, 4 giờ sau nhà tư bản chỉ phải mua 20kg bông trị giá
20 đôla, hao mòn máy móc là 3 đôla. Vậy tổng số tiền nhà tư bản ứng trước
để sản xuất 40kg sợi là 40 đôla cho 40kg bông, 6 đôla cho hao mòn máy
móc, 4đôla để thuê công nhân. Tổng là 50 đôla, mà giá trị của 40kg sợi là
54 đôla. Nếu nhà tư bản đem bán 40kg sợi (đúng giá trị) với giá 54 đôla thì
thu được lượng trội hơn là 4 đôla (54-50) là giá trị thặng dư của nhà tư bản.
Để làm sáng tỏ thêm CácMác đã lấy ngày lao động của công nhân để
chứng minh. Ông chia ngày lao động của công nhân làm hai phần là thời
gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư. Công nhân làm việc
trong phần thời gian lao động cần thiết tạo ra sản phẩm cần thiết với tiền
công của mình còn làm việc trong thời gian lao động thặng dư là tạo ra sản
phẩm thặng dư cho nhà tư bản. Nhà tư bản bán nó thu về giá trị thặng dư.
Từ đó cho ta biết được nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư: là
một bộ phận của giá trị mới, bộ phận giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao
động của công nhân. Do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị
nhà tư bản chiếm không là lao động không công của công nhân cho tư bản.
Là quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, quá trình sản xuất ra giá trị đến
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
8
một thời hạn mà ở đó giá trị sức lao động của công nhân được hoàn lại
bằng một bộ phận của giá trị mới.
Tư bản ứng trước của nhà tư bản được chia làm hai bộ phận. Một là bộ
phận tư bản được chi ra để mua tư liệu sản xuất (tư bản bất biến) ký hiệu là
C. Hai là bộ phận tư bản được chi ra để mua sức lao động (tư bản khả biến)
ký hiệu là V, bộ phận tư bản này cũng chỉ là một số tiền như tư bản chi ra
để mua tư liệu sản xuất nhưng nhờ mua được sức lao động là loại hàng hoá
đặc biệt mà khi tiêu dùng nó tạo ra giá trị thặng dư nên trở thành lượng khả

Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
9
trong đổi mới công nghệ sẽ thu được giá trị thặng dư siêu ngạch. Giá trị
thặng dư siêu ngạch chính là giá trị thặng dư tương đối vì nó đều do tăng
năng suất lao động mà có. Nhưng khác ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do
tăng năng suất lao động xã hội do đó tất cả các nhà tư bản đều được hưởng.
Còn giá trị thặng dư siêu ngạch là do tăng năng suất lao động cá biệt nên
chỉ có những nhà tư bản nào có năng suất lao động cá biệt hơn năng suất
lao động xã hội thì mới được hưởng giá trị thặng dư siêu ngạch. ở đây máy
móc công nghệ tiên tiến không tạo ra giá trị thặng dư mà nó tạo điều kiện
để tăng sức lao động của người lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá
thấp hơn giá trị của thị trường. Nhờ đó mà giá trị thặng dư tăng lên.
B. Mặt lượng của giá trị thặng dư:
Mặt lượng của giá trị thặng dư biểu hiện ở tỷ suất giá trị thặng dư, ở
khối lượng giá trị thặng dư, và ở trong các hình thức của giá trị thặng dư.
I. Tỷ suất giá trị thặng dư:
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ so sánh giữa giá trị thặng dư và tư bản
khả biến (ký hiệu là m’).
Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ rõ trong tổng giá trị mới so sức lao động tạo
ra thì công nhân được hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm được bao nhiêu
đồng thời nó còn chỉ rõ trong một ngày lao động, phần thời gian lao động
thặng dư mà người công nhân làm cho nhà tư bản chiếm bao nhiêu phần
trăm so với thời gian lao động tất yếu làm cho mình. Nói lên sự bóc lột của
nhà tư bản với công nhân làm thuê, nó chưa nói rõ quy mô bóc lột. Để phản
ánh quy mô bóc lột CácMác sử dụng phạm trù khối lượng giá trị thặng dư.
II. Khối lượng giá trị thặng dư:
Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và
tổng số tư bản khả biến được sử dụng. Ký hiệu là M.
Như vậy, khối lượng giá trị thặng dư có thể được biểu hiện bằng công
thức:

2. Ngày lao động không đổi, sức sản xuất của lao động không đổi,
cường độ lao động thay đổi:
Khi cường độ lao động cao thì sản phẩm làm ra trong ngày sẽ nhiều
hơn so với số lượng sản phẩm làm ra trong một ngày có cường độ lao động
thấp hơn mà số giờ lao động thì như nhau.
Trong trường hợp này cũng gần giống như trên là đều đem lại số lượng
sản phẩm lớn hơn trong cùng một thời gian lao động. Song cũng có điểm
khác là giá trị của mỗi đơn vị sản phẩm trong trường hợp này không đổi vì
trước cũng như sau để làm ra một sản phẩm đều hao phí một lượng lao
động như nhau còn trong trường hợp tăng sức sản xuất của lao động giá trị
của mỗi đơn vị sản phẩm giảm đi vì nó tốn ít lao động hơn trước.
Việc tăng cường độ lao động, làm khối lượng sản phẩm sản xuất ra khi
đó tăng lên, giá trị lại không giảm, làm tổng giá trị tăng, trong khi đó giá trị
của sức lao động không đổi, do đó, làm giá trị thặng dư tăng lên. Việc đó
khác với việc tăng sức sản xuất của lao động, làm cho giá trị của sức lao
động giảm đi, mà tổng số giá trị không tăng lên (vì tuy khối lượng sản
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
11
phẩm tăng, nhưng giá trị của mỗi sản phẩm lại giảm đi tương ứng), do đó
giá trị thặng dư tăng lên.
3. Sức sản xuất của lao động và cường độ lao động không thay đổi,
ngày lao động thay đổi:
Ngày lao động có thể thay đổi theo hai chiều, nó có thể được rút ngắn
lại hay kéo dài ra.
Việc rút ngắn ngày lao động, trong điều kiện năng suất lao động và
cường độ lao động không thay đổi, không làm thay đổi giá trị của sức lao
động, hay không làm thay đổi số thời gian lao động cần thiết, vì thế nó làm
thời gian lao động thặng dư bị rút ngắn, hay làm giá trị thặng dư giảm. Đại
lượng tuyệt đối của giá trị thặng dư giảm làm đại lượng tương đối của nó so
với đại lượng không đổi của giá trị sức lao động cũng giảm xuống. Nên chỉ

gian lao động thặng dư giảm đi, giá trị thặng dư cũng vì thế mà giảm
xuống. Nếu như ngày lao động được kéo dài để giá trị thặng dư được sinh
ra khi đó đúng bằng lượng giá trị thặng dư trước đó, thì đại lượng của nó
vẫn giảm xuống tương đối so với giá trị sức lao động. Và nếu tiếp tục kéo
dài thời gian lao động thì có thể cả hai đại lượng tuyệt đối và tương đối của
giá trị thặng dư có thể tăng lên.
Cường độ và năng suất lao động tăng lên cùng với việc rút ngắn ngày
lao động
Khi cường độ và sức sản xuất của lao động tăng lên có nghĩa là thời
gian lao động cần thiết được rút ngắn lại, đồng thời, thời gian lao động
thặng dư được kéo dài ra, giá trị thặng dư được sinh ra tăng lên. Và do đó,
có thể rút ngắn ngày lao động đến khi thời gian lao động thặng dư không
còn nữa, nhưng cả khi sức sản xuất và cường độ của lao động có tăng đi
nữa, giới hạn thời gian lao động cần thiết vẫn sẽ được nới rộng, bởi vì, càng
ngày con người càng có nhu cầu sinh sống, hoạt động phong phú hơn, đồng
thời một phần lao động thặng dư ngày nay sẽ được tính vào lao động cần
thiết, cụ thể là phần lao động cần thiết cho việc thành lập quỹ dự trữ và quỹ
tích luỹ xã hội. Năng suất lao động càng phát triển, thì lại càng có thể rút
ngắn ngày lao động, và ngày lao động càng rút ngắn lại thì cường độ lao
động càng có thể tăng lên.
IV. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư là một phạm trù nói lên bản chất của nền sản xuất
TBCN. Trong đời sống thực tế của xã hội tư bản, giá trị thặng dư chuyển
hoá và biểu hiện thành lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi
nhuận ngân hàng, lợi tức cho vay, địa tô TBCN.
1. Lợi nhuận:
Muốn tạo ra giá trị hàng hoá tất yếu phải chi ra một số lao động nhất
định gọi là chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ và lao động hiện
tại. Lao động quá khứ (lao động vật hoá) tức là giá trị của tư liệu sản xuất
(C), lao động hiện tại (lao động sống) tức là lao động tạo ra giá trị mới

sản xuất của nó nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng
trong hàng hoá so với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong
hàng hoá. Nếu như nhà tư bản bán hàng hoá với giá cả bằng giá trị thì khi
đó
m =p, nếu bán với giá cả cao hơn giá trị thì khi đó m <p, nếu bán với
giá cả nhỏ hơn giá trị thì khi đó m>p. Nhưng trong toàn xã hội thì tổng giá
cả luôn bằng tổng lợi nhuận bằng tổng giá trị thặng dư. Chính sự không
nhất trí giữa m và p nên càng che dấu thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư
bản.
Trong nền kinh tế tư bản mặc dù lợi nhuận là mục đích trực tiếp và tối
cao của các nhà tư bản nhưng khi bắt đầu đầu tư vào một ngành sản xuất
kinh doanh nào đó thì cái mà nhà tư bản quan tâm đến trước hết là tỷ suất
lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng
dư mà nhà tư bản đã bóc lột được của công nhân làm thuê so với tổng tư
bản ứng trước ký hiệu là p’ vì thế có công thức p’
(C+V)
= m x 100%. P’
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
14
không phản ánh trình độ bóc lột mà nó chỉ phản ánh nơi đầu tư vốn có lợi
nhất cho nhà tư bản về lượng. Do đó việc thu lợi nhuận và theo đuổi tỷ suất
lợi nhuận là động lực thúc đẩy, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản.
Sự thèm khát lợi nhuận của các nhà tư bản là không có giới hạn. Mức tỷ
suất lợi nhuận cao bao nhiêu cũng không thoả mãn được lòng tham vô đáy
của chúng. Nhưng tỷ suất lợi nhuận lại phụ thuộc vào những yếu tố khách
quan: Tỷ suất giá trị thặng dư càng cao thì tỷ suất lợi nhuận cáng lớn và
ngược lại, tỷ suất giá trị thặng dư không đổi, cấu tạo hữu cơ tư bản càng
cao thì tỷ suất lợi nhuận càng giảm và ngược lại. Nếu tốc độ chu chuyển
của tư bản càng lờn thì tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm càng tăng lên do
đó tỷ suất lợi nhuận cũng càng tăng. Trong điều kiện tỷ suất giá trị thặng

thì do họ nhường quyền sử dụng tư bản của mình cho người khác trong một
thời gian nhất định nên thu được lợi tức.Về bản chất của lợi tức là một
phần giá trị thặng dư được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà các nhà tư bản
hoạt động trả cho nhà tư bản cho vay về món tiền mà nhà tư bản cho vay đã
bỏ ra cho nhà tư bản hoạt động sử dụng. Như vậy thức chất lợi tức chỉ là
một phần lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động thu được nhờ sử dụng tư bản
đi vay, phải trả cho nhà tư bản cho vay. Trên thực tế lợi tức là một phần lợi
nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay, căn
cứ vào số tư bản mà nhà tư bản cho vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay sử
dụng.
4. Địa tô tư bản chủ nghĩa:
Dưới chủ nghĩa tư bản có hình thức sở hữu độc quyền về đất đai, nó
cho phép địa chủ có quyền chiếm hữu một phần giá trị thặng dư do những
hoạt động diễn ra trên mảnh đất ấy sinh ra, không kể đất đai đó được dùng
trong nông nghiệp, cho xây dựng, cho đường sắt hay cho bất kỳ một mục
đích sản xuất nào khác. Địa tô chỉ là một phần của giá trị thặng dư sau khi
đã trừ đi phần lợi nhuận của tư bản kinh doanh nông nghiệp.
Như thế, có thể nói lợi nhận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi
tức, địa tô chỉ là các phần khác nhau của giá trị thặng dư - được sinh ra từ
lao động của người công nhân làm thuê - phân giải thành.
C. ý nghĩa thực tiễn rút ra được khi nghiên cứu về giá trị thặng dư
đối với nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN:
1. Nghiên cứu để có nhận thức đúng về giá trị thặng dư là nhằm
tránh những nghi ngờ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nước ta
đang thực hiện:
Sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các học giả tư
sản đã thừa cơ đẩy mạnh công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin; nhiều
nhà khoa học ở các nước XHCN cũng hoài nghi, thậm chí phê phán, đòi xét
lại các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có học thuyết giá trị

động kinh tế nước ta ngày càng tăng trưởng thu được nhiều lợi nhuận, đang
từng bước tham gia và hội nhập, đuổi kịp các nước trong khu vực và trên
thế giới. Việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư sẽ cho ta những giải pháp
để tăng khối lượng giá trị thặng dư của nền kinh tế. Nó góp phần thay đổi
nhận thức sai lầm trước đây về giá trị thặng dư, coi nó là phạm trù riêng
của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó với sự bóc lột cần phải xoá bỏ. Việc
nghiên cứu sẽ nhận thức đúng rằng: giá trị thặng dư là phạm trù chung của
bất kì chế độ xã hội nào có thời gian lao động xã hội lớn hơn thời gian lao
động cần thiết. Và các quyết định sự bóc lột không phải là lượng giá trị
thặng dư được sinh ra nhiều hay ít mà là việc phân phối giá trị thặng dư đã
được tạo ra như thế nào. Từ đó chúng ta có được những quan niệm tốt phá
bỏ được nhiều định kiến không hay, để có thể mở rộng khả năng kinh
doanh và phát triển nền kinh tế, phát huy hết tiềm năng của mình.
3. Nghiên cứu giá trị thặng dư có ý nghĩa trong việc đề ra các chính
sách kinh tế phù hợp
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
17
Với lý luận giá trị thặng dư và thực tiễn của nó, không những giúp
chúng ta phá vỡ những định kiến về kinh tế tư nhân mà còn giúp đưa ra các
chính sách kinh tế phù hợp như áp dụng kỹ thuật và sản xuất sẽ giúp xây
dựng hoàn thiện các chính sách chiến lược phát triển khoa học công nghệ
thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Giúp chúng ta thấy được sự tác động của quy luật giá trị thặng dư sẽ
dẫn tới cạnh tranh gay gắt, hình thành độc quyền, do đó làm cho sự phân
hoá giàu nghèo càng trở nên rõ rệt. Song song với việc phát triển kinh tế,
có nhiều mặt tích cực vẫn còn tồn tại rất nhiều những tiêu cực theo sự phát
triển kinh tế. Vì vậy cần phải có những chính sách để khắc phục những hạn
chế (xoá đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập dân cư )
Chương 2 : Thực trạng việc nghiên cứu và vận dụng phạm trù giá
trị thặng dư ở nước ta hiện nay

xuất khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp”.
B. Thực trạng nghiên cứu và vận dụng lý luận giá trị thặng dư ở
nước ta hiện nay
I.Tình hình nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư hiện nay ở nước ta
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng, nghiên cứu
vận dụng học thuyết kinh tế của Mác và cụ thể là học thuyết giá trị thặng
dư. Trong điều kiện hoàn cảnh mới hiện nay các nghiên cứu đã chứng minh
những luận điểm đúng đắn của Mác: “ Chỉ có lao động mới tạo ra giá trị và
giá trị thặng dư, máy móc tuy có vai trò không thể thiếu trong quá trình sản
xuất, là điều kiện để sản xuất giá trị thặng dư song nó không làm tăng giá
trị mà chỉ chuyển dần giá trị của nó vào trong sản phẩm mới; phân tích rõ
đặc điểm vai trò của lao động trí tuệ, lao động quản lý trong quá trình lao
động và quá trình tạo ra giá trị thặng dư; khẳng định sản xuất tạo ra giá trị
thặng dư hay lợi nhuận vẫn là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn là chế độ xã hội dựa trên
cơ sở bóc lột lao động làm thuê ”. Điều này cho thấy lý luận giá trị thặng
dư của Mác trong điệu kiện mới của thời đại được khẳng định.
II. Thực trạng sản xuất giá trị thặng dư ở nước ta
Vận dụng lý luận giá trị thặng dư trong quá trình chuyển sang nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, là việc phát triển nguồn nhân lực; khuyến
khích đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả kinh tế; áp dụng khoa học công
nghệ vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động; và việc phân phối giá trị
thặng dư.
1.Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở nước ta
Nước ta có nguồn lao động dồi dào, số người trong độ tuổi lao động
chiếm phần đa số ngoài ra còn phải kể đến hàng triệu người già vẫn còn
khả năng lao động và mong muốn được lao động. Thêm vào đó người lao
động Việt Nam lại cần cù, chăm chỉ, năng động có khả năng thích ứng thị
trường cao, nhanh chóng nắm bắt kỹ thuật mới ứng dụng vàậ sản xuất kinh
doanh. Tuy đây là một thuận lợi lớn của nước ta song chất lượng lao động

mức cam kết tài trợ là13,04 tỷ USD, trong đó vốn đã được ký là gần 10 tỷ
USD và số vốn đã giải ngân tới cuối 1999 là gần 6 tỷ USD. Nhà nước đã
ban hành “luật đầu tư nước ngoài”. Cho đến hết 2000, đã có 66 nước và
vùng lãnh thổ với nhiều công ty, tập đoàn lớn đã đầu tư trực tiếp vào Việt
Nam.
Trong cơ cấu vốn đầu tư phân theo ngành ta thấy, vốn đầu tư thuộc
kinh tế nhà nước phần lớn dành cho ngành dịch vụ từ 51,02% năm 1999 lên
51,45% năm 2001, vốn đầu tư cho công nghiệp giảm từ 36,13% năm 1999
xuống 35,81% năm 2001. Còn phân theo ngành của kinh tế ngoài quốc
doanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tỷ trọng vốn đầu tư dành cho
công nghiệp và nông nghiệp không ngừng tăng lên, vốn đầu tư dành cho
ngành dịch vụ giảm từ 45,83% năm 1999 xuống 44,04% năm 2001. Như
vậy muốn tạo được chỗ đứng cho mình trên thị trường quốc tế chúng ta
phải có những sản phẩm hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam. Vì thế phải
phát triển công nghiệp, thu hút vốn đầu tư nhằm nâng cao sức mạnh cho
công nghiệp.
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
20
3. áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất
Theo lý luận giá trị thặng dư của Mác, máy móc không tạo ra giá trị
thặng dư, nhưng nó tạo điều kiện để tăng sức sản xuất của lao động, hạ giá
trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị của thị trường, nhờ đó mà giá trị
thặng dư tăng lên.
Ngày nay, việc ứng dụng khoa học – kỹ thuật đã trở thành một nhu cầu
không thể thiếu đối với nông nghiệp, đem lại giá trị kinh tế cao như sản
xuất thu hoạch bảo quản chế biến
Đối với công nghiệp, nhất là trong ngành công nghệ thông tin, điện tử,
viễn thông đã ứng dụng nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật của thế giới và
đã thực hiện được đúng theo chủ trương “đi trước đón đầu” của Đảng ta.
Với các lĩnh vực khác trong ngành công nghiệp, việc sử dụng các máy móc

Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
22
Chương 3: Một số giải pháp để vận dụng lý luận giá trị thặng dư
nhằm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
hiện nay
I. Các giải pháp về vấn đề vốn đầu tư:
1. Chuyển dịch cơ cấu đầu tư, tập trung đầu tư cho công nghiệp:
Cần phải chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu vốn đầu tư theo ngành theo
hướng tăng đầu tư cho ngành sản xuất vật chất và giảm đầu tư đối với
ngành dịch vụ. Vì chỉ có phát triển công nghiệp, chúng ta mới thực sự phát
huy được năng lực nội sinh. Tập trung đầu tư cho công nghiệp, với mục
tiêu lấy đó làm đà để phát triển các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân,
trong đó đặc biệt phải đầu tư cho ngành công nghiệp chế biến, cần phải chú
ý đầu tư cho ngành công nghiệp chế biến nông – lâm sản, vì đây là chìa
khoá, nhằm nâng cao giá trị, khả năng cạnh tranh của hàng hoá nông lâm
sản trên thị trường thế giới.
Việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư này cần được coi là nhiệm vụ của tất cả
các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chứ
không phải chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước hay một vài doanh nghiệp nhà
nước.
Cần gắn việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư với việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân.
Thực hiện tự do di chuyển vốn giữa các ngành kinh tế, nhưng đồng thời
Nhà nước phải đóng vai điều tiết đầu tư bằng những chính sách kinh tế vĩ
mô (như thuế, và những ưu đãi, khuyến khích đối với những ngành cần đầu
tư) nhằm đảm bảo việc chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư cũng như cơ cấu
kinh tế theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội.
2. Khuyến khích và thu hút đầu tư:
Cải thiện môi trường kinh doanh trong nước. Thực hiện sự bình đẳng
giữa các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc thành phần

phương án đầu tư, tránh tình trạng đầu tư theo phong trào.
Đối với các doanh nghiệp, sử dụng vốn có hiệu quả kinh tế là chú ý đến
việc thực hiện giá trị thặng dư, theo lý luận giá trị thặng dư của Mác, giá trị
được sinh ra trong lĩnh vực sản xuất, chứ không phải trong lưu thông,
nhưng quá trình lưu thông lại là quá trình thực hiện giá trị, mà nếu giá trị
không được thực hiện thì cũng không có giá trị thặng dư. Vì vậy, trong quá
trình sản xuất, doanh nghiệp phải chú ý đến giá trị sử dụng của hàng hoá
đáp ứng nhu cầu thị trường, đồng thời phải sử dụng các phương thức có
hiệu quả để bán hàng, nhằm thực hiện giá trị thặng dư.
Khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến,
nhằm nâng cao năng suất lao động, thu giá trị thặng dư siêu ngạch.
Đối với các địa phương khi tiến hành đầu tư cần phát huy lợi thế so
sánh của mình, nhằm tận dụng tối đa những thế mạnh của địa phương
mình.
II.Nâng cao chất lượng nguồn lao động, phát triển thị trường lao
động trong nước, có sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước. Phát triển thị
trường lao động với tư cách là một yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
24
sản xuất, theo đó cung về lao động phải đáp ứng cầu về lao động cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Cần phải chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, phù hợp với mục tiêu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay theo chủ trương của Đảng và Nhà
nước. Tăng cả về số lượng và chất lượng của lao động trong ngành công
nghiệp, giảm về số lượng lao động trong ngành nông nghiệp.
Nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở các trường đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp. Cải cách phương pháp đào tạo, gắn việc dạy lý
thuyết với thực hành, khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa
học. Nhằm tăng lao động lành nghề, lao động có tri thức để tiếp nhận kỹ
thuật, công nghệ mới. Tăng nhanh tỷ lệ lao động chất xám, lao động có kỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status