Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
Lời cảm ơn
Trong thời gian thực tập và tìm hiểu đề tài: "Sự biến đổi cơ cấu tổ
chức và hoạt động Công đoàn Tổng Công ty Sông Đà trong quá trình đổi
mới" đã đợc hoàn thành với sự cố gắng nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ
nhiệt tình của các thầy cô Khoa Xã hội học và tập thể sinh viên lớp XH3A.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Vũ Đạt, ngời đã
giành thời gian quý báu của mình chỉ bảo cho tôi những lời khuyên đúng
đắn trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài. Đồng thời, tôi xin chân thành
cảm ơn đồng chí Nguyễn Văn Bình - Chủ tịch Công đoàn Tổng Công ty và
các đồng chí trong văn phòng Công đoàn Tổng Công ty đã tận tình chỉ
bảo, hớng dẫn và cung cấp đầy đủ những thông tin cũng nh tạo điều kiện
thuận lợi cho việc thực hiện và hoàn thành đề tài.
Song do thời gian và trình độ còn hạn chế, chắc chắn trong quá
trình hoàn thành khoá luận không thể không tránh khỏi những thiếu sót
nhất định. Rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp quý báu của các
thầy cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 04 năm 2004
Sinh viên
Phạm Thị Bình
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 1
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
Phần 1: mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với tình hình của Đất nớc ta hiện nay, tiến hành CNH HĐH Đất n-
ớc là nội dung quan trọng bậc nhất trong chiến lợc phát triển kinh tế xã
hội thời kỳ quá độ lên CNXH.
Xuất phát từ mục đích và yêu cầu trên, Đảng ta đã xác định : Đẩy
XH3A2
Sự thay đổi về tổ chức, quản lý theo cơ chế mới đã dẫn đến sự sắp xếp
lại các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nớc. Bên cạnh việc củng
cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu tổ chức, hoạt động, đổi mới nâng cao hiệu quả
các doanh nghiệp nhà nớc hiện có, chính sách cổ phần hoá, đa dạng hoá sở
hữu, chính sách giao, bán khoán, cho thuêđã dẫn đến sự biến động về lực l-
ợng lao động trong thành phần kinh tế này. Một lực lợng lớn lao động trong
các doanh nghiệp Nhà nớc do không tiếp thu đợc về công nghệ, kỹ thuật đã bị
mất việc và bổ xung vào thành phần kinh tế phi cơ cấu. Một bộ phận ( không
nhiều) khác, là ngời có trình độ tiếp cận với những tiến bộ của khoa học kỹ
thuật lại chuyển dịch sang kinh tế t nhân, liên doanh với nớc ngoàiChính sự
biến động về cơ cấu lao động trong doanh nghiệp Nhà nớc đã ảnh hởng không
nhỏ tới sản xuất kinh doanh cũng nh tổ chức hoạt động của Công đoàn trong
các doanh nghiệp nói chung.
Từ thực tế trên, tôi chọn vấn đề: Sự biến đổi về cơ cấu tổ chức và hoạt
động Công đoàn TCT Sông Đà làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Với mong muốn có một cách nhìn cụ thể hơn, toàn diện hơn theo hớng tiếp
cận Xã hội học. Từ đó đa ra những nhận định và khuyến nghị nhằm hạn chế
những bất cập trong thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động Công
đoàn TCT Sông Đà trong giai đoạn hiện nay.
2. ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1. ý nghĩa khoa học.
ứng dụng một số lý thuyết cơ bản của Xã hội học để làm rõ: Sự biến đổi
cơ cấu tổ chức và hoạt động Công đoàn TCT Sông Đà trong qúa trình đổi mới.
Từ việc vận dụng những lý thuyết đó, nhằm tìm ra những đặc trng cơ bản
cũng nh vị thế, vị trí, vai trò, chức năng của tổ chức Công đoàn nói chung.
Cụ thể hơn, đó là khi xem xét thực trạng hoạt động Công đoàn TCT
Sông Đà là một bộ phận, một tiểu cơ cấu trong hệ thống xã hội đặc thù và
tổng thể là toàn bộ cơ cấu tổ chức Công đoàn.
Công đoàn TCT Sông Đà là một nhóm xã hội, do vậy cách thức tổ
5. Phơng pháp nghiên cứu:
5.1. Phơng pháp luận.
Khoá luận đợc viết trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lê nin, T tởng Hồ Chí
Minh. Đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
* Trong phép biện chứng khẳng định: Mọi sự vật hiện tợng đều vận
động, biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Nếu nh sự vận động chỉ
phản ánh sự biến đổi nói chung không kể tính chất, khuynh hớng đi lên của sự
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 4
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
biến đổi ấy thì sự phát triển có tính đi lên, có tính kế thừa và lặp đi lập lại cái
cũ trên cơ sở cao hơn và tất yếu có sự ra đời của cái mới.
Phép biện chứng duy vật khẳng định sự phát triển sự vật, hiện tợng là
một quá trình khách quan và là sự tự phát triển, bởi đó là một sự tiến lên mà
nguồn gốc, động lực của nó là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong của
sự vật hiện tợng.
Là một bộ phận của cơ cấu xã hội, sự biến đổi cơ cấu tổ chức và hoạt
động của Công đoàn là một tất yếu khách quan. Sự biến đổi này bị chi phối
bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Đó cũng là kết quả của quá trình đấu tranh giữa những quan điểm cũ, mới
trong quá trình sắp xếp tổ chức và hoạt động Công đoàn để phù hợp với yêu
cầu đòi hỏi của thực tiễn khách quan .
Vì vậy khi nghiên cứu sự vận động biến đổi về cơ cấu tổ chức và hoạt
động Công đoàn cần dựa trên quan điểm phát triển toàn diện, có nghĩa là sự
thiếu đồng bộ trong tổ chức, sự hạn chế hiệu quả Công đoàn có thể xẩy ra nh-
ng chỉ là tạm thời nếu phát hiện kịp thời, sẽ có thể điều chỉnh và hoạt động
Công đoàn ngày càng đổi mới phát triển, khẳng định đợc vị thế của mình để
từ đó đáp ứng đợc những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn đất nớc trong giai
đoạn mới.
* Về chủ nghĩa duy vật lịch sử: Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội
* Phơng pháp quan sát:
Chủ yếu quan sát những hoạt động, cơ cấu tổ chức, những thành tích mà
Công đoàn TCT Sông Đà đạt đợc.
* Phơng pháp phân tích tài liệu:
Chủ yếu dựa vào tài liệu có liên quan đến sự biến đổi cơ cấu tổ chức và
hoạt động Công đoàn TCT Sông Đà. Từ đó nhằm nhận diện tổ chức và hoạt
động Công đoàn TCT Sông Đà trong quá trình đổi mới.
*Phơng pháp phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn sâu Chủ tịch Công đoàn TCT, một số cán bộ Công đoàn
chuyên trách và Chủ tịch Công đoàn các công ty trực thuộc nhằm thu thập
thông tin định tính liên quan đến vấn đề : Sự biến đổi cơ cấu tổ chức và hoạt
động Công đoàn TCT Sông Đà trong quá trình đổi mới.
* Ngoài ra còn một số phơng pháp quan sát; phơng pháp mô tả; phơng
pháp thống kê; phơng pháp so sánh
6. Giả thuyết nghiên cứu:
Sự biến đổi của kinh tế xã hội dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu tổ chức
và hoạt động Công đoàn.
Sự biến đổi về cơ cấu tổ chức hoạt động của Tổng công ty Sông Đà đã
dẫn đến sự đổi mới tổ chức, hoạt động của Công đoàn TCT đáp ứng yêu cầu
trong giai đoạn mới.
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 6
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
7. Khung lý thuyết:
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 7
điều kiện kinh
tế xã hội
Sự biến đổi cơ cấu tổ chức và hoạt động
công đoàn tổng công ty sông Đà
Biến đổi cơ cấu tổ
Nam.
- Giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam trong nền kinh tế
thị trờng định hớng XHCN của PGS TS Nguyễn viết Vợng- UV đoàn
Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam - Hiệu trởng Trờng Đại học Công Đoàn chủ
biên NXB Lao động 2003.
- Tài liệu tập huấn cán bộ Công đoàn cơ sở của PGS TS Nguyễn
Viết Vợng chủ biên NXB Lao động năm 1994 có bổ xung.
Công đoàn cơ sở với chơng trình nâng cao lực lợng đội ngũ công nhân
lao động quản lý doanh nghiệp, đẩy mạnh hoạt động với việc chăm lo đời
sống, việc làm cho CNVC lao động với công tác tuyên truyền giáo dục.
Có thể nói rằng trong giai đoạn này có rất nhiều công trình với quy mô
khác nhau của Công đoàn nớc ta. Vì vậy mà tôi chọn đề tài: Sự biến đổi cơ
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 8
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
cấu tổ chức và hoạt động Công đoàn TCT Sông Đà trong quá trình đổi mới
để nghiên cứu.
2. Cơ sở lý luận.
Từ khi ra đời cho đến nay, đã gần 75 năm hoạt động, Công đoàn Việt
Nam luôn có vị trí và vai trò xứng đáng trong xã hội và trong sự nghiệp cách
mạng dân tộc. Lịch sử đã chứng minh và khẳng định rằng những sự nghiệp
của Công đoàn gắn liền với sự nghiệp vẻ vang oanh liệt của Đảng và nhân dân
Việt Nam.
Đẩy mạnh CNH HĐH đất nớc và xây dựng giai cấp công nhân trởng
thành về mọi mặt là nội dung cơ bản và là nhiệm vụ trọng tâm của Cách mạng
nớc ta trong giai đoạn mới.
Đối với tổ chức Công đoàn nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân vững
mạnh là góp phần quan trọng cho sự thành công của sự nghiệp CNH HĐH
đất nớc.
Từ khi ra đời đến nay trải qua các thời kỳ lịch sử, gắn với các giai đoạn
một bớc phát triển mới của vai trò Công đoàn. Cùng với giáo dục công nhân
lao động, Công đoàn tiến hành giáo dục chính trị t tởng, giáo dục pháp luật,
giáo dục văn hoá, văn học, nghệ thuật, giáo dục lối sống, giáo dục nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần, hình thành nhân sinh quan, thế giới quan khoa
học cho CNLĐ.
Trong điều kiện kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta hiện nay, vai
trò của Công đoàn ngày càng tăng.
Hiến pháp nớc Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992 ( chơng 1, điều 10)
đã ghi rõ : Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội của giai cấp công nhân và
của ngời lao động cùng với cơ quan Nhà nớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội
chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những ngời
lao động khác, tham gia quản lý Nhà nớc và xã hội, tham gia kiểm tra, kiểm
soát hoạt động của cơ quan Nhà nớc, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công
nhân viên chức lao động khác, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Luật Công đoàn đã đợc Quốc hội Nớc cộng hoà XHCN Việt Nam thông
qua (Tại kỳ họp thứ 7- khoá VIII ngày 30-6- 1990) đã xác định: Công đoàn
là tổ chức chính trị , xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và ngời lao động
Việt Nam tự nguyện lập ra dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, là
thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, là trờng học CNXH
của ngời lao động.
Rõ ràng vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày càng đợc mở rộng.
Sự mở rộng vai trò Công đoàn là phù hợp với tính tất yếu khách quan ,
tính quy luật trong vận động và phát triển tổ chức Công đoàn, nó phù hợp với
quy luật chung của quá trình xây dựng CNXH, nó là một bộ phận cấu thành
quá trình nâng cao vai trò của tất cả các tổ chức chính trị xã hội dới sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản.
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 10
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
Đánh giá vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày nay, cần có cách nhìn
Đó là những căn cứ quan trọng để Công đoàn có khả năng phát huy và
mở rộng vai trò của mình trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Để phát huy
hơn nữa vai trò của Công đoàn, ngoài căn cứ trên Công đoàn còn phải chủ
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 11
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
động, tích cực thực hiện ba chức năng của mình. Vì vai trò và chức năng của
Công đoàn có mối liên hệ khăng khít. Từ tính chất, vị trí, vai trò sẽ xác định
chức năng Công đoàn và khi thực hiện tốt chức năng sẽ làm cho vai trò Công
đoàn ngày càng đợc củng cố và nâng cao.
Công đoàn TCT Sông Đà là một thành viên của Công đoàn Việt Nam, đ-
ợc thành lập cách đây hơn 40 năm. Tập thể cán bộ đoàn viên Công đoànTCT
đã có nhiều đóng góp trong thành tích to lớn của TCT, trên các lĩnh vực: Kinh
tế, chính trị, xã hội, văn hoá t tởng qua việc tập hợp giáo dục phát động quần
chúng CNVC trong các phong trào thi đua lao động sản xuất, chăm lo đời
sống ngời lao động, đặc biệt là đào tạo và giáo dục cho mỗi CNVC, ngời lao
động ngày một nâng cao nhận thức, hiểu biết về công cuộc đổi mới nền kinh
tế của đất nớc, để mọi ngời ra sức lao động và học tập, phù hợp với yêu cầu
nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới. Mặc dù vậy phong trào CNVC và
công tác Công đoàn vẫn còn có những tồn tại cần đợc đổi mới, nhất là vai trò
của tổ chức Công đoàn. Vì vậy việc nâng cao vai trò tổ chức Công đoàn trong
TCT Sông Đà là một vấn đề cần đợc moị ngời quan tâm kịp thời.
Là một sinh viên của Trờng Đại học Công Đoàn Việt Nam cùng với thực
tiễn và những kiến thức tiếp thu đợc, tôi mong muốn tiếp tục cống hiến cho sự
nghiệp xây dựng tổ chức Công đoàn. Vì vậy tôi chọn đề tài: Sự biến đổi cơ
cấu tổ chức và hoạt động Công đoàn TCT Sông Đà trong quá trình đổi mới.
3. quan điểm của chủ nghĩa mác lê nin, chủ tịch hồ chí
minh và đảng cộng sản việt nam về vai trò, vị trí của
công đoàn.
3.1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin về vai trò, vị trí của tổ chức
lợi kinh tế, chính trị của giai cấp công nhân.
Khi nói về vị trí Công đoàn trong hệ thống chính trị xã hội của thời kỳ
quá độ lên CNXH, trong hệ thống chuyên chính vô sản, V.I Lê Nin đã chỉ rõ:
Công đoàn đứng giữa Đảng và chính quyền Nhà nớc
Đứng giữa có nghĩa là Công đoàn không phải là tổ chức mang tính
chất Đảng phái, Nhà nớc, mà Công đoàn vẫn là một tổ chức độc lập, Công
đoàn không tách biệt giữa Đảng và Nhà nớc mà có quan hệ chặt chẽ giữa
Đảng và Nhà nớc. Công đoàn là hình thức rộng rãi nhất để liên hiệp giai cấp
CNLĐ thu hút không chỉ những ngời giác ngộ tiên tiến, tích cực mà cả những
ngời chậm tiến, kém giác ngộ, kém tích cực vào đội ngũ của mình. Công đoàn
không lựa chọn mà luôn luôn cố gắng tập hợp toàn bộ quần chúng lao động,
Công đoàn là chỗ dựa vững chắn của Đảng vì trong điều kiện CNXH, Đảng
viên vẫn là số ít so với toàn thể ngời lao động. Đảng có thể lãnh đạo đợc quần
chúng nếu biết dựa vào các tổ chức quần chúng, trớc hết là Công đoàn. Trong
cuốn: Bệnh ấu trĩ, V.I Lê Nin chỉ thị : Trong công tác, Đảng dựa trực tiếp
vào Công đoàn.
Mối quan hệ giữa Công đoàn và Đảng cộng sản trong chặng đầu lên
CNXH thể hiện: Vai trò của Đảng đối với Công đoàn, mặt khác thể hiện trách
nhiệm của Công đoàn trong việc thực hiện đờng lối chính sách của Đảng.
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 13
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
Vai trò của Đảng cộng sản đối với Công đoàn: Đảng lãnh đạo Công
đoàn.
Tại sao Công đoàn không thể thiếu sự lãnh đạo của Đảng? Vì Đảng tập
hợp bộ phận tiên phong nhất, tích cực nhất, Đảng thể hiện đầy đủ phẩm chất
trí tuệ và ý chí, những giá trị đạo đức của giai cấp công nhân.
Đảng vạch ra học thuyết thực sự khoa học về sự phát triển của xã hội. Nếu
không có sự lãnh đạo của Đảng thì Công đoàn có thể rơi vào các quan điểm t
sản, phờng hội, chỉ tiến hành đấu tranh kinh tế, chứ không đấu tranh lật đổ nền
Công đoàn là ngời cung cấp cán bộ cho Đảng và Nhà nớc Không có
một nền móng nh các tổ chức Công đoàn thì không thể thực hiện đợc các
chức năng Nhà nớc.
Khi dự thảo chính sách kinh tế mới về công tác Công đoàn, Lê Nin đã
nhấn mạnh về phơng pháp hoạt động của Công đoàn: Công đoàn phải biết
thích ứng với quần chúng, với trình độ hiện thời của quần chúng, mặt khác
Công đoàn tuyệt đối không đợc nuông chiều những thành kiến và những t t-
ởng lạc hậu của quần chúng, trái lại, không ngừng đa quần chúng lên một
trình độ ngày một cao hơn.
Những quan điểm đó của Lê Nin không những đã chỉ rõ vị trí, mà còn
nêu bật vai trò mới của Công đoàn Cách mạng. Nó không chỉ là tổ chức liên
hiệp bảo vệ quyền lợi công nhân mà còn là tổ chức chính trị xã hội của công
nhân xây dựng xã hội mới. Vì lẽ đó, Lê Nin đã không hề lơi là quan tâm
phong trào Công đoàn. Ông đã giành không ít tâm huyết bàn về tổ chức này,
hớng nó theo con đờng Cách mạng do Đảng cộng sản BônXêVích lãnh đạo.
Trên thực tế, Công đoàn Nga lúc đầu đã xứng đáng với niềm tin của Lê Nin.
Những t tởng của Lê Nin về Công đoàn nh vậy đã trở thành lý luận hớng dẫn
các Đảng cộng sản trong chiến lợc xây dựng lực lợng Cách mạng.
3.2. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam
về vai trò, vị trí, chức năng của tổ chức Công đoàn Việt Nam:
Sự ra đời của tổ chức công Đoàn Việt Nam gắn liền với tên tuổi và cuộc
đời hoạt động của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc. Ngay từ những năm tháng xa tổ
quốc, bôn ba hoạt động phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Ngời đã
chú ý tới việc thành lập tổ chức Công đoàn ở Việt Nam (lúc đó gọi là công
hội). Trong tác phẩm Đờng kách mệnh xuất bản năm 1927, Ngời viết: Tổ
chức công hội trớc hết là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình,
hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân
cho khá hơn bây giờ, bốn là để giúp cho Quốc dân, giúp cho thế giới và Ngời
khẳng định: Công hội là cơ quan của công nhân để chống lại T bản và đế
quốc chủ nghĩa.
ngời lao động.
4. tính chất công đoàn việt nam
Công Đoàn Việt nam có 2 tính chất: Tính chất giai cấp và tính chất quần
chúng:
* Tính chất giai cấp của giai cấp công nhân là cơ sở xã hội hình thành tổ
chức Công đoàn. Công đoàn ra đời để bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân,
chống lại giai cấp t sản. Công đoàn với t cách là tổ chức của giai cấp nên nó
nằm trong hệ thống chính trị xã hội của đất nớc, nó là tổ chức liên hiệp công
nhân lao động theo nghề nghiệp và dựa trên nguyên tắc tự nguyện.
Tính chất giai cấp công nhân của Công đoàn Việt Nam thể hiện:
- Công đoàn Việt Nam đặt dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam.
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 16
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
- Mục đích hoạt động của Công đoàn Việt Nam vì lý tởng của giai
cấp công nhân, xây dựng xã hội không có ngời bóc lột ngời
- Xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam đảm bảo thống nhất hành
động của giai cấp công nhân Việt Nam, không chấp nhận đa nguyên trong
Công đoàn. Xây dựng Công đoàn theo đờng lối của Đảng cộng sản Việt
Nam và quán triệt theo nguyên tắc tập chung dân chủ.
* Tính quần chúng của Công đoàn biểu hiện ở sự liên kết, tập hợp rộng
rãi công nhân lao động. Thực chất là sự tự nguyện ra nhập, tự nguyện liên kết
vì nhu cầu lợi ích và cùng chung nguyện vọng, mục đích tơng đồng.
Biểu hiện tính chất quần chúng của Công đoàn Việt Nam là:
- Kết nạp đông đảo công nhân lao động vào tổ chức công đoàn, điều
kiện kết nạp là tự nguyện thừa nhận Công đoàn Việt Nam.
Cơ quan lãnh đạo Công đoàn Việt Nam bao gồm những ngời đợc quần
chúng công nhân lao động tín nhiệm bầu nên từ đại hội Công đoàn các cấp.
Đại diện cho tiếng nói, nguyện vọng của Đoàn viên và Công nhân lao
trung tâm, là hạt nhân của tất cả các tổ chức Nhà nớc và các đoàn thể quần
chúng. Nhà nớc là công cụ chủ yếu để thực hiện công cuộc cải tạo xã hội cũ,
xây dựng xã hội mới, xã hội XHCN.
Công đoàn với t cách là tổ chức quần chúng của giai cấp công nhân, là
thành viên của hệ thống chính trị, Công đoàn là tổ chức hợp pháp, bình đẳng
và có vị trí xứng đáng trong xã hội. Quyền hạn và trách nhiệm của Công đoàn
đã đợc ghi nhận tại Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm
1992, Luật Công đoàn và các văn bản pháp luật khác. Công đoàn là tổ chức
rộng rãi nhất để liên kết CNLĐ. Công đoàn thu hút mọi CNLĐ vào tổ chức
của mình để giáo dục, rèn luyện và động viên CNLĐ trong thực hiện nhiệm
cách mạng do Đảng cộng sản Việt Nam đề xớng và lãnh đạo. Công đoàn là
sợi dây nối liền giữa Đảng với quần chúng.
Mối quan hệ các thành viên trong Hệ thống chính trị (Chủ yếu là mối
quan hệ giữa Nhà nớc và các đoàn thể quần chúng khác, dới sự lãnh đạo của
Đảng). Công đoàn cần giữ tính độc lập của mình. Đồng thời Công đoàn đòi
hỏi các thành viên đó tôn trọng tính độc lập của mình.
Tính độc lập ở đây là độc lập về mặt tổ chức và hoạt động mà chúng ta
thờng nói là độc lập tơng đối. Không phải là độc lập hoàn toàn, không phải
độc lập về chính trị. Bởi vì Công đoàn không có đờng lối chính trị riêng, mọi
hoạt động của Công đoàn đều theo định hớng chính trị của Đảng cộng sản
Việt Nam. Độc lập về mặt tổ chức ở đây là việc kết nạp đoàn viên, thành lập
Công đoàn, xây dựng bộ máy, bầu cử tuyển chọn, đào tạo, bồi dỡng cán bộ,
điều hành công việc là theo quy định của điều lệ Công đoàn. Mọi phơng pháp
tiến hành công việc của Công đoàn, phù hợp với chức năng Công đoàn mà
Pháp luật đã quy định và không đợc trái với đờng lối, chính sách của Đảng và
Nhà nớc. Mối quan hệ chặt chẽ giữa Đảng và Công đoàn là yếu tố quan trọng
tạo nên sự bền vững cho hệ thống chính trị xã hội XHCN.
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 18
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
cùng với cơ quan Nhà nớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ
quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những ngời lao động khác.
Tham gia quản lý Nhà nớc và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động
của cơ quan Nhà nớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền
lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và ngời lao động xây dựng và bảo vệ tổ
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 19
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
quốc. Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá VIII ngày 30 06 1990 đã thông
qua Luật Công đoàn và khẳng định: Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội
rộng lớn của giai cấp công nhân và của ngời lao động Việt Nam tự nguyện lập
ra dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, là thành viên trong hệ thống
chính trị của xã hội Việt Nam, là trờng học CNXH của ngời lao động. Rõ
ràng, từ thực tế của xã hội đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng và từ quá trình
vận động và phát triển của các tổ chức chính trị xã hội (trong đó có Công
đoàn) thì vai trò của Công đoàn đã đợc Pháp luật thừa nhận. Vai trò đó bao
hàm quy định sự tham gia của Công đoàn theo chức năng của mình trên các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, lĩnh vực văn hoá t tởng và mối quan hệ của
tổ chức Công đoàn với Đảng, với Nhà nớc đặc biệt là vai trò Công đoàn đối
với ngời lao động.
Trong nền kinh tế thị trờng, vai trò Công đoàn đối với ngời lao động đợc
xác định nh sau:
- Công đoàn là tổ chức đại diện và bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp
pháp của công nhân lao động, là chỗ dựa tinh thần của ngời lao động.
- Công đoàn là trờng học giác ngộ giai cấp và tinh thần dân chủ, sống t-
ơng thân, tơng ái giữa những ngời lao động, đấu tranh để xây dựng xã hội
giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Phát huy tốt vai trò Công đoàn đối với ngời lao động là yếu tố hết sức
quan trọng để công nhân lao động ngày càng gắn bó với tổ chức Công đoàn.
Vai trò Công đoàn gắn bó chặt chẽ với chức năng Công đoàn, chức năng
Về chức năng bảo vệ lợi ích ở đây cần làm rõ: Tại sao Công đoàn phải bảo
vệ? Bảo vệ nh thế nào? Muốn bảo vệ đợc lợi ích Công đoàn phải làm gì?
Dới chế độ XHCN, chức năng bảo vệ quyền lợi của ngời lao động vừa có
tính kế thừa, nhng vừa có tính phát triển mới. Bảo vệ là chức năng vốn có của
tổ chức Công đoàn, nhng dới chế độ XNCH chức năng bảo vệ hoàn toàn khác
với chế độ TBCN, vì sau khi đập tan nhà nớc mới vẫn còn mắc bệnh quan liêu
dẫn tới thờ ơ trớc quyền lợi của ngời lao động, ở nơi này, nơi khác còn biểu
hiện độc đoán, trù dập, ức hiếp quần chúng, tham ô, lãng phí, móc ngoặc, hối
lộ, tham nhũng, vi phạm lợi ích đời sống ngời lao động. Thực tế không thể
một lúc xoá bỏ các tệ nạn trên. Do đó, Công đoàn phải là ngời chống lại các
tệ nạn quan liêu, chống lại các biểu hiện tiêu cực. Đây là sự bảo vệ đặc biệt
khác với sự bảo vệ dới chế độ TBCN, Công đoàn không bảo vệ bằng cách
chống lại nhà nớc, không bảo vệ bằng cách mạng tính đối kháng. Đồng thời
Công đoàn cũng bảo vệ chính lợi ích của Nhà nớc XHCN.
Đặc biệt từ khi thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ
chế thị trờng, quan hệ lao động trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu
t với nớc ngoài. Đó là quan hệ chủ thợ, thì việc bảo vệ lợi ích của của ngời lao
động càng trở nên bức xúc, nhất là các vấn đề tiền công, thời gian lao động,
bảo hộ lao động.
Công đoàn phải hết sức coi trọng bảo vệ lơị ích thiết thực hàng ngày của
ngời lao động, đồng thời không vì thế mà để lợi ích trớc mắt, lợi ích cục bộ,
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 21
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
bộ phận làm tổn hại đến lợi ích cơ bản, lâu dài, lợi ích toàn bộ xã hội và lợi
ích của toàn bộ giai cấp công nhân.
- Về chức năng tham gia quản lý: Đây là chức năng đặc thù chỉ có đợc
khi giai cấp công nhân đã nắm chính quyền. Đó là thành quả to lớn của giai
cấp công nhân đã giành đợc sau bao nhiêu năm đấu tranh gian khổ.
Nội dung chức năng tham gia quản lý bao gồm: Tham gia, kiểm tra,
XH3A2
- Kiểm tra các cơ quan Nhà nớc, các tổ chức, các đơn vị bảo vệ quyền
dân chủ và lợi ích hợp pháp của ngời lao động cũng là nội dung chủ yếu của
tham gia quản lý.
Chức năng giáo dục của Công đoàn trong điều kiện mới hiện nay nhằm
tác động trực tiếp vào việc đổi mới t duy, nâng cao nhận thức, nâng cao trình
độ thẩm mỹ, ổn định tình hình t tởng cho CNLĐ. Đổi mới hoạt động tuyên
truyền giáo dục cả về nội dung hình thức và biện pháp để chuyển tải thông tin
nhiều mặt, nhiều chiều, đúng định hớng về chính trị, văn hóa, nghệ thuật,
khoa học kỹ thuậtđến với ngời lao động. Nội dung chủ yếu bao trùm nhất
là: Công đoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục, động viên ngời lao động phát
huy vai trò làm chủ đất nớc, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN. Phát huy truyền thống yêu nớc và Cách mạng của
giai câp công nhân, t tởng đạo đức Hồ Chí Minh, kiên định con đờng XHCN
do Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, xây dựng ý thức Nhà nớc Pháp quyền, ý thức
tuân thủ pháp luật và mọi kỷ cơng xã hội. Công đoàn phối hợp với cơ quan,
đơn vị tổ chức đời sống văn hoá cho CNLĐ, đào tạo, bồi dỡng nâng cao trình
độ văn hoá cho CNVC.
Trên đây là những vấn đề mang tính lý luận, chỉ rõ vai trò, chức năng
Công đoàn nói chung. Khi xác định các biện pháp đổi mới hoạt động Công
đoàn không thể ra rời những yêu cầu đó. Song để các biện pháp phù hợp với
điều kiện cụ thể, nhất thiết phải khảo sát thực trạng hoạt động Công đoàn
trong phạm vi xem xét của khoá luận. Đây đợc coi là cơ sở thực tiến của đề
luận văn.
7. hệ thống lý thuyết và những khái niệm công cụ.
7.1. Hệ thống lý thuyết.
7.1.1. Lý thuyết cơ cấu chức năng.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng lý thuyết cấu trúc chức
năng, đó là lý thuyết cấu trúc chức năng của Parsons và Spencer.
Theo cách tiếp cận của Parsons nhà xã hội học ngời Mỹ cho rằng
động Công đoàn TCT Sông Đà trong giai đoạn hiện nay.
7.1.2. Lý thuyết hành động xã hội.
Theo Parsons, mỗi hành động đều đợc miêu tả bằng ba gía trị cơ bản:
Thứ nhất: thực tế tình huống; thứ hai:những nhu cầu của chủ thể hành động;
thứ ba: sự đánh giá tình huống của chủ thể hành động luôn có xu hớng cân
bằngnhững nhu cầu cá nhân của mình với những đòi hỏi của xã hội.
Mặc dù vậy, Parsons vẫn nhận thấy rằng có thể có những xung đột giữa
những nhu cầu của chủ thể hành động và những khuân mẫu cần thiết cho sự
định hớng nhằm duy trì hệ thống, song ông lại cho rằng chủ thể hành động
luôn sẵn sằng tìm cách dung hoà để luôn giữ đợc hệ thống trong thế cân bằng.
Sở dĩ con ngời sẵn lòng đáp ứng những đòi hỏi của hệ thống trớc những nhu
cầu cá nhân của mình, theo Parsons là do bản năng của họ luôn tránh những
đau đớn về thể xác cũng nh hình phạt của xã hội.
Trờng ĐH Công đoàn Việt Nam 24
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Bình
XH3A2
Từ lý thuyết hành động xã hội, khoá luận cần tập trung làm rõ vấn đề
hoạt động Công đoàn trong giai đoạn hiện nay sao cho phù hợp với hệ thống
chức năng cũng nh tính chất, vị trí của Công đoàn Việt Nam.
7.1.3. Lý thuyết biến đổi xã hội.
Theo Mác, sự phát triển của xã hội loài ngời là một quá trình phát triển
lịch sử tự nhiên. Động lực quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội là đời
sống sản xuất vật chất của xã hội. Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, lực
lợng sản xuất luôn vận động và phát triển không ngừng đòi hỏi phải có quan
hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Mỗi khi
quan hệ sản xuất trở nên chật hẹp và lỗi thời kìm hãm sự phát triển của lực l-
ợng sản xuất thì tất yếu dẫn đến một cuộc cách mạng xã hội làm thay đổi
quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lợng sản xuất.
Việc vận dụng quan điểm này vào sự phân tích biến đổi cơ cấu tổ chức