ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ THU HÀ NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TÔ HOÀI
LUẬN VĂN LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Hà Nội-2013
LUẬN VĂN LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Hà Nội-2013
3
MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU …………………………………………………………………
2
1. Lý do chọn đề tài ………………………………………….……………
2
2. Lịch sử vấn đề ………………………………………… ………………
3
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu ………….…………… ….
6
4. Phương pháp nghiên cứu …………………….…… ………………….
6
5. Cấu trúc luận văn………….……………….……….………… … ….
7
CHƯƠNG 1. TIỂU THUYẾT TÔ HOÀI TRONG DÒNG TIỂU
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ sau chiến thắng 1975, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI,
nền văn học Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới ngày càng sâu sắc, toàn diện.
Sự đổi mới văn học diễn ra trên nhiều phương diện và thể loại, trong đó phải
kể đến những thay đổi lớn lao của thể tài tiểu thuyết.
Nằm trong cuộc vận động đổi mới của văn học, nhà văn Tô Hoài cũng
đã có những cách tân, đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật để thích ứng trước
những biến động của thời đại. Thông qua các sáng tác của mình, nhà văn đã
góp phần tạo nên sự thay đổi diện mạo mới cho văn học.
Sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài với những tác phẩm được nhắc đến
nhiều nhất và làm nên tên tuổi của ông là những tập Hồi ký; Tự truyện;
truyện ngắn Truyện Tây Bắc; truyện dài Dế Mèn phiêu lưu ký, Quê người,
Quê nhà, Đêm mưa, Xóm Giếng; tiểu thuyết Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn
Thụ, Nhớ Mai Châu, Kẻ cướp bến Bỏi, Đảo hoang, Ba người khác…
Không chỉ thành công ở thể loại truyện dài, truyện ngắn, hồi ký, mà ở
thể loại tiểu thuyết, ngay từ ngày đầu cầm bút, Tô Hoài đã tạo được cho mình
một phong cách riêng. Tiểu thuyết của ông hấp dẫn người đọc với lời kể
chuyện hóm hỉnh, tài quan sát và miêu tả, cách thể hiện nhân vật sinh động,
nhân vật người kể chuyện giữ vị trí quan trọng, là nhân vật trung tâm của tác
phẩm, đồng thời là nhân vật mang hình bóng của tác giả với những chi tiết có
thật về cuộc đời, số phận và tính cách. Các tác phẩm viết về đề tài miền núi,
đề tài Hà Nội ở mỗi chặng đường lại có những phản ánh từ các góc độ khác
nhau, theo những cảm hứng khác nhau tiếp nối truyền thống văn học hiện đại
phản ánh hiện thực cuộc sống. Khảo sát tiểu thuyết Tô Hoài thời kỳ đổi mới,
chúng tôi nhận thấy bút pháp mang đậm phong cách nghệ thuật, quan niệm
nghệ thuật về con người, quan niệm về hiện thực, sự đổi mới về thi pháp thể
,
” [20 ; 110].
Qủa thật, Tô Hoài đã miệt mài sáng tác 70 năm nay và đã cho ra đời 160 đầu
sách. Ông thành công ở nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện dài, truyện
ngắn, truyện đồng thoại, kịch, hồi ký, chân dung văn học. Nghiên cứu nghệ
thuật văn chương Tô Hoài sẽ giúp chúng ta đánh giá được đầy đủ hơn những
đóng góp của ông với nền văn học nước nhà.
Tô Hoài bước vào con đường văn học khá sớm. Ông cầm bút và nổi
danh từ trước năm 1945. Đến nay, Tô Hoài vẫn là nhà văn viết nhiều, dẻo dai,
sung sức ở các thể loại. Tô Hoài đến với tiểu thuyết khá sớm, ngay từ chặng
đầu sáng tác, tiểu thuyết Tô Hoài đã được giới phê bình văn học chú ý như
tiểu thuyết Quê người, in năm 1942, cùng lúc với các tập truyện ngắn O
chuột, Nhà nghèo, Giăng thề, … tất cả khai thác đề tài về cuộc sống và con
người ở vùng quê ven thành của tác giả. Có thể nhận ra một đặc điểm này
trong hành trình viết tiểu thuyết của Tô Hoài, với cùng một đề tài, ông thường
bắt đầu bằng truyện ngắn, ký rồi mới tích tụ trong các tiểu thuyết. Nếu các
truyện ngắn là những mảnh nhỏ của cảnh đời, những ký họa chân dung con
người thì truyện dài và tiểu thuyết là cả một dòng sông cuộc đời trôi chảy của
bao nhiêu sự việc, câu chuyện, đời người. Nhìn đề tài, tiểu thuyết Tô Hoài có
chính là “” .Nguyễn Văn Long
nhấn mạnh: “
p”. Vương Trí Nhàn quả quyết: “
7
” [20 ; 205]. Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết
, khẳng định: “
”. [30 ; 5]. Về ngôn
ngữ giọng điệu, Vân Thanh nhận định: “Ng
, g
” [20 ; 452]. Phan Cự Đệ cũng có cùng quan điểm như vậy:
“
[20 ; 94]. Tô Hoài đã chú ý học tập ngôn ngữ nghề
nghiệp và ngôn ngữ địa phương. “
” [20 ; 99]. “
” ( ).
Bùi Hiển thấy rằng: “V
.” [20 ; 102].
“
.” [20 ; 104]. Tô Hoài đưa hai ý niệm thời gian và không
gian vào tác phẩm của mình một cách vừa cụ thể vừa khái quát, tạo thêm
khám phá giá trị nghệ thuật độc đáo trong tiểu thuyết của Tô Hoài ở hai mặt
nhân vật và cốt truyện.
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm nhân vật và cốt truyện trong tiểu thuyết Tô
Hoài.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung đi sâu vào bốn cuốn tiểu thuyết: Đảo
hoang, Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Ba người khác.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp loại hình.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành.
9
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1. Tiểu thuyết Tô Hoài trong dòng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Chương 2. Nhân vật trong tiểu thuyết của Tô Hoài.
Chương 3. Cốt truyện trong tiểu thuyết của Tô Hoài.
10
Chương 1
TIỂU THUYẾT TÔ HOÀI TRONG DÒNG
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Tiểu thuyết Việt Nam từ 1945 – 1975 đã đạt được những thành tựu
xuất sắc về giá trị nội dung tư tưởng, đã có đóng góp lớn lao cho công cuộc
kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Mười năm cuối cùng của giai đoạn 1965-1975 có ý nghĩa vô cùng quan
trọng vì trong mười năm ấy đã xuất hiện hàng loạt tiểu thuyết thuộc loại tầm
cỡ nhất của cả giai đoạn văn học – những tác phẩm vừa có cấu trúc thể loại
hoàn kết nhất của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, vừa là đỉnh cao của lịch sử
phát triển tiểu thuyết Việt Nam đến thời điểm này. Các tác giả tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại trải qua một hành trình sáng tạo bền bỉ đã đạt tới độ chín trong
nghệ thuật tiểu thuyết: mười năm cuối cùng (1965 - 1975) còn có tính bản lề
khép lại một giai đoạn văn học mang những đặc trưng riêng của thời đại chiến
tranh cách mạng với mô hình sử thi hóa, chuẩn bị tiền đề cho bước chuyển
giao để đi tới một thời đại văn học mới.
Nếu so sánh với tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, thì tiểu
thuyết 1945 – 1975 đã có sự đổi mới sâu sắc về nội dung thể tài và các
nguyên tắc xây dựng hình thức thể loại. Một cấu trúc thể loại mới mẻ chưa
từng có trong lịch sử phát triển tiểu thuyết Việt Nam đã ra đời với đặc trưng
của loại hình tiểu thuyết sử thi.
Một loại hình cấu trúc thể loại được hình thành từ yêu cầu thời đại để
đáp ứng những nhiệm vụ nặng nề mà vinh quang do yêu cầu chính trị, yêu
cầu lịch sử giao phó. Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này đã hoàn thành sứ
mạng lịch sử của nó. Nhưng do sự chi phối tuyệt đối của nhiệm vụ chính trị
do yêu cầu cổ vũ động viên kịp thời công cuộc kháng chiến kiến quốc, nhà
văn, bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình văn học đều đặt tiểu thuyết trước
một hệ quy chiếu đậm tính chất xã hội học. Các bài phê bình văn học, các
công trình nghiên cứu văn học thời kỳ này chủ yếu khai thác giá trị nội dung
tư tưởng của tác phẩm với ba yêu cầu nặng về chính trị: Có phản ánh chân
thực và kịp thời cái hiện thực vĩ đại đã có sẵn không? Có thực hiện tốt chức
năng giáo dục đối với quần chúng nhân dân? Có nêu cao yêu cầu tính Đảng
khi tái hiện bức tranh lịch sử xã hội không? Có thể nói trong quá trình vận
Tiểu thuyết từ sau 1975 đến nay không cắt lìa truyền thống nhưng đã có
ý thức truyền thống đã và đang trở thành khát
vọng, nhu cầu mạnh mẽ của hầu hết người viết. Tuy vẫn có nhiều lời phàn
nàn, nhiều cái nhìn hoài nghi nhưng không thể phủ nhận được rằng những nỗ
lực đổi mới tiểu thuyết hơn ba thập kỷ qua đã tạo ra không ít tác phẩm có giá
trị, bên cạnh sự đông đúc của đội ngũ tác giả, sự dồi dào về số lượng tác phẩm
13
là sự đa dạng về bút pháp, sự phong phú về đề tài, chủ đề. Áp lực cạnh tranh
từ các phương tiện giải trí – truyền thông, lối sống và nhịp độ sống của thời
đại kỹ trị, vừa là yếu tố kích thích vừa là một nguy cơ làm hao mòn tình yêu
văn chương. Người viết bây giờ buộc phải đối diện với đòi hỏi nghiệt ngã:
“
” (Dẫn theo Lê Phương Tuyết
Tạp chí Văn học số 3 – 1999).
Trong sự vận hành chung của thể loại, nhìn lại những năm tiền đổi mới
tiểu thuyết của Việt Nam sau 1975 bắt đầu khá sớm nhưng thầm lặng với
những tín hiệu có tính dự báo trong Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi
nhà (1977) của Nguyễn Minh Châu, Cha và Con và … (1979) của Nguyễn
Khải, Đất trắng (Tập I - 1979) của Nguyễn Trọng Oánh, Năm 1975 họ đã
sống như thế (1979) của Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc (1980) của
Khuất Quang Thụy… Những tác phẩm này cho thấy ý thức khắc phục cái
nhìn lý tưởng hóa một chiều về hiện thực, những khởi động ngõ hầu đưa tới
sự đổi mới triệt để và quyết liệt hơn trong cách nhìn hiện thực và thi pháp thể
loại. Nếu nói theo Nguyễn Minh Châu thì cái “ ” mà
các nhà văn thường “tráng lên” hiện thực đang được cố gắng gột tẩy. Thực
ngày, cái đời thường của đời sống cá nhân. Các nhà tiểu thuyết đã nhìn thẳng
vào những “mảnh vỡ”, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày nó bằng cái
nhìn trung thực, táo bạo. Các đề tài truyền thống hay hiện đại đều được đưa
vào trường nhìn mới, hướng tới những gấp khúc trong đường đời và thân
phận con người, thấm đẫm cảm hứng nhân văn. Nhìn từ góc độ thể loại, trong
những năm đổi mới, tiểu thuyết đã có những tìm tòi, cách tân thể hiện ở một
số phương diện: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ.
Trong cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm cũng như những yếu tố khác,
cốt truyện đã trải qua những chặng đường khác nhau trong tiến trình văn học.
Nghiên cứu sự vận động của cốt truyện sẽ góp phần lý giải sự chuyển đổi của
tiểu thuyết thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn lịch sử, trong mỗi
trào lưu, khuynh hướng, hoặc trong thi pháp sáng tạo của nhà văn, vai trò của
cốt truyện trong tiểu thuyết nói riêng và thể tự sự nói chung có những cách
thể hiện khác nhau. Trong một số tiểu thuyết trước đây, người ta có thể kể lại
cốt truyện, chỉ chú ý đến cốt truyện mà ít để ý đến cách viết của nhà văn.
15
Theo các tiểu thuyết gia của trào lưu tiểu thuyết mới (Pháp) thì càng ngày vai
trò của cốt truyện càng giảm: “
” [18 ; 41].
Thực chất trong tác phẩm tự sự, cốt truyện là sợi dây liên kết các mối
quan hệ của nhân vật, tổ chức, sắp xếp các sự việc diễn ra trong đó, bộc lộ
chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
Ở giai đoạn văn học 1930-1945, cốt truyện đóng vai trò đáng kể trong
tiểu thuyết. Các tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng,
Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan tiêu biểu cho loại tiểu thuyết có
cốt truyện rõ ràng, với những xung đột căng thẳng, diễn biến hành động tuần
những đặc trưng của cốt truyện truyền thống, một mặt khác đã tiếp cận với
tiểu thuyết hiện đại thế giới. Nghệ thuật đồng hiện, kỹ thuật độc thoại nội tâm,
dòng ý thức, lắp ghép, sử dụng huyền thoại, nghệ thuật gián cách, đa giọng
điệu là những vấn đề còn mới mẻ trong văn xuôi Việt Nam đã được tiểu
thuyết vận dụng, biến hóa một cách linh hoạt và uyển chuyển trên tinh thần
dân tộc hiện đại. Trong đội ngũ những người viết tiểu thuyết có không ít tác
giả đã cố gắng đổi mới tư duy tiểu thuyết, tìm một hướng đi mới trong sáng
tạo thể loại: Ma Văn Kháng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Trí Huân, Tô Hoài,
Nguyễn Xuân Khánh, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ
Anh Thái, … Những cây bút kể trên đã cố gắng cách tân trong sáng tạo với
những tiểu thuyết có cốt truyện lỏng lẻo, mơ hồ, co giãn, khó tóm tắt, khó kể
lại. Có thể nói đến sự tan rã của cốt truyện trong tác phẩm tự sự. Cấu trúc tác
phẩm được lắp ghép, chắp nối từ những mảnh vụn của hiện thực.
Tiểu thuyết không tạo ra những tình huống kịch hoặc lối kể chuyện có
trước, có sau. Các yếu tố sự kiện, tình tiết, nhân vật được triển khai theo mạch
vận động của cảm xúc, suy nghĩ. Tiểu thuyết vừa là tiếng nói của ý thức, vừa
là tiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ, thể hiện cái hiện tại đang vận động,
biến chuyển, không khép kín. Ý thức cách tân nghệ thuật, đổi mới tư duy tiểu
thuyết là nỗ lực sáng tạo đáng kể của các cây bút văn xuôi nhằm biểu đạt tâm
hồn con người thời đại.
Trong các tiểu thuyết Chim én bay, Ăn mày dĩ vãng, Cuộc đời dài lắm,
Một ngày và một đời, Ngày hoàng đạo, các cây bút đã sử dụng thủ pháp đồng
hiện trong cấu trúc tác phẩm. Ở đó, quá khứ và hiện tại là cốt truyện của tiểu
thuyết. Với Một ngày và một đời, Lê Văn Thảo đã tái tạo ký ức, làm sống dậy
cuộc đời một nữ chiến sĩ biệt động vô danh bằng cách lắp ghép những mảnh
17
vụn của quá khứ qua lời kể, trí nhớ của các nhân vật, với sự di chuyển các
18
duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng
thế sự đời tư. Tiểu thuyết đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh
hiện thực, con người trong giai đoạn mới một cách nhanh nhạy và sắc bén.
Trong giai đoạn đổi mới, vấn đề con người cá thể được đặt ra một cách
bức xúc, mạnh mẽ trong cảm hứng sáng tạo của các nhà văn. Song con người
cá thể trong văn học hiện nay không phải là con người của chủ nghĩa cá nhân,
của cái tôi cực đoan, phủ nhận mọi nền tảng đạo đức đã được thiết lập, không
chịu sự tác động của xã hội. Mà ở đây số phận cá nhân được giải quyết thỏa
đáng trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng, xã hội. Đằng sau mỗi cá thể
là những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh của thời đại, có sự giao nhịp phức
điệu giữa con người cá thể và nhân loại: Cõi người rung chuông tận thế,
Trong sương hồng hiện ra của Hồ Anh Thái, Chinatown, Pari 11 tháng 8
của Thuận, Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương, Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh. Các tác giả tiểu thuyết đã nhìn nhận con người như một cá thể
bình thường trong môi trường đời sống bình thường. Nhân vật trong tiểu
thuyết là những con người với trăm ngàn mảnh đời khác nhau “
”: Cơn giông của Lê Văn Thảo, Cánh
đồng lưu lạc của Hoàng Đình Quang, Tấm ván phóng dao của Mạc Can,
Dòng sông Mía của Đào Thắng.
Có thể nói, tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay đã dần dần
khẳng định được vị trí riêng của mình trên con đường hiện đại hóa văn học
nước nhà. Nhiều cây bút, nhiều phong cách mới lạ. Những tác phẩm văn
chương không dừng ở nói chuyện đạo lý, lịch sử mang trong mình hơi thở của
cuộc sống. Những câu văn hết sức linh hoạt, giống như lời ăn tiếng nói của
nhân dân không bị gò bó như những câu văn biền ngẫu trong thời trung đại.
Nhân vật và chi tiết trong tác phẩm cũng đời thường không khuôn sáo, ước lệ
c con vâ
̣
t : dế, chuô
̣
t, chim, mo, cá, gấu, …đươ
̣
c go
̣
i la
̀
truyê
̣
n loa
̀
i
vâ
̣
t. Truyê
̣
n loa
̀
i vâ
̣
t cu
̉
a Tô Hoa
̀
i la
̀
mô
ng sa
́
ch
viết về vu
̀
ng Tây Bắc . Mảng sách này của ông làm thay đổi diện mạo của đề
tài về miền núi trong văn học hiện đại . Truyê
̣
n Tây Bă
́
c nằm trong số như
̃
ng
cuốn sách hay về vùng Tây Bắc.
Truyện Tây Bắc đã kế thừa được những truyền thống tốt đẹp của văn
học các dân tộc. Tô Hoài đã nghiên cứu lịch sử, phong tục tập quán các dân
tộc miền núi, những dân ca trữ tình của người H’mông, người Mường, những
truyện cổ tích Cô tóc thơm, Giời thấp giời cao, những truyền thuyết về con
rúi, con chim kỳ, những tục lệ “cướp vợ” múa xòe ngày tết … những mô típ
trong các truyện cổ dân gian đã được sử dụng, cải biên, mang nội dung hiện
thực mới. Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, Đôi mắt của Nam Cao cũng chứng
minh nền văn xuôi hiện thực xã hội chủ nghĩa của chúng ta trong bước đầu
hình thành, đã tiếp thu được những thành tựu tiến bộ của nền văn học hiện
thực phê phán. Từ sau Truyện Tây Bắc, Tô Hoài tiếp tục đi sâu hơn vào đề tài
miền núi và ghi được những thành tựu mới trong quá trình chiếm lĩnh phương
pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tiểu thuyết Miền Tây, Trở lại cao
nguyên Đồng Văn, Nhật ký vùng cao, Những làng Dao trên Viễn Sơn (ký
sự) là những tác phẩm viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở vùng
cao. Miền Tây là một cuốn tiểu thuyết vừa giàu chất ký sự, vừa giàu chất thơ.
Miền Tây quy mô hơn Truyện Tây Bắc, nhưng ta có cảm tưởng đây là một
mộng, vừa dữ dội hiện ra thật sinh động trước mắt người đọc. Đó cũng là
những đêm tình mùa xuân trai gái H’mông thổi sáo gọi bạn đi chơi trong
rừng: “N
21
” [1 ; 26]. Không phải trong bất tác phẩm nào của Tô Hoài
cũng có sự hài hòa giữa bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn. Ở Miền
Tây, có lúc màn sương thơ mộng đã làm mờ đi những đường nét gân guốc,
góc cạnh của hiện thực. Tô Hoài có cái xông xáo, nhanh nhạy của một nhà
báo, ông là tác giả của nhiều tập phóng sự và ký sự. Nhờ vốn sống lâu năm ở
vùng cao và khả năng quan sát tinh tế nên Tô Hoài đã đưa được vào tác phẩm
những sự kiện, những chi tiết vừa chính xác, vừa tươi nguyên sự sống, làm
cho những cảnh mà ông mô tả sinh động hẳn lên, hiện ra lồ lộ như trên màn
ảnh. Tất nhiên, không phải bất cứ nhà văn nào cũng có thể dễ dàng tạo ra
được sức mạnh của những chi tiết cụ thể về đời sống. Nhưng sức mạnh của
tiểu thuyết không chỉ là vấn đề dựng cảnh hay quan sát thế giới bên ngoài mà
một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất là việc xây dựng những tính cách
điển hình trong hoàn cảnh điển hình, việc đi sâu vào thế giới bên trong của
nhân vật. Trong Miền Tây, nhà văn Tô Hoài đã dựng được một số nhân vật có
những nét điển hình nhất định (bà Giàng Súa, Thào Nhìa, Thào Khay,
Nghiã…). Trong những nhân vật đó, bà Giàng Súa ít nhiều đã có tính cách
riêng, đời sống riêng. Nhìn chung, các nhân vật chính diện tuy đẹp nhưng còn
đơn giản và mờ nhạt. Nếu như tác giả nghiên cứu sâu sắc hơn đời sống tâm lý
bên trong của người nông dân miền núi, tập trung vào việc xây dựng những
tính cách sinh động và có tầm khái quát cao thì chắc chắn cuốn tiểu thuyết sẽ
để lại những ấn tượng sâu sắc hơn nữa trong lòng người đọc.
đường đúng đắn, theo chí hướng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng
Phong. Tô Hoài đã làm nổi bật lên vẻ đẹp của người thanh niên say mê lý
tưởng tập trung hết cả nghị lực, ý chí để tìm ra lý tưởng. Trong tiểu thuyết
Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, nhiều nhân vật được phác họa bằng những nét bút
thật sắc sảo (Chính Hiền, Sảo Kinh), trong đó Mã Hợp, tuy là nhân vật phụ
nhưng lại có tính cách sinh động hơn cả. Do những tài liệu về nhân vật chính
quá ít ỏi, do tác giả quá lệ thuộc vào tính chính xác lịch sử, nên hình tượng
Hoàng Văn Thụ còn có phần mờ nhạt, chưa được triển khai trong nhiều quan
hệ và bình diện khác nhau, chưa đi sâu vào thế giới nội tâm nhất là quá trình
giác ngộ lý tưởng, sự bừng tỉnh trí tuệ của một học sinh người Tày yêu nước
ở trường Kỳ Lừa xuất dương đi tìm cách mạng.
Những thành tựu chủ yếu của Tô Hoài trong quá trình chiếm lĩnh
phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa tập trung vào đề tài miền núi. Trong
phạm vi đề tài này, ông cũng viết được nhiều truyện thiếu nhi có giá trị như:
Kim Đồng, Vừ A Dính. Sau những truyện và tiểu thuyết về miền núi thì
23
những tác phẩm viết cho thiếu nhi có vị trí rất quan trọng trong toàn bộ sự
nghiệp sáng tác văn học của Tô Hoài. Mặt khác, Tô Hoài đã phát huy cao độ
khả năng tưởng tượng và hư cấu nghệ thuật của người viết tiểu thuyết.
Không phải ngẫu nhiên Tô Hoài có nhiều thành công khi viết về đề tài
miền núi và thiếu nhi. Ông quen viết về những nhân vật, những cảnh đời hồn
nhiên như hơi thở của sự sống, khỏe mạnh, thuần phác, lạc quan như những
con người trong truyện cổ tích, trữ tình trong sáng, đẹp và ý nhị như ca dao.
Ông ít khai thác nhân vật của mình ở góc độ trí tuệ, ở sự bừng tỉnh trí tuệ và
hầu như cũng chưa có một nhân vật trí tuệ nào được miêu tả thành công trong
tác phẩm của ông. Có thể nói tác phẩm của Tô Hoài gắn với truyền thống, dân
tộc mà chưa thật hiện đại, dân gian nhưng chưa được nâng cao nhiều về mặt
nghiệt và thuận hòa – người mẹ - thiên nhiên vĩ đại cũng là một nhân vật có
đủ tư cách của Đảo hoang. Tiểu thuyết của Tô Hoài nhìn chung vốn giàu tính
chất hội họa, trong Đảo hoang nhà văn đã đạt đến những đỉnh cao mới.
Người đọc tự mình nhìn thấy thế giới tạo ra bởi sự tưởng tượng của nhà văn,
trải qua những cơn lốc xoáy nhiệt đới nguy hại và đắm trong muôn màu sắc
của mùa xuân tươi sáng. Dường như bạn tận mắt thấy kinh thành Phong Châu
rực rỡ đn đuốc và cuộc đua thuyền nhanh vùn vụt của những thuyền chiến,
mái cho của chúng bứt tung những lưỡi bọt sáng xám khỏi những đợt sóng
sông Hồng đỏ rực.
Trong năm 2006, có hai cuốn sách gây được sự quan tâm chú ý nhiều
của độc giả và giới phê bình văn học, đó là cuốn tự truyện Lê Vân yêu và
sống của diễn viên điện ảnh Lê Vân – Mai Hạnh và cuốn tiểu thuyết Ba
người khác của nhà văn Tô Hoài. Tiểu thuyết Ba người khác được viết ra từ
năm 1992, đến cuối năm 2006 mới được xuất bản. Ngay khi vừa ra mắt bạn
đọc tác phẩm này đã gây xôn xao dư luận với rất nhiều ý kiến đánh giá khác
nhau. Ba người khác là cuốn tiểu thuyết viết về đề tài khó và nhạy cảm, đó là
Cải cách ruộng đất. Đây là cuộc cách mạng quan trọng sau khi đất nước ta
giành lại được nền hòa bình. Cuộc cải cách ruộng đất giúp xóa bỏ hoàn toàn
chế độ phong kiến, đem lại ruộng đất cho người nông dân và thực hiện quyền
làm chủ của giai cấp nông dân. Có thể nói, đây là cuộc cách mạng có bản chất
tích cực với mục đích hướng tới cuộc sống tốt đẹp cho người nông dân. Tuy
nhiên, “
” (bài tham luận về tiểu thuyết Ba người khác của Tô Hoài “
” Hội nhà văn, Hà Nội 22/12/2006).
25
Cải cách ruộng đất là sự kiện có tác động to lớn tới đời sống của người