Một số vấn đề về chủ nghĩa hiện thực trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du - Pdf 25

Đại học quốc gia Hà nội
Trường đại học khoa học xã hội & nhân văn
khoa văn học

Nguyễn Thị Hồng Thắng
Một số vấn đề về chủ nghĩa hiện thực
trong tác phẩm truyện kiều của nguyễn du Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
Chuyên ngành lý luận văn học
Mã số: 5 04 01

Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Phạm Quang Long

Hà Nội - 2005

Lời nói đầu
Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là một
vấn đề khó và phức tạp nhưng cũng hết sức hấp dẫn, lôi cuốn nhiều nhà
nghiên cứu bàn luận. Hầu hết các thế hệ, các học giả ở các cấp độ khác nhau
đã "vào cuộc" với mục đích giải mã cho được những vấn đề Nguyễn Du đặt ra
trong Truyện Kiều. Nhiều công trình nghiên cứu công phu, áp dụng hầu hết


Trang
Lời nói đầu

Mục lục

Mở đầu……………………………………………………………………
1
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài …………………………………………
1
2. Lịch sử vấn đề
…………………………………………………………
2
2.1. Giới thuyết về chủ nghĩa hiện thực …………………………….
2
2.1.1. Về thời điểm ra đời của chủ nghĩa hiện thực …………
2
2.1.2. Về nội hàm khái niệm chủ nghĩa hiện thực ……………
8
2.2. Vấn đề CNHT trong Truyện Kiều với các lớp người
qua các thời đại………………………………………………

21
3. Nhiệm vụ của luận văn ………………………………………………
48
4. Phương pháp nghiên cứu
………………………………………………
49
5. Cấu trúc luận văn ……………………………………………………
49

3.2.1.1. Môi trường xã hội …………………………….
104
3.2.1.2. Khung cảnh thiên nhiên ………………………
108
3.2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ………………………
111
3.2.2.1. Nhóm nhân vật phản diện …………………….
112
3.2.2.2. Nhóm nhân vật chính diện ……………………
118
3.3. Vấn đề ngôn ngữ Truyện Kiều …………………………….
131
3.3.1. Ngôn ngữ người kể chuyện …………………………
133
3.3.2. Ngôn ngữ nhân vật ……………………………………
138
Kết luận…………………………………………………………………
147
Danh mục tài liệu tham khảo…………………………………
149
1
Mở Đầu
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Xã hội phong kiến giai đoạn cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỉ XIX ở vào
tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Đây là giai đoạn quyền lợi cá nhân bị tƣớc
đoạt nhiều nhất. Nhƣng, dƣờng nhƣ đã trở thành quy luật, cứ khi nào quyền
lợi của dân tộc bị xâm phạm thì khi đó trong văn học nổi lên là tiếng nói yêu

nghĩa hiện thực trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du với mong
muốn góp tiếng nói của mình về vấn đề đã có không ít tranh cãi.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.Giới thuyết về Chủ nghĩa hiện thực (CNHT)
2.1.1 Về thời điểm ra đời của Chủ nghĩa hiện thực
Chủ nghĩa hiện thực có khi đƣợc dùng không phải với nghĩa một
phƣơng pháp sáng tác, nhiều khi nó dùng theo nghĩa rộng để xác định quan hệ
giữa tác phẩm văn học với hiện thực, bất kể tác phẩm đó của nhà văn thuộc
trƣờng phái và khuynh hƣớng văn nghệ nào. Với ý nghĩa này, khái niệm “chủ
nghĩa hiện thực” gần nhƣ đồng nghĩa với khái niệm “sự thật đời sống”.
Nhƣng vấn đề là ở chỗ, tác phẩm văn học nào cũng phản ánh hiện thực cuộc
sống bởi vì đặc tính cốt yếu của nghệ thuật nói chung, của văn học nói riêng
là tƣ duy hình tƣợng - một dạng hoạt động trí tuệ quan trọng bậc nhất của con
ngƣời - bao giờ cũng sử dụng trong sáng tạo nghệ thuật những biểu tƣợng do
thế giới bên ngoài làm sản sinh trong ý thức con ngƣời. Vì thế, “ngay khi
ngƣời nghệ sĩ bịa đặt và vẽ vời một điều gì đó mà anh ta cho là ở ngoài biên
giới của thực tại thì anh ta chẳng qua cũng chỉ tái tạo những bộ phận của cái
chỉnh thể đƣợc gọi là thực tế” [1, 13]. Rõ ràng tác phẩm văn học nói riêng,
nghệ thuật nói chung, dù thuộc bất kỳ trƣờng phái nào cũng có “giá trị hiện

3
thực”. Có lẽ đây là nguyên nhân để nhiều lúc ngƣời ta đánh đồng chủ nghĩa
hiện thực với “giá trị hiện thực” và tính hiện thực của tác phẩm văn học.
Ngày nay, ý nghĩa này của thuật ngữ “chủ nghĩa hiện thực” đã không
đƣợc dùng nữa vì nó không mang lại hiệu quả đáng kể cho công tác nghiên
cứu văn học. Thuật ngữ này đƣợc dùng phổ biến với nghĩa hẹp của nó - một
phƣơng pháp sáng tác.
Thật ra, khái niệm "Chủ nghĩa hiện thực" đƣợc dùng với ý nghĩa một
phƣơng pháp sáng tác cũng không phải đã có sự thống nhất hoàn toàn, kể cả
về thời điểm ra đời và cơ sở nảy sinh ra nó vốn là những phƣơng diện dễ đạt

chỉ ra bƣớc chuyển của CNHT từ thời đại Phục hƣng qua thời ánh sáng và
đỉnh cao là CNHT thế kỷ XIX mà M.Goorki gọi đó là chủ nghĩa hiện thực
phê phán.
Một số khác lại cho rằng CNHT hình thành từ thế kỷ XVIII khi tiểu
thuyết sinh hoạt gia đình và sinh hoạt xã hội ra đời.
Phần đông các nhà nghiên cứu đều cho CNHT nhƣ một phƣơng pháp,
một khuynh hƣớng nghệ thuật hình thành vào những năm 30 của thế kỷ XIX,
khi trong văn học châu Âu nguyên tắc mô tả chân thực cuộc sống đƣợc khẳng
định một cách đầy đủ nhất, trong những hình thức phân tích xã hội phát triển
nhất.
Dù các ý kiến về thời điểm ra đời của CNHT còn khác nhau ở nhiều
mặt, song vẫn thống nhất tại hai điểm :
Thứ nhất: Thừa nhận cơ sở hình thành của CNHT trƣớc hết là do yêu
cầu phản ánh hiện thực của văn học nói riêng, nghệ thuật nói chung, nhƣng

5
quan trọng nhất là do hoàn cảnh xã hội và sự phát triển của ý thức con ngƣời.
Xã hội phải có những đổi thay đến một mức nào đó đủ để con ngƣời có sự
chuyển biến trong nhận thức về thế giới, để họ không còn tin vào thế giới thần
linh tồn tại vô hình bên ngoài thực tại, họ đã có nhận thức khoa học về thế
giới với một vốn kinh nghiệm nhất định về xã hội, khi đó CNHT ra đời .
Thứ hai: Khẳng định CNHT có số phận lịch sử của nó, phát triển qua
các thời kỳ khác nhau. Mỗi thời kỳ, CNHT có những sắc thái riêng và dần
tiến tới sự hoàn thiện.
Theo chúng tôi, các ý kiến cho rằng CNHT ra đời từ thời Phục hƣng là
có cơ sở thuyết phục hơn cả. Bởi vì “chủ nghĩa hiện thực nhƣ một phạm trù
lịch sử, nó chỉ hình thành ở một giai đoạn lịch sử nào đó khi đã xuất hiện
những tiền đề lịch sử nhất định” [7, 13]. Khi mà “con ngƣời đã đạt đƣợc một
vốn kinh nghiệm tối thiểu, trình độ nhận thức trình độ khoa học tối thiểu” [7,
14], qua thực tiễn lao động và đấu tranh để nhận thức đƣợc về bản thân, và

Trung cổ xem thƣờng).
Bên cạnh đó, sự đổi mới về tƣ tƣởng cùng với sự phát triển của khoa
học tiên tiến mà ngƣời mở đầu là Bêcơn, cũng quyết định sự nảy sinh và sự
phát triển về sau của chủ nghĩa hiện thực. Các nhà triết học và nhà báo thời
Phục hƣng đến thay cho các “bậc cha đẻ của nhà thờ” đã cố tạo ra một bức
tranh duy lý về thế giới, đi sâu vào tính quy luật của sự sống và không thể
không gây ảnh hƣởng tốt lành lên nghệ thuật.
Thời đại này, vấn đề bản chất của con ngƣời, điều gì đã điều khiển cuộc
sống con ngƣời, cũng nhƣ vấn đề quan hệ giữa tƣ duy và tồn tại, vấn đề tinh
thần đối với thiên nhiên, "chỉ có thể đặt ra với toàn bộ sự gay gắt của nó, chỉ
có thể có đầy đủ ý nghĩa của nó, sau khi ngƣời châu Âu tỉnh dậy từ giấc ngủ
mùa đông dài dằng dặc của thời Trung cổ cơ đốc giáo” [2, 350]. Dƣới dạng

7
nghệ thuật, vấn đề này đƣợc đặt ra sâu sắc hơn cả trong sáng tác của Sêxpia -
ngƣời cùng thời và đồng hƣơng của Bêcơn. Pêtơrôp đã nhận xét rằng “Sêxpia,
ngƣời đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện thực trong văn học thế giới", bởi
đóng góp lớn nhất của Sêxpia khi miêu tả con ngƣời là "một thực thể không
phụ thuộc vào các lực lƣợng thần thánh trong hoạt động của mình"[6, 9]. Khi
đặt ra vấn đề cái gì quyết định một cách khách quan thế giới nội tâm, hành vi,
ý chí của con ngƣời? Những vở bi kịch của Sêcxpia đã nói lên rằng: Cá nhân
con ngƣời không tự do, và vấn đề tính cách trở nên phức tạp với vấn đề “hoàn
cảnh sống thực". Những hoàn cảnh này đôi khi hạn chế một cách khốc liệt ý
chí và khả năng tự do quyết định của con ngƣời, ngay cả khi đó là một cá
nhân phi thƣờng. Nhƣ vậy, Sêcxpia lần đầu tiên đặt ra vấn đề tác động của
hoàn cảnh đối với tính cách con ngƣời - vấn đề đƣợc văn học hiện thực sau
này tiếp nhận. “Hoàn cảnh” mà Sêcxpia đặt nhân vật của mình trong đó đã
mang cái nghĩa mà Ănghen hiểu khi dùng thuật ngữ “hoàn cảnh điển hình” vì
nó mang tính chất “toàn nhân loại”. Chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX đã tiếp
thu phƣơng pháp tái hiện hoàn cảnh điển hình của Sêcxpia.

của chủ nghĩa hiện thực ở phƣơng Tây. Đây cũng là giai đoạn mà lý luận về
chủ nghĩa hiện thực cũng dần đạt tới sự hoàn thiện. Khái niệm “chủ nghĩa
hiện thực” đƣợc đề cập nhiều nhất và nội hàm của nó đã đƣợc nêu lên rõ ràng.
2.1.2 Về nội hàm khái niệm chủ nghĩa hiện thực
Nhƣ trên đã nói, có lúc khái niệm chủ nghĩa hiện thực đƣợc dùng với
tính chất nhƣ là sự phản ánh hiện thực đời sống. Khi đó, khái niệm này trùng
với khái niệm “sự thật đời sống” hoặc “giá trị hiện thực”, “tính hiện thực” của
tác phẩm văn học. Đồng thời với sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực trong
văn học châu Âu, lý luận về chủ nghĩa hiện thực cũng hình thành và ngày
càng hoàn thiện:

9
Đƣợc xem nhƣ sự khởi đầu trong lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực là
những lời khuyên của Hămlét đối với các diễn viên khi nói rằng: “Cần tái
hiện chân lý cuộc sống bằng nghệ thuật nhƣ thế nào?” [6, 24].
Đến thế kỷ XVIII lý luận về chủ nghĩa hiện thực đƣợc hình thành trong
mỹ học của Điđrô và Letxing. Quan điểm và lời khuyên của họ tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của thứ nghệ thuật gắn liền với thực tại.
Điđrô cho rằng, “mỗi một tác phẩm điêu khắc hay hội hoạ phải thể
hiện một quy tắc vĩ đại nào đó của cuộc sống, phải có ý nghĩa giáo huấn, nếu
không thì nó sẽ câm lặng” [6, 25]. Theo ông, “trong việc miêu tả đối tƣợng
chủ yếu của cuộc sống là con ngƣời, cần đạt đƣợc tính khách quan bằng cách
điển hình hoá tính cách trong mối quan hệ phụ thuộc với môi trƣờng, xã hội
và vị trí của nhân vật đó” [6, 25]. Nhƣ vậy, trong quan điểm của Điđrô thì
mục đích của tác phẩm nghệ thuật là phản ánh hiện thực và chân lý cuộc sống.
Nhân vật trung tâm của tác phẩm là con ngƣời chịu sự chi phối của môi
trƣờng và xã hội. Đây là quan điểm khoa học mà chủ nghĩa hiện thực thế kỷ
XIX sẽ tiếp tục kế thừa.
Letxing là một trong những nhà khai sáng ở Đức thế kỷ XVIII đã đấu
tranh kiên quyết cho chủ nghĩa hiện thực. Ông cho rằng, nghệ thuật có chức

Tuốcnhêniép, Lép Tônxtôi là các nhà văn của chủ nghĩa tự nhiên. Trong văn
học phƣơng Đông đặc biệt ở Trung Quốc và Việt Nam, ngƣời ta gọi chủ nghĩa
hiện thực là chủ nghĩa tả chân.
Các ý kiến giai đoạn này tập trung vào vấn đề văn học lấy cuộc sống
thực nhƣ những gì đang diễn ra làm đối tƣợng phản ánh. Nhƣ vậy, ít nhiều nội
hàm của khái niệm chủ nghĩa hiện thực đã đƣợc định hình. Nhƣng cũng nhƣ
thời Phục hƣng, thời ánh sáng, lý luận về chủ nghĩa hiện thực ở thời kỳ này
vẫn chƣa trở thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh.

11
Các nhà lý luận của chủ nghĩa Mác vốn đƣợc trích dẫn nhiều nhất cũng
không trình bày một cách hệ thống về khái niệm chủ nghĩa hiện thực. Tuy
nhiên, qua các chuyên luận, các bài báo, các bức thƣ của F. Ănghen, C.Mác
và V.I.Lênin, chúng ta có thể hiểu đƣợc tinh thần chung của các nhà kinh điển
khi bàn về chủ nghĩa hiện thực.
Tháng 4-1888, trong Thư gửi cho M. Hacơnet, Ănghen đã viết
“Banzắc- ngƣời mà tôi cho là một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực lớn hơn
tất cả mọi Dôla quá khứ, hiện tại và tƣơng lai - trong Tấn trò đời đã cấp cho ta
cái lịch sử tuyệt diệu nhất của xã hội Pháp”. Ănghen đánh giá cao việc tái
hiện “lịch sử hiện tại” của xã hội vào tác phẩm văn học và cho đó là tiêu chí
quan trọng nhất của chủ nghĩa hiện thực. Cũng từ quá trình tìm hiểu, bàn định
về chủ nghĩa hiện thực, Ănghen đã kết luận: “Theo tôi, ngoài chi tiết chân
thực, chủ nghĩa hiện thực còn đòi hỏi một sự tái hiện chân thực những tính
cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình” [2, 374].
Nhƣ vậy, quan điểm của Ănghen là: Chủ nghĩa hiện thực yêu cầu phải
tái hiện chân thực đời sống xã hội, nhƣng không phải là tái hiện theo kiểu bê
nguyên xi thực tại vào tác phẩm nhƣ chủ nghĩa tự nhiên. Chủ nghĩa hiện thực
chân chính phải miêu tả đƣợc hoàn cảnh điển hình với hạt nhân cơ bản là cơ
sở vật chất, các mối quan hệ xã hội trong sự vận động biến đổi. Trong hoàn
cảnh điển hình ấy, nhà văn phải xây dựng đƣợc những tính cách điển hình. Và

của chủ nghĩa hiện thực phải là thực tại đời sống chứ không phải là “cái
bóng” nhƣ chủ nghĩa cổ điển hay “tái tạo” thực tại nhƣ chủ nghĩa lãng mạn.
Chủ nghĩa hiện thực nhận thức một cách chân thực, tái hiện đúng đắn, trung
thành quan hệ giai cấp, tình hình, vị trí giai cấp của thời đại, phản ánh đúng
chiều hƣớng vận động của lịch sử. Yêu cầu này đƣợc đề cập nổi bật trong Thư
của C.Mác và F.Anghen gửi cho Latxan (1859), khi Latxan cho xuất bản ở

13
Đức tác phẩm bi kịch lịch sử Franx Von Xickinggen. Tác phẩm ấy lấy đề tài
từ cuộc khởi nghĩa của tầng lớp hiệp sĩ chống lại vua chúa, quý tộc 1552.
Ngƣời cầm đầu là Franx Von Xickinggen bị tử thƣơng và Hutten phải trốn ra
nƣớc ngoài. Vấn đề đặt ra là tại sao phong trào này lại bị thất bại? Latxan cho
rằng, khởi nghĩa thất bại vì những ngƣời cầm đầu thiếu nhiệt tình và mƣu trí.
Mác và Ănghen chỉ ra cuộc khởi nghĩa thất bại vì lãnh tụ của phong trào này
là những ngƣời đại diện cho giai cấp đã suy tàn. Thất bại của họ là thất bại tất
yếu vì họ là một lực lƣợng xã hội thuộc về quá khứ. Do đó, không nên giải
thích sự thất bại của phong trào xã hội bằng lý do cá nhân mà phải giải thích
bằng lý do lịch sử. Phong trào khởi nghĩa của Franx Von Xickinggen không
liên minh với nông dân và thành thị tức là những giai cấp mà sự phát triển của
chúng có nghĩa là phủ định tầng lớp hiệp sĩ. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của
Xickinggen chỉ là cuộc đấu tranh duy trì đặc quyền đặc lợi. Cho nên, dẫu có
muốn thì họ cũng không thể nào liên minh đƣợc với nhân dân và thành thị.
Mác và Ănghen chỉ ra: Muốn phản ánh trung thực lịch sử, phải phản ánh
phong trào nhân dân đang lên lúc này.
Nhƣ vậy, chủ nghĩa hiện thực không cho phép nhà văn nhận thức đời
sống, lý giải lịch sử theo lôgic chủ quan mà phải lý giải theo lôgic của hiện
thực khách quan.
Hiện thực cuộc sống đƣợc nhà văn thể hiện qua tính cách, hình tƣợng
con ngƣời. Con ngƣời đƣợc tái hiện trong mối quan hệ với hoàn cảnh xã hội,
bản chất giai cấp, bản chất thời đại… và chủ nghĩa hiện thực yêu cầu nhà văn

381]. Nhƣng vấn đề là khuynh hƣớng phải thể hiện ra nhƣ thế nào? Ănghen
viết tiếp: “Tôi cho rằng bản thân khuynh hƣớng phải toát ra từ tình thế và
hành động, chứ không nên nhấn mạnh nó một cách đặc biệt, và nhà văn
không bắt buộc phải đƣa ra trƣớc ngƣời đọc sẵn sàng đâu đấy giải pháp lịch

15
sử, tƣơng lai về các xung đột xã hội mà nhà văn miêu tả” [2, 381]. Ba năm
sau - 1888, trong Thư gửi Haccơnetxơ một lần nữa Ănghen lại nhấn mạnh yêu
cầu này: “Các quan điểm của tác giả càng kín đáo bao nhiêu thì lại càng tốt
cho tác phẩm nghệ thuật bấy nhiêu” [2, 385].
Nhƣng làm thế nào để khuynh hƣớng tƣ tƣởng toát lên từ tình thế và
hành động nhân vật? Làm thế nào để miêu tả đƣợc lôgic phát triển khách quan
của tính cách? Nghĩa là làm thế nào để nhận thức thể hiện đời sống một cách
chính xác, khách quan? Để làm đƣợc nhƣ thế, chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi
phải xây dựng đƣợc tính cách điển hình phù hợp với hoàn cảnh điển hình.
Đây là vấn đề đƣợc nhắc nhiều trong các lá thƣ của Mác và Ănghen khi các vị
bàn đến chủ nghĩa hiện thực, yêu cầu này đƣợc thể hiện tập trung nhất trong
thƣ Ănghen gửi cho Haccơnetxơ vào đầu tháng 4-1888. Ănghen viết: “Theo
tôi ngoài chi tiết chân thực chủ nghĩa hiện thực còn đòi hỏi một sự tái hiện
chân thực những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình” [2, 374].
Chúng tôi thấy có mấy điểm cần lƣu ý trong ý kiến của Ănghen nhƣ sau:
Thứ nhất: Ănghen không coi việc tái hiện chính xác các chi tiết là quan
trọng nhất, càng không phải là duy nhất, vì ông không tán thành quan điểm
của chủ nghĩa tự nhiên - một khuynh hƣớng nghệ thuật ở những năm cuối thế
kỷ XIX - ngƣời đứng đầu là Dôla đã chủ trƣơng tái hiện chính xác tất cả các
chi tiết nghệ thuật.
Thứ hai: Trong quan điểm của Ănghen, một hoàn cảnh đƣợc gọi là hoàn
cảnh điển hình khi nhà văn tái hiện đƣợc bản chất của hoàn cảnh. Hạt nhân quy
định bản chất của hoàn cảnh là cơ sở vật chất và tƣơng quan giai cấp. Nhà văn
miêu tả đƣợc hoàn cảnh điển hình khi anh ta tái hiện đƣợc đúng điều kiện sinh

điểm của Lênin về chủ nghĩa hiện thực đƣợc cơ bản hoàn thiện vào những
năm 90 của thế kỷ XIX. Theo Lênin, về phƣơng pháp luận chỉ có thể giải

17
quyết vấn đề chủ nghĩa hiện thực trên nền tảng vấn đề quyết định luận. Bởi vì,
vấn đề quyết định luận có thể có những bình diện rất khác nhau nhƣ nhận
thức luận, xã hội học, tâm lý học. Giải quyết vấn đề quyết định luận cũng là
giải quyết các vấn đề về mối quan hệ phụ thuộc, chế định lẫn nhau giữa các
hiện tƣợng rất khác nhau nhƣ tồn tại và ý thức, thƣợng tầng kiến trúc và hạ
tầng cơ sở, nghệ thuật và xã hội, chủ thể và khách thể. Dạng quan trọng nhất
của quyết định luận là vai trò quyết định của hoàn cảnh đối với tính cách, môi
trƣờng đối với con ngƣời. Đây là phƣơng diện có quan hệ trực tiếp với hệ
thống quan niệm của các vị kinh điển chủ nghĩa Mác về vấn đề chủ nghĩa hiện
thực trong văn học nghệ thuật. Lí giải tại sao các vị kinh điển của chủ nghĩa
Mác đã sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực trong những trƣờng hợp khác
nhau với những sắc thái ý nghĩa khác nhau nhƣng ta vẫn nhận thấy có cái gì
đó rất chung, hết sức cơ bản, tạo nên hạt nhân của khái niệm chủ nghĩa hiện
thực trong các cách sử dụng của họ. Hạt nhân ấy chính là vấn đề quyết định
luận. Trong lĩnh vực nhận thức luận, chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi phải thừa
nhận thế giới hiện thực tồn tại một cách khách quan bên ngoài và không phụ
thuộc vào ý thức con ngƣời. Trên bình diện xã hội học, chủ nghĩa hiện thực
đòi hỏi phải thừa nhận sự lệ thuộc của ý thức và phẩm hạnh con ngƣời vào
hoàn cảnh xã hội mà nó sinh sống. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã
xuất phát từ những yêu cầu rộng lớn nhƣ thế để phân tích, đánh giá, bình luận
về chủ nghĩa hiện thực trong sáng tạo nghệ thuật.
Các vị kinh điển của chủ nghĩa Mác đã rất nhấn mạnh yêu cầu chính
xác, khách quan trong việc nhận thức, thể hiện đời sống. Tuy nhiên, họ không
hề xem nhẹ vai trò của thế giới quan, lập trƣờng tƣ tƣởng của nhà văn với tƣ
cách là chủ thể sáng tạo. Họ thƣờng chỉ ra: Chính thế giới quan và lập trƣờng
tƣ tƣởng có vai trò quyết định đối với việc hình thành chủ nghĩa hiện thực và


19
giả nhân giả nghĩa - những cái đã thấm vào toàn bộ cuộc sống đƣơng
thời từ trên xuống dƣới [2, 214]
Không thể đồng nhất CNHT với thế giới quan còn bởi vì CNHT luôn
gắn liền với sự trong sáng đạo đức, với lƣơng tri của ngƣời cầm bút. Nhà văn
L.Tônxtôi của Nga và nhà văn Nam Cao của nƣớc ta là những trƣờng hợp nhƣ
thế.
Tônxtôi vốn là ngƣời ảnh hƣởng sâu sắc của quan điểm “nghệ thuật vị
nghệ thuật”, nhƣng với sự “chân thành”, “thành thực” và “tình cảm mạnh mẽ”
dành cho những ngƣời dân đang rên xiết dƣới ách thống trị của chế độ chuyên
chế, Tônxtôi đã đến với CNHT. Nhà văn này đã đến với CNHT không chỉ
bằng tài năng mà bằng “tình cảm của cả một bể nhân dân đang rung lên, bằng
cái nguyện vọng muốn “đi đến tận gốc, muốn tìm cho ra nguyên nhân thực sự
những tai họa của quần chúng” [2, 225].
Nam Cao là một nhà văn hiện thực phê phán lớp sau của Việt Nam. Khi
mới cầm bút sáng tác, ông đã thử sức ngòi bút của mình theo xu hƣớng văn
học thịnh hành. Nam Cao đã viết những tác phẩm văn học lãng mạn, những
truyện tình lâm li theo khuynh hƣớng “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Nhƣng bằng
sự trải nghiệm của bản thân, bằng sự quan sát hiện thực xã hội Việt Nam 30-
45, Nam Cao hiểu rằng, đó không phải là thứ văn chƣơng phản ánh đƣợc bản
chất của cuộc sống, ông đã đoạn tuyệt với nó để đến với CNHT theo quan
điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”. Tuyên ngôn sáng tác của ông đƣợc thể hiện
qua truyện ngắn “Giăng sáng”. Trong tác phẩm này, nhân vật chính là nhà
văn Điền đƣợc xem là sự hóa thân của chính Nam Cao. Điền đã có những
giấc mộng văn chƣơng đầy lãng mạn. Điền muốn rũ bỏ vợ con, muốn đi thật
xa để “giữ lòng mình tƣơi lâu”, để bình tĩnh “viết cho ra hồn”. Anh ta cũng
mơ màng nghĩ tới những ngƣời đàn bà nhàn hạ vừa tắm bằng một thứ nƣớc
thơm tho, mặc áo lụa xanh sẽ đọc tác phẩm của Điền, yêu Điền và gửi cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status