PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ PHÂN QUYỀN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN INTIMEX TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI - Pdf 68

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC
TRẠNG CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ PHÂN QUYỀN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
INTIMEX TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình nghiên
cứu các hiện tượng kinh tế xã hội. Với luận văn này, để nghiên cứu thực trạng cơ cấu tổ
chức và phân quyền của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội em đã sử dụng
một số phương pháp sau đây để thu thập và phân tích dữ liệu.
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
3.1.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu không có sẵn, người nghiên cứu phải tự mình thu thập nó
sao cho phù hợp với vấn đề nghiên cứu đặt ra. Có nhiều phương pháp thu thập dữ liệu
sơ cấp. Để đạt được hiệu quả mong muốn, trong quá trình thu thập dữ liệu sơ cấp, em
đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp với nhau. Bao gồm:
- Phương pháp quan sát: Ghi lại có kiểm soát các sự kiện hoặc các hành vi ứng xử
của các nhà quản trị, các nhân viên làm việc trong đơn vị thực tập.
- Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi: Em đã xây dựng hai loại phiếu điều tra
trắc nghiệm: một cho đối tượng là nhà quản trị và một là cho nhân viên, trong đó bao
gồm các câu hỏi về cơ cấu tổ chức và phân quyền được sắp xếp theo logic nhất định.
Sau đó gửi phiếu điều tra tới các đối tượng này trong Công ty để thu thập được những
thông tin cần thiết.
- Phương pháp phỏng vấn: Có những vấn đề về cơ cấu tổ chức và phân quyền của
Công ty mà phiếu điều ta chưa thể làm rõ được, do vậy em đã tiến hành phỏng vấn
chuyên sâu với các nhà quản trị của công ty. Để thực hiện công việc này em đã xây
dựng những câu hỏi dài và phức tạp hơn nhằm để người được phỏng vấn có được đầy
đủ hơn các dữ liệu về khách thể nghiên cứu.
3.1.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
- Từ phía Công ty: báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính,
tình hình cơ cấu lao động, kỷ yếu 30 năm thành lập.
- Từ các công trình nghiên cứu trước: luận văn tốt nghiệp khóa 41 và 42 Khoa Quản
trị doanh nghiệp- Đại học Thương mại.

xuất khẩu.
Thời kỳ 1989 -1990: Intimex đã trở nên nổi tiếng với mọi người đi lao động, công
tác, học tập nước ngoài trở về Việt Nam thời kỳ này và hoàn thành nhiệm vụ được giao
phó, thu về cho Nhà nước hàng chục triệu USD mỗi năm.
Thời kỳ sau năm 1998: Sau 10 năm Intimex đã trở thành nhà xuất khẩu cà phê, hạt
tiêu hàng đầu cả nước mỗi năm xuất khẩu từ 150.000-200.000 tấn cà phê, từ 10.000-
15.000 tấn tiêu, chiếm 20% xuất khẩu cà phê ở Việt Nam và 15% tiêu của cả nước trở
thành doanh nghiệp xuất khẩu nổi tiếng trong ngành thương mại cũng như trong và
ngoài nước.
Năm 2006 có 3 đơn vị của Intimex cổ phần hoá thành công và phát triển mạnh trở
thành doanh nghiệp có doanh thu lớn thứ 5 trong 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất
Việt năm 2008. Tháng 7/2009, Công ty Intimex đã cổ phần hóa thành công và phát triển
mạnh trở thành doanh nghiệp có doanh thu lớn.
Ngành nghề kinh doanh của Intimex rất đa dạng bao gồm:
+ Kinh doanh dịch vụ siêu thị.
+ Kinh doanh, chế biến hàng nông, thủy, hải sản, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ.
+ Nuôi trồng giống thủy, hải sản.
+ Kinh doanh nguyên liệu, vật liệu xây dựng, sắt thép, trang thiết bị y tế.
+ Mua bán đá quý, thuốc lá nội, thức ăn chăn nuôi, giống thủy, hải sản, phân bón.
+ Kinh doanh phương tiện vận tải, sản xuất, gia công, lắp ráp xe máy.
+ Kinh doanh dịch vụ viễn thông (không bao gồm thiết lập mạng).
+ Lữ hành nội địa, lữ hành quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch (không bao gồm
kinh doanh quán bar, phòng karaoke, vũ trường).
+ Kinh doanh khách sạn, nhà ở, cho thuê văn phòng, cửa hàng, kho bãi.
+ Dịch vụ chuyển khẩu, chuyển tải hàng hóa.
+ Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, hạ tầng đô thị,
khu công nghiệp, công trình cấp thoát nước.
+ Sản xuất, gia công hàng may mặc.
+ Xuất nhập khẩu các sản phẩm, hàng hóa Công ty kinh doanh
Sau hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành, Công ty đã từng bước vượt qua khó

thấy khi so sánh tương quan giữa sự tăng trưởng doanh thu của hoạt động này với sự
gia tăng chi phí có sự không tương xứng, có nghĩa là mặc dù Công ty đầu tư khá nhiều
nguồn lực cho hoạt động này nhưng hiệu quả của nó lại không cao.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: năm 2009 so với 2008 có sự tăng nhỏ 0,45% nhưng
năm 2010 so với 2009 lại tăng tới 24,33%. Bên cạnh việc do tiền điện, nước phụ trội do
bị cắt điện luân phiên và phải sử dụng năng lượng thay thế, thì sau khi CPH tháng
7/2009 Công ty phải tiến hành tổ chức lại bộ máy của mình, tiến hành bổ nhiệm, điều
chuyển cán bộ giữa các đơn vị, tuyển dụng và đào tạo để bổ sung nhân lực vào vị trí
còn khuyết…Điều này làm gia tăng đáng kể các chi phí quản lý doanh nghiệp.
3.2.1.2 Tổng quan tình hình cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty Cổ phần
Intimex trên địa bàn Hà Nội
Như đã giới thiệu ở phần đầu của luận văn, cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần
Intimex Việt Nam chia thành khối các Ban quản lý, khối các Ban kinh doanh, khối các
đơn vị trực thuộc và khối các công ty con và công ty liên kết. Với giới hạn đề tài này
chỉ nghiên cứu cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty Cổ phần Intimex Việt Nam
trên địa bàn thành phố Hà Nội bao gồm 15 ban trực thuộc Văn phòng Công ty bao gồm:
khối các Ban quản lý (6 tiểu ban), khối các Ban kinh doanh (4 tiểu ban) và hệ thống
siêu thị Intimex ở Hà Nội (5 siêu thị).
Trong năm 2009, cùng với việc CPH thì công tác cán bộ cũng được bố trí, sắp xếp,
điều động cho phù hợp. Trên cơ sở kế thừa từ khối văn phòng đến các đơn vị trực
thuộc, mặc dù đã có nhiều thay đổi theo hướng hợp lý hóa song cơ cấu tổ chức và phân
quyền tại Công ty Cổ phần Intimex nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng vẫn còn
tồn tại nhiều bất cập và hạn chế cần phải giải quyết.
Về cơ cấu tổ chức, mô hình tổ chức của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà
Nội là mô hình hỗn hợp, là sự kết hợp của mô hình tổ chức trực tuyến và chức năng.
Tuy nhiên với cơ cấu tổ chức này lãnh đạo công ty lại phải giải quyết thường xuyên
mối quan hệ giữa các phòng ban và khối lượng công việc của ban lãnh đạo là khá lớn.
Các phòng ban được xây dựng khá đầy đủ, chuyên môn hóa các chức năng song sự
phối hợp giữa các phòng ban trong Công ty chưa chặt chẽ, mỗi phòng ban lại quá tập
trung vào mục tiêu riêng của mình tạo ra khó khăn trong việc hợp tác và truyền thông.

chuyển trong việc xóa bỏ khâu quản lý trung gian. Trung tâm thương mại bị giải tán,
thay vào đó hình thành hai ban mới là: Ban quản lý siêu thị, Ban kho vận và bán buôn,
và các siêu thị trở thành đơn vị chịu sự quản lý trực tiếp của Ban Tổng giám đốc.
* Chức năng và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Công ty Cổ phần
Intimex Việt Nam hiện nay, tiền thân là Công ty Xuất nhập khẩu Nội thương và Hợp
tác xã, trực thuộc Bộ Nội thương (Bộ Công Thương), được tổ chức theo quyết định 217
TTg ngày 23/6/1979 của Thủ tướng Chính phủ và quyết định 58 NT/QĐ ngày
10/08/1797 của Bộ Nội thương. Với nhiệm vụ kinh doanh XNK dưới hình thức trao đổi
hàng hóa nội thương và hợp tác xã với các nước XHCN và một số nước khác.
Là một DNNN, chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Công Thương trên tất cả các mặt
của hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm cả các vấn đề về xây dựng cơ cấu tổ chức
cũng như bổ nhiệm nhân sự vào các vị trí chủ chốt.
Tháng 7/2009, sau lần thất bại năm 2007 thì lần này công ty đã cổ phần hóa thành
công. Đây là một bước chuyển biến mới, từ doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước chuyển
sang Công ty Cổ phần với vốn Nhà nước chỉ còn 49%, làm cho chủ sở hữu trong doanh
nghiệp trở nên đa dạng hơn. Ngay sau đó Công ty đã tiến hành tổ chức lại công tác cán
bộ, sắp xếp, điều chuyển, bổ nhiệm nhân sự vào các vị trí trong Công ty. Và hiện tai đề
án tái cấu trúc của Công ty đang được xây dựng để sớm đưa vào thực hiện
* Công nghệ của doanh nghiệp: Với việc hoạt động trên nhiều lĩnh vực là kinh doanh
XNK, kinh doanh siêu thị và nhất là kinh doanh khai thác cơ sở vật chất và sản xuất,
Công ty Intimex đã trang bị các loại thiết bị văn phòng, các phần mềm quản lý, các thiết
bị thi công…tuy nhiên các loại thiết bị này đã lạc hậu. Điều này ảnh hưởng không nhỏ
tới cơ cấu tổ chức của công ty. Đơn cử là phần mền quản lý siêu thị hiện nay đã lạc hậu,
không đáp ứng được yêu cầu quản lý về số liệu như: trưng bày hàng hóa, quản lý nhập
hàng, quản lý hàng tồn kho…theo xu hướng của bán lẻ hiện đại làm gia tăng công việc
cho nhà quản lý và số nhân viên cần để thực hiện các nghiệp vụ này cũng tăng lên đáng
kể.
* Quy mô của doanh nghiệp: Khi mới thành lập, tổ chức của Công ty bao gồm một giám
đốc và 20 cán bộ, nhân viên căng ra với công việc, vừa làm, vừa học, tự bổ túc kiến
thức ngoại thương để tự hoàn thiện nhằm đảm trách được hoạt động của Công ty.

năng làm việc độc lập không cao. Điều này dẫn đến việc cần nhiều hơn nhà quản trị
trung gian để hướng dẫn và quyền hành giao cho nhân viên cũng sẽ hạn chế hơn.
Trang thiết bị của Công ty chưa ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động quản lý,
hệ thống máy tính chưa được tích hợp với các phần mềm quản lý hiện đại…để đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của việc quản lý Công ty. Do đó, tạo ra không ít khó khăn cho
nhà quản trị, làm gia tăng số lao động cần thiết cho cùng một đầu công việc.
3.2.2.2 Nhân tố bên ngoài
a. Môi trường chung
* Môi trường kinh tế: Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường, thêm nữa Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức thương mại
quốc tế WTO, điều đó có nghĩa hội nhập và toàn cầu hóa là xu thế của kinh tế Việt Nam
nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Đặc biệt với một doanh nghiệp lấy
XNK làm mũi nhọn phát triển như Công ty Intimex thì một yêu cầu đặt ra là luôn phải
hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị sao cho phù hợp với điều kiện thị trường để
duy trì và khẳng định vị trí của mình trên thương trường.
Năm 2010, mặc dù kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có nhiều khởi
sắc sau khủng hoảng song vẫn còn tềm ẩn nhiểu rủi ro, đặt ra những thách thức không
nhỏ cho Công ty. Điều này càng đòi hỏi Intimex càng phải nhanh chóng hoàn thành đề
án tái cấu trúc đang còn dang dở nhằm hình thành một cơ cấu tổ chức và phân quyền
thực sự hợp lý và hữu hiệu.
* Môi trường pháp luật: Hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng hoàn thiện và phù hợp
hơn, đảm bảo sự công bằng cho mọi loại hình doanh nghiệp, tạo ra môi trường pháp lý
giúp doanh nghiệp phát triển, ổn định về cơ cấu tổ chức.
Cùng với quá trình Cổ phần hóa DNNN, hệ thống các văn bản pháp lý về CPH cũng
đã liên tiếp được sửa đổi, bổ sung để ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn: xác định
rõ hơn mục tiêu CPH, mở rộng đối tượng có quyền mua CPH lần đầu, cho phép sử
dụng phương pháp khác nhau để xác định giá trị doanh nghiệp, xoá bỏ cách CPH “khép
kín” trong nội bộ doanh nghiệp, khuyến khích việc bán cổ phần ra bên ngoài nhằm thu
hút vốn từ bên ngoài xã hội, thu hút nhà đầu tư có tiềm lực, thực hiện việc bán cổ phần
ra bên ngoài bằng hình thức đấu giá, sửa đổi, bổ sung một số giải pháp khắc phục

vụ của Siêu thị Intimex. Ban đầu, để tạo ra sự thuận lợi cho việc phát triển lĩnh vực
kinh doanh mới, Công ty đã hình thành Trung tâm Thương mại, là đơn vị chuyên trách,
quản lý hệ thống siêu thị. Trung tâm thương mại có quyền độc lập xây dựng chiến lược
phát triển, tùy theo sự thay đổi của của các nhân tố môi trường, khách hàng…để đưa ra
các quyết định nhanh chóng, kịp thời.Trong thời gian hoạt động 8 năm từ 2001, mặc dù
đã có nhiều đóng góp cho việc kinh doanh siêu thị, song khi mà người tiêu dùng Việt
Nam đã quen với việc tiêu dùng sản phẩm trong hệ thống bán lẻ hiện đại, khi mà thị
trường bán lẻ Việt Nam mở cửa làm gia tăng đáng kể những đối thủ cạnh tranh nước
ngoài thì trung gian quản lý này lại chưa thể tạo ra được lợi thế cạnh tranh cho người
vốn dĩ đi tiên phong như Intimex. Và đến 2009 Công ty quyết định xóa bỏ Trung tâm
thương mại để tập trung nguồn lực cho việc phát triển, gia tăng kiểm soát tới hiệu quả
kinh doanh siêu thị.
b. Môi trường đặc thù
* Khách hàng: Công ty Intimex với nhiệm vụ khởi điểm là trao đổi hàng hóa với các
nước XHCN theo Nghị định thư của Chính phủ, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị
trường, Công ty buộc phải tự tìm kiếm cho mình những khách hàng, đối tác mới. Hiện
nay khách hàng của Intimex vô cùng đa dạng bởi các lĩnh vực kinh doanh của Công ty,
bao gồm cả khách hàng nội địa và nước ngoài, khách hàng cá nhân và tổ chức. Mỗi loại
khách hàng sẽ có nhu cầu khác nhau, đặt ra cho Công ty bài toán phải thỏa mãn tối đa
các yêu cầu khác nhau của khách hàng đó, hình thành nhiều đầu công việc mang tính
đặc thù. Kéo theo đó, cơ cấu tổ chức và phân quyền của công ty cũng phải được xây
dựng sao cho có thể hỗ trợ hiệu quả cho việc đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách
hàng.
Với lĩnh vực kinh doanh chủ lực là xuất nhập khẩu, để đáp ứng được tốt nhất yêu cầu
của các đối tác công ty đã hình thành nên nhiều phòng kinh doanh. Tính đến thời điểm
trước năm 2001 công ty có 9 phòng. Khi Công ty có thêm lĩnh vực kinh doanh mới là
kinh doanh siêu thị, phòng kinh doanh số 9 đã được chuyển sang Trung tâm thương mại
Intimex. Đến năm 2009, sau khi cổ phần hóa, Công ty lại tiếp tục có những thay đổi
lớn, thay vì có quá nhiều phòng kinh doanh tạo ra sự cồng kềnh cho bộ máy, có quá
nhiều trung gian trong quản lý, vừa không mang lại hiệu quả cao cho hoạt động kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status