Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ ĐẠT BIẾN ĐỔI CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỆ THỐNG
CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. Bùi Đình Thanh
PGS.TS. Nguyễn Văn Thủ
HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2005 PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề

Cùng với sự đa dạng hoá các loại hình sản xuất, kinh doanh, trong hoạt
động của mình, Công đoàn đã cố gắng đa dạng hoá các hình thức tập hợp
quần chúng, đổi mới tổ chức hoạt động cho phù hợp với điều kiện nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần. Nhiều nghiệp đoàn, hội nghề đã đƣợc hình
thành, Công đoàn ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển.
Tuy nhiên vấn đề cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn đang là vấn
đề cần đƣợc nghiên cứu, xem xét để hƣớng tới một mô hình chung nhằm đảm
bảo hoạt động có hiệu quả hơn nữa.
Thực tế cho thấy, Công đoàn là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn
của giai cấp công nhân và của những ngƣời lao động Việt Nam”, Công đoàn
Việt Nam có vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị của nƣớc ta, đƣợc tổ
chức theo vùng, lãnh thổ hoặc ngành, nghề. Nếu ngƣời lao động đƣợc tổ chức
tốt sẽ có sức mạnh to lớn trong xây dựng đời sống xã hội
Trong những năm qua, mặc dù tổ chức Công đoàn đã có những giải
pháp nhằm nâng cao hơn nữa vị thế của mình trong đời sống xã hội nhƣng
vẫn còn có những đoàn viên Công đoàn chƣa thiết tha, gắn bó với tổ chức của
mình. Trong sinh hoạt Công đoàn có nơi còn hình thức, cứng nhắc, không hấp
dẫn đoàn viên nên đoàn viên không tự giác tham gia sinh hoạt. Công đoàn cơ
sở có nơi còn chƣa phát huy đƣợc vai trò tổ chức tập hợp quần chúng.
Những hạn chế nêu trên có nguyên nhân từ cơ cấu tổ chức chƣa đổi
mới kịp, hình thức tổ chức còn ảnh hƣởng cơ chế cũ. Trong các cấp Công
đoàn còn tình trạng tổ chức đồng dạng: cấp trên có ban nào thì cấp dƣới có
ban ấy. Hoạt động còn trùng chéo, phân tán, ỷ lại. Quan hệ chỉ đạo giữa Công
đoàn ngành, nghề và Liên đoàn Lao động địa phƣơng đối với cấp cơ sở chƣa
rõ ràng. Do đó, đối với một Công đoàn cơ sở có thể có nhiều cấp trên, khi giải

3 quyết các công việc cụ thể còn chậm vì phải qua nhiều cấp Đội ngũ cán bộ

- Công đoàn ngành giáo dục
- Công đoàn ngành Bƣu điện Việt Nam
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phƣơng pháp luận
- Dựa trên phƣơng pháp luận triết học Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh.
- Dựa trên phƣơng pháp luận của lý thuyết cơ cấu chức năng
- Dựa trên phƣơng pháp lôgíc lịch sử
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.2.1. Phân tích tài liệu
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, từ
phát hiện vấn đề, lựa chọn đối tƣợng nghiên cứu, hình thành giả thuyết, thu
thập thông tin và phân tích kết quả nghiên cứu. Việc phân tích tài liệu trong
quá trình hoàn thành luận án không chỉ dừng lại ở các tài liệu của các ngành
khoa học khác nhau nghiên cứu về công nhân, Công đoàn, về các tổ chức
chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng, đặc biệt luận án còn sử dụng các
thông tin bổ ích từ các Hội thảo về tổ chức, hoạt động Công đoàn, các lớp tập
huấn cán bộ chủ chốt của Công đoàn ngành Trung ƣơng, Liên đoàn Lao động
tỉnh, thành phố
4.2.2. Nghiên cứu thực địa
- Quan sát về tổ chức hoạt động Công đoàn một số cơ sở: Nhằm xem
xét cách tổ chức chỉ đạo hoạt động của Công đoàn cơ sở từ đó đánh giá các
phƣơng pháp công tác cán bộ Công đoàn.
- Phỏng vấn sâu một số cán bộ Công đoàn chủ chốt từ Trung ƣơng đến
cơ sở: để thu thập thông tin định tính nhằm lý giải vấn đề nghiên cứu từ nhiều
khía cạnh, đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của luận án, tác giả đã tiến hành
phỏng vấn: 03 cán bộ thuộc Tổng liên đoàn, 05 cán bộ Liên đoàn lao động địa
phƣơng, 03 cán bộ Công đoàn ngành, 4 Chủ tịch Công đoàn cơ sở.

5

Công cuộc đổi mới Đất nước
Sự biến đổi hệ thống
chính trị Việt Nam
Cơ cấu tổ chức
Công đoàn Việt Nam
Biến đổi cơ cấu tổ chức
hệ thống Công đoàn Việt Nam
Cơ cấu bộ máy, quy mô tổ chức Công
đoàn VN Cơ cấu đội ngũ cán bộ
Công đoàn
Quan hệ của Tổ chức
Công đoàn

Cơ chế thị trường Cơ cấu kinh tế

Biến đổi cơ cấu công nhân, viên
chức, lao động
Thực trạng
Nguyên nhân

Giải pháp xây dựng tổ chức Công đoàn VN

6


Chƣơng 3: Đổi mới cơ cấu tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của
Công đoàn Việt Nam trong hệ thống chính trị hịên nay (Từ trang 120 đến
trang 164).
Phần ba: Kết luận (Từ trang 165 đến trang 172).

7 PHẦN HAI: NỘI DUNG
CHƢƠNG: 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .
Trong điều 1, chƣơng I Luật Công đoàn (1990) đã ghi rõ:
“Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp
công nhân và ngƣời lao động Việt Nam tự nguyện lập ra dƣới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội
Việt Nam, là trƣờng học chủ nghĩa xã hội của ngƣời lao động”.
Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về công nhân,
Công đoàn Việt Nam trong quá trình đổi mới. Tuy nhiên chỉ từ những năm 90
của thế kỷ XX mới có những nghiên cứu cụ thể làm cơ sở định hƣớng cho
việc xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn.
Năm 1995, KX05-10 thuộc chƣơng trình khoa học - công nghệ KX05
về “Vị trí, tính chất hoạt động của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã
hội trong hệ thống chính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” do PTS
Nguyễn Viết Vƣợng làm chủ nhiệm, đã khái quát thực trạng các đoàn thể, tổ
chức xã hội, trong đó vấn đề về tổ chức Công đoàn đƣợc đặc biệt quan tâm.
Đề tài đã đề cập đến vấn đề giai cấp công nhân và điều kiện hoạt động sản
xuất công nghiệp: Trƣớc đổi mới, giai cấp công nhân nƣớc ta có gần 4 triệu
ngƣời. Thực hiện đƣờng lối đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trƣờng, giai cấp
công nhân nƣớc ta đã có sự biến động và dịch chuyển về cơ cấu đội ngũ. Tiếp

nhân: "Cơ chế thị trƣờng đang tác động hàng ngày vào các giai tầng xã hội
Việt Nam nhƣng tác động trực tiếp, mạnh mẽ trƣớc hết vào giai cấp công
nhân. Những diễn biến nhanh chóng về cơ cấu xã hội, về thực trạng tình hình
giai cấp công nhân đòi hỏi phải nắm bắt cập nhật, nhạy bén và khái quát
nhanh để có biện pháp ứng xử kịp thời và đúng đắn, nhằm ổn định chính trị,
ổn định xã hội và tránh nguy cơ trệch hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Năm 1996 PTS Bùi Đình Bôn đã có công trình nghiên cứu “Giai cấp
công nhân Việt Nam - mấy vấn đề lý luận và thực tiễn”. Trong công trình này

9 tác giả đã làm rõ thực trạng của giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn hiện
nay, dự báo xu hƣớng biến đổi của cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp đến tác giả đã khẳng định vai trò của giai
cấp công nhân Việt Nam trong quá trình cách mạng Việt Nam. Từ đó PTS
Bùi Đình Bôn đã nêu những chủ trƣơng, biện pháp và chính sách cơ bản, cấp
bách nhằm xây dựng giai cấp công nhân ngang tầm với sứ mạng lịch sử của
nó.
Ngoài ra, từ năm 1997 đến 2000, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
đã rất quan tâm chỉ đạo và triển khai nghiên cứu về công nhân, Công đoàn, đó
là các đề tài “Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam”, “Thực trạng lao động
khu vực phi kết cấu ở Việt Nam” (Dự án Ras/97/M11/DAN do Tổ chức Lao
động Quốc tế (ILO) tài trợ và “Tình hình lao động nữ khu vực phi kết cấu ở
Việt Nam” (Dự án Ra-006501- 20- Việt Nam của Trƣờng Đại học Công đoàn
do Bộ phát triển và Hợp tác Hà Lan tài trợ).
Năm 1999 đề tài KHXH - 03- 07 “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự
phát triển giai cấp công nhân. những chính sách và giải pháp xây dựng giai
cấp công nhân, củng cố tăng cƣờng vị trí giai cấp công nhân trong xã hội do
PTS Nguyễn Viết Vƣợng làm chủ nhiệm đã đƣợc nghiệm thu.

ngƣời đang làm việc tại các doanh nghiệp Nhà nƣớc đã cổ phần hoá. Cuối
cùng Dự án đã đƣa ra những ý kiến kết luận và khuyến nghị phù hợp liên
quan đến việc làm, đời sống của công nhân, lao động nhằm đẩy nhanh tiến độ
cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nƣớc nhƣng cũng hƣớng tới sự ổn định
đời sống công nhân, lao động và phát triển doanh nghiệp.
Năm 2002 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã nghiệm thu đề tài
“Tổ chức và hoạt động Công đoàn trong các Công ty cổ phần ở Việt Nam” do
trƣờng Đại học Công đoàn thực hiện. Đề tài đã đánh giá thực trạng về tình
hình tổ chức và hoạt động Công đoàn trong các Công ty cổ phần, từ đó đề
xuất đƣợc các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ
sở các công ty cổ phần.

11 Năm 2003 có 2 công trình nghiên cứu về công nhân, Công đoàn khu
vực kinh tế liên doanh với nƣớc ngoài. Trƣớc hết là cuốn "Công nhân công
nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nƣớc ta thời kỳ đổi mới" của Bùi
Thị Thanh Hà do Quỹ Ford tại Việt Nam tài trợ.
Công trình nghiên cứu này đã khái quát từ các nghiên cứu đã có từ
những năm 90 của thế kỷ XX đến tháng 4 năm 2002 về đội ngũ công nhân
trong doanh nghiệp liên doanh, để hình dung rõ nét hơn về họ nhƣ một nhóm
xã hội mới trong xã hội Việt Nam. Nhận diện chân dung đội ngũ với các đặc
điểm kinh tế - xã hội, xác định những đặc trƣng của nhóm, đi sâu phân tích
các quan hệ xã hội trong và ngoài doanh nghiệp, phân tích vai trò của Công
đoàn theo các chiều cạnh xã hội học, chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong
sản xuất cũng nhƣ khả năng, cơ hội thăng tiến của họ. Nghiên cứu đã góp
phần làm rõ hơn về cơ cấu xã hội ở nƣớc ta trong thời kỳ đổi mới và đánh giá
vai trò của đội ngũ công nhân công nghiệp trong các đơn vị liên doanh trong
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nƣớc.

cập đến. Gần đây nhất, tại Liên bang Nga có công trình nghiên cứu của Phó
giáo sƣ - Tiến sĩ Anhiusin S.V. Phó Viện trƣởng Học viện Lao động và quan
hệ xã hội thuộc Trung ƣơng các Công đoàn độc lập Liên bang Nga đã đề cập
đến “vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế -
xã hội”.
Trong công trình của mình, tác giả Anhiusin S.V đã mở đầu bằng việc
đánh giá tổ chức hoạt động Công đoàn ở Liên bang Nga hiện nay là vừa tiến
hành thử nghiệm, vừa khắc phục sai sót. Hiện nay hoạt động Công đoàn ở
Liên bang Nga còn “nhiều điều ảm đạm” nhƣng đã có những thay đổi cơ bản
với tuyên cáo đã đƣợc ghi trong điều 7 của Hiến pháp Liên bang Nga. Điều
này thể hiện hƣớng giải quyết khả thi và “duy nhất đúng”, đó là: “Liên bang
Nga là một chỉnh thể Nhà nƣớc xã hội, với đƣờng lối chính sách là tạo mọi
điều kiện nhằm đảm bảo cuộc sống tốt đẹp và sự phát triển tự do của con
ngƣời”. Từ đó ở Nga đã hình thành hệ thống quan hệ đối tác xã hội dựa trên
cơ chế rõ ràng về tác động qua lại giữa các thành viên: ngƣời lao động làm
thuê, ngƣời sử dụng lao động và Nhà nƣớc.

13 Trong giai đoạn hiện nay, Công đoàn Nga giữ một vị trí quan trọng
trong việc điều chỉnh các vấn đề kinh tế và xã hội. Vấn đề ƣu tiên về kinh tế
là phải đảm bảo sự kết hợp tối ƣu quyền lợi của ngƣời lao động, ngƣời sử
dụng lao động và Nhà nƣớc về mặt tổng thể. Còn trong lĩnh vực xã hội, Công
đoàn coi nhiệm vụ chiến lƣợc là tiến hành các hoạt động nhằm bảo đảm sao
cho Nhà nƣớc phải thực hiện các quyền ghi trong hiến pháp để bảo vệ về mặt
xã hội đối với ngƣời lao động, thực hiện các đảm bảo xã hội và đảm bảo mức

của quá khứ và đặt chúng vào những “dòng dõi lý thuyết” trong lịch sử.
Nhà xã hội học ngƣời Pháp P. Bourdieu đƣợc xem là ngƣời có nhiều
đóng góp vào sự phát triển lý thuyết về cơ cấu xã hội dƣới tên gọi “lý thuyết
hậu cơ cấu” có sự kế thừa những luận điểm khoa học của nhiều nhà khoa học
nhƣ E. Durkheim, M. Weber, đặc biệt là C. Mác để xây dựng nên những
luận điểm khoa học của mình, ví dụ nhƣ nguyên lý về tính khách quan của cái
xã hội (le social).
Luận thuyết của P.Bourdieu rất coi trọng mối quan hệ biện chứng giữa
các tác nhân và cơ cấu xã hội, không xem các tác nhân nhƣ những phản ánh
đơn giản của các cơ cấu khách quan. Điều đó đã đƣợc P.Bourdieu nói rất rõ
trong tác phẩm nổi tiếng "Nghề nghiệp của nhà xã hội học", "sự mô tả những
thái độ, những ý kiến và những nguyện vọng cá nhân không thể đem lại
nguyên lý giải thích những thái độ, những ý kiến và những nguyện vọng ấy"
[Paris Mouton. Bordas. 1968, tr.41].
Sự phát triển lý thuyết cơ cấu xã hội của P.Bourdieu theo quan điểm mác
xít đƣợc xây dựng xung quanh ba khái niệm; hệ thống các quan điểm, tập tục
(habitus) và tái sản xuất xã hội.
Vấn đề đầu tiên lý thuyết cơ cấu xã hội đề cập đến là yêu cầu phải khôi
phục lại các hệ thống liên hệ là điểm xuất phát của tất cả những phân tích và

15 lý giải. Đây không phải chỉ là khôi phục những "hiện tƣợng xã hội" và lại
càng không phải chỉ là mô tả những mảnh lộn xộn của những ứng xử xã hội,
mà chính là phải khám phá ra những liên hệ nào và hệ thống liên hệ nào tổ
chức ra đối tƣợng nghiên cứu. Không phải bộ phận nào của xã hội cũng là đối
tƣợng nhận thức ngang nhau và phải có một sự phê phán bƣớc đầu để xem đối
tƣợng ấy có trở thành một hệ thống liên hệ có thể thăm dò đƣợc hay không?
Do đó, phải xem lại khái niệm mơ hồ "sự kiện xã hội" phân biệt những

và khắc sâu những phƣơng thức cảm nhận và ứng xử ở các tác nhân xã hội.
Các gia đình và các hệ thống giáo dục cũng góp phần vào điều đó cũng nhƣ
những kinh nghiệm xã hội cũng góp phần quan trọng vào điều đó. Nhƣ vậy,
ngƣời ta có thể cảm nhận thấy đã diễn ra "một sự hƣớng vào bên trong từ cái
bên ngoài". Những chủ thể nằm trong những điều kiện xã hội khác nhau, tuỳ
theo thời điểm lịch sử và vị trí của họ trong một hệ thống cơ cấu xã hội nhất
định. Nhƣ vậy, theo khái niệm của P.Bourdieu, tập tục là chỉ toàn bộ những tƣ
thế đã đạt đƣợc, những sơ đồ cảm nhận, đánh giá và hành động do bối cảnh
xã hội in sâu vào một thời điểm và một vị trí riêng biệt. Tập tục giữ vị trí
trung gian giữa những liên hệ khách quan và những ứng xử cá nhân, nó vừa là
điều kiện của những thói quen cá nhân.
Do những điều kiện tập luyện và sự khắc sâu những sự tập luyện tƣơng
đối đồng nhất ở bên trong một giai cấp xã hội, nên trên thực té có thể xác định
đặc trƣng của một tập tục giai cấp, đƣợc khắc sâu bằng một hệ thống giáo dục
phức hợp bao gồm gia đình, trƣờng học và bối cảnh xã hội - tập tục giai cấp,
nhƣ vậy, làm cho các tác nhân xã hội ứng xử phù hợp với những liên hệ
khách quan giữa các giai cấp.
Khái niệm "tập tục xã hội" là một yếu tố căn bản để nhận thức và giải
đáp vấn đề "tái sản xuất xã hội" theo quan điểm của P.Bourdieu.
Thứ ba, tái sản xuất xã hội, trƣớc hết là tái sản xuất hệ thống liên hệ của
các giai cấp đƣợc xác nhận bởi những dự kiến thống kê về sự phân phối
những tài sản kinh tế và văn hoá.

17 Chủ nghĩa cơ cấu, khi nghiên cứu các xã hội gọi là truyền thống, thƣờng
có khuynh hƣớng xem các cơ cấu xã hội là bất biến, và không phải bao giờ
cũng tìm hiểu toàn bộ những điều kiện đề ra những sự lặp đi lặp lại đó. Sự
phân tích của Marx đã đem lại lời giải đáp chung cho vấn đề tái sản xuất của

quan hệ khác".
Sự phát triển về cơ cấu tổ chức Công đoàn cũng dẫn đến sự thay đổi về
nội dung, phƣơng pháp hoạt động. Đúng nhƣ hệ thức lý thuyết xã hội do
K.Marx đề ra về phân tích sự tiến hoá cách mạng của xã hội chính là do tiến
hoá của các quan hệ xã hội.
Từ đó ta thấy lý thuyết cơ cấu xã hội trong xã hội học có ý nghĩa cực kì
quan trọng trong việc lý giải cơ cấu xã hội nói chung và từng cơ cấu của
nhóm xã hội cụ thể trong đó có cơ cấu tổ chức Công đoàn.
1.2.1.2. Lý thuyết chức năng:
Lý thuyết chức năng xem xét các hiện tƣợng xã hội với những chức năng
mà chúng đảm nhiệm. Khái niệm chức năng xuất phát từ sự phát triển của
sinh lý học gắn liền với tên tuổi của nhà bác học Claude Bernard với ý nghĩa,
chức năng là phƣơng thức hoạt động của các bộ phận trong cơ thể con ngƣời
mà sự hoạt động phối hợp của chúng nhằm đảm bảo cho việc duy trì sự sống.
Khái niệm chức năng đã đƣợc vận dụng vào các môn khoa học xã hội trƣớc
hết trong mô hình chức năng của môn nhân học Ănglô - Sacxon với các nhà
khoa học tiêu biểu Malinowski và Radcliffe – Brown. Họ cho rằng lý thuyết
chức năng có thể trở thành phƣơng pháp hữu hiệu để giải thích các hiện tƣợng
xã hội. Về đại thể thuyết chức năng có ba biến thể:
- Lý thuyết chức năng cổ điển: phát triển mạnh mẽ vào những năm 30
của thế kỷ XX. Chúng đánh giá quá cao mức độ hội nhập và cố kết của những
hệ thống xã hội; đề cao tính hài hoà của tổng thể xã hội mà không chú trọng
đến những mâu thuẫn, xung đột, những đảo lộn vẫn thƣờng xảy ra trong xã
hội. Chính vì vậy mà R. Merton đã phê phán đây là một thuyết “chức năng
tuyệt đối”.

19 Merton phê phán lý thuyết này đã qui cơ cấu xã hội đơn giản chỉ còn là


cấu của hệ thống xã hội và do tính độc lập của chúng trong những biến động
ngắn hạn đƣợc xem là những “hằng số”. Những “hằng số” đó là những cơ sở
quy chiếu để tiến hành nghiên cứu.
Giai đoạn thứ hai nhằm tìm ra một lời giải bằng các cơ chế về sự thích
hợp của hệ thống xã hội đối với những điều kiện môi trƣờng của nó trong cơ
cấu nội tại của nó. Đó là thời điểm năng động của sự phân tích đòi hỏi một sự
quan tâm sâu sắc đến các quá trình và ý nghĩa của chúng, theo quan điểm của
thuyết cơ cấu chức năng , cần phải xem xét đối với sự duy trì của hệ thống xã
hội.
Nói cách khác, T. Parsons đề ra cho thuyết cơ cấu chức năng hai vấn đề
phải giải quyết: thứ nhất, là những điều kiện để duy trì và thực hiện sự vận
động của hệ thống xã hội. Thứ hai, là những phƣơng thức của bản thân hành
động xã hội trong quá trình vận động của hệ thống xã hội.
Để giải quyết vấn đề thứ nhất, Parsons đƣa ra những đòi hỏi về chức
năng đối với mọi hệ thống hoạt động cũng nhƣ đối với các yếu tố cơ cấu
tƣơng ứng với hệ thống đó.
Những đòi hỏi về chức năng đó gồm 4 yếu tố/ quá trình sau:
A (Adaptation): sự thích nghi
G (Goal) : mục đích
I (Integration) : sự phối hợp
L (Latents) : sự duy trì
Những yếu tố trên hợp thành 4 chức năng cơ bản của một hệ thống. Trên
thực tế, bản thân hệ thống xã hội với những hệ thống sinh học (vật chất), tinh
thần, văn hoá tạo thành cơ sở môi trƣờng của nó cũng chỉ là một phân hệ hành
động. Nó đƣợc phân tích thành những yếu tố cơ cấu liên quan chặt chẽ với
nhau: những “vai trò” làm cho hành động xã hội thích nghi với môi trƣờng
thông qua những yếu tố trung gian, những “tổ chức/ tập thể” xác định và kiểm

21


22 môn đồ của thuyết chức năng, để giải thích sự tồn tại của một thiết chế xã hội,
chúng ta không nên tìm hiểu mục đích của các cá nhân mà phải tìm hiểu xem
hệ thống xã hội, nhƣ một tổng thể, đòi hỏi những nhu cầu của nó phải đƣợc
thoả mãn nhƣ thế nào.
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học theo trƣờng phái chức năng cũng nhận
thấy mô hình trên đƣa ra cho chúng ta một bức tranh về một xã hội hoàn toàn
tĩnh, không có sự thay đổi và không có xung đột giữa các nhóm xã hội đối
lập. Mọi ngƣời đƣợc xã hội điều hoà mạnh mẽ để tuân thủ và mọi hiện tƣợng
xã hội có thể đƣợc lý giải thông qua chức năng. Con ngƣời nhƣ những cỗ máy
và hành động theo những vai trò đã đƣợc xã hội định trƣớc.
Các nhà xã hội học, kể cả những ngƣời theo lý thuyết chức năng cũng
phải thừa nhận có một số những khác biệt về các giá trị giữa những nhóm
khác nhau trong xã hội và mọi ngƣời phải thích ứng và thay đổi khi hoàn cảnh
xã hội biến đổi.
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của tổ
chức Công đoàn, các hội trong quản lý kinh tế – xã hội. "Trong nhiều nƣớc,
các nghiệp đoàn đóng một vai trò quan trọng trong việc đƣa ra và phổ biến
thông tin về những vấn đề lao động và chính sách có liên quan. Sự phát triển
của những tổ chức có tính chất trung gian này phản ánh phong trào lớn hơn,
tức là tiến tới nền dân chủ ở nhiều khu vực và trong một số nƣớc, phản ánh
nhu cầu san lấp “cái khoảng giữa hẫng hụt” giữa các công dân và Nhà nƣớc.
Tuy nhiên, không phải tất cả các tổ chức này đều có tính đại diện nhƣ nhau
hoặc là đại diện cho những lợi ích công cộng một cách rộng rãi hơn". [Ngân
hàng thế giới: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi – Báo cáo về tình
hình phát triển thế giới 1997, Nxb Chính trị quốc gia, 1998, tr. 144].
Theo lý thuyết chức năng, những hiệp hội đóng vai trò cốt yếu trong việc

chức, xã hội sao cho thích đáng. Điều đó đã hạn chế khả năng phân tích và
giải thích sự quá độ từ mô hình tổ chức Công đoàn thời kỳ quản lý kinh tế
theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình tổ chức Công đoàn thời
kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế thị trƣờng. Điều này sẽ đƣợc khắc phục bằng lý

24 thuyết hệ thống và lý thuyết biến đổi xã hội trong quá trình phân tích những
vấn đề nghiên cứu tiếp theo.
1.2.1.3. Lý thuyết biến đổi xã hội
Biến đổi xã hội là một trong những khái niệm phong phú nhất trong xã
hội học. Ở đây chúng ta cần hiểu Biến đổi xã hội là một quá trình xã hội về
những thay đổi trong cơ cấu của một hệ thống xã hội. Những thay đổi này liên
quan đến những đặc trƣng của nó. Vấn đề đặt ra ở đây là bàn về sự thay đổi
trong cơ cấu thể chế của một xã hội.
Nếu chúng ta có thể coi “hành vi xã hội’ là dạng tổng quát nhất của một
quá trình xã hội thì có thể dễ đi đến nhận xét biến đổi xã hội là dạng tổng quát
nhất của các quá trình xã hội dẫn tới thay đổi. [G.Endruwit và
G.Trommsdoztt, NXB thế giới 2002, tr26].
Chúng ta có thể gặp quan niệm này ở Heintz, Peter: “toàn bộ các thay đổi
xảy ra trong một khoảng thời gian trong một cơ cấu xã hội” hoặc Zapt: “Sự
thay đổi các cơ cấu xã hội”. Qua đó, biến đổi xã hội đồng nghĩa với thay đổi
là từ thƣờng đƣợc dùng làm khái niệm chung để định nghĩa rất nhiều quá trình
xã hội.
Biến đổi xã hội, với quan niệm trên, đƣợc coi là khái niệm song song với
các quá trình thay đổi khác, nhƣng nó chỉ tập trung vào sự thay đổi các yếu tố
đặc trƣng của một thể thức xã hội. Nó không bao gồm mọi thay đổi của một
thể chế mà bình thƣờng đƣợc xem là tĩnh, mà gồm những thay đổi về thể loại.
Những thay đổi xảy ra thƣờng xuyên không gây hậu quả cho đặc trƣng cơ cấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status