Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Khải - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN HOÀI NAM

Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn
Khải

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC


3. Cách mở đầu và kết thúc
3.1 Cách mở đầu
3.2 Cách kết thúc

2
Chương 4: Phong cách trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải.
1. Điểm nhìn trần thuật
1.1: Trần thuật hướng ngoại
1.2: Trần thuật hướng nội
2. Ngôn ngữ trần thuật
2.1: Ngôn ngữ người kể chuyện
2.2: Ngôn ngữ nhân vật

Kết luận


4
giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm tiểu thuyết Xung đột, Cha và con và…, Gặp gỡ
cuối năm vào năm 2004.
Không thể dừng lại quá lâu ở việc “tổng kết đời sống như ông vẫn làm sau
chiến tranh”, Nguyễn Khải quăng quật mình giữa đời để sống và viết. Viết, đối với
ông như là một nhu cầu tự thân, một sự tri ân đối với độc giả hay là một thứ duyên
nợ đối với nghề. Sau những thành công nhất định ở thể loại tiểu thuyết, ở vào độ
tuổi “thất thập cổ lai hy”, có lẽ cái già dặn, sâu sắc của một người từng trải đã biết
tìm đến cái chắt lọc, cô đúc của thể loại truyện ngắn.
Trong suốt mấy thập kỉ cuối của thế kỉ XX, cùng với những cây bút trẻ sung
sức, đầy nhiệt huyết như Nguyễn Huy Thiệp, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo,
Nguyễn Thị Thu Huệ và cả những lớp nhà văn thế hệ trước từng trải qua chiến
tranh như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Xuân Thiều, Ma Văn Kháng,
Lê Lựu Nguyễn Khải đã đổi mới cách nghĩ, cách viết cũng như góp phần hiện đại
hóa thể loại truyện ngắn trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc.
Kể từ truyện ngắn đầu tiên đăng trên Tạp chí Lúa mới của Chi hội văn nghệ
Liên khu III năm 1951 đến nay, theo thống kê của chúng tôi, Nguyễn Khải đã viết
được hơn 90 truyện ngắn (Xem phụ lục Danh mục Truyện ngắn Nguyễn Khải)
đăng rải rác trong các tập truyện, trên rất nhiều báo, tạp chí như Văn nghệ quân đội,
Công an nhân dân, báo Văn nghệ, Văn học, Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh
Truyện ngắn Nguyễn Khải hai mươi năm trở lại đây, nhất là sau thời kì Đổi
mới đã có nhiều biến chuyển. Ngòi bút Nguyễn Khải như bén duyên với cái hôm
nay, với cuộc sống nhỡn tiền ồn ã, náo động xung quanh. Ông miệt mài quăng quật
mình trên cánh đồng chữ để khai vỡ. Cái nhìn về nghệ thuật, về con người của ông
không còn là cái nhìn một chiều, chỉ nhìn thấy “cái nửa mà ai cũng thấy” như
trước nữa mà giờ đây là một ngòi bút đầy trăn trở, suy nghiệm và luôn nhìn mọi
vấn đề trong sự phức tạp, đa dạng, muôn mặt của cuộc sống hiện đại với những
nhận xét vừa tinh quái, vừa sắc sảo. “Ông là một trong những nhà văn hiếm hoi,

5

dưới góc độ phong cách nhà văn, đặc điểm ngòi bút nghệ thuật hay với tư cách là
một tác gia của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Cho đến nay đã có hơn 100 bài viết được công bố, trong đó hơn 2/3 các công
trình trực tiếp nghiên cứu về tác giả, tác phẩm Nguyễn Khải; số còn lại tuy không
trực tiếp đặt ra vấn đề nghiên cứu nhà văn nhưng đều ít nhiều đề cập đến Nguyễn
Khải ở cấp độ này hay cấp độ khác.
Về phương diện phong cách nghệ thuật, hầu hết các nhà nghiên cứu đều
thống nhất ở đặc điểm ngòi bút hiện thực tỉnh táo của nhà văn, và coi đó như là một
nét phong cách nghệ thuật riêng của ông. GS. Phan Cự Đệ trong Nhà văn Việt
Nam hiện đại đã khẳng định: “Nguyễn Khải là một cây bút trí tuệ”, “một ngòi bút
hiện thực tỉnh táo”. Đó là một phong cách hiện thực sắc sảo luôn gắn liền với
những cảm hứng lãng mạn cách mạng về ngày mai mà theo năm tháng, càng ngày
càng có sự biến chuyển, “ngòi bút hiện thực tỉnh táo của Nguyễn Khải ngày càng
xúc động hơn, tình cảm hơn, giàu chất trữ tình cách mạng hơn và nói chung, nhân
hậu và tin yêu con người hơn ”
Chu Nga trong “Đặc điểm sáng tác Nguyễn Khải” (Tác gia văn xuôi Việt
Nam hiện đại) và “Đặc điểm ngòi bút hiện thực Nguyễn Khải” (Tạp chí văn học
số 2-1974) trong khi vừa khẳng định tính chiến đấu, ngòi bút sắc sảo của Nguyễn
Khải đồng thời cũng chỉ ra hạn chế trong sự tỉnh táo của ngòi bút nhà văn, khi ông
“hơi quá khách quan, lạnh lùng đối với những gì miêu tả” “ít chú ý đến con người,
hạt nhân của hình tượng nghệ thuật”. Chu Nga đã hơi quá gay gắt khi phê phán sự
“lạnh lùng”, “tàn nhẫn”, “sắc lạnh” của Nguyễn Khải mà không nghĩ đó cũng là
một thủ pháp nghệ thuật của nhà văn (cái lạnh lùng nghệ thuật) mà như ông đã có
lần từng viết trong tác phẩm của mình: “sự say mê, sự đắm đuối ở ông bao giờ
cũng có chừng mực, lại được giấu dưới vẻ ngoài lạnh lẽo”.

7
Nguyễn Văn Hạnh trong “Một vài ý kiến về tác phẩm Nguyễn Khải” (Tạp
chí văn học, số 9, 1964) lại đi sâu vào nghệ thuật biểu hiện cuộc sống và xây dựng
tính cách nhân vật. Ông cho rằng, Nguyễn Khải đã có được “sự hài hòa giữa việc

Trong những bài nghiên cứu về Nguyễn Khải, cần phải kể đến những trang
viết của một người bạn, đồng thời là nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn, như:
“Vài nét về sáng tác Nguyễn Khải trong những năm gần đây”, “Nguyễn Khải hay
một cách tồn tại trong văn chương”, “Nguyễn Khải trong sự vận động của văn học
cách mạng từ sau 1945”. Có thể nói, Vương Trí Nhàn là người rất gần gũi, dày
công nghiên cứu cũng như luôn có những nhận xét sâu sắc về đặc điểm ngòi bút
sáng tạo Nguyễn Khải.
Bên cạnh những ý kiến khen ngợi và đồng tình, nhiều nhà nghiên cứu cũng
đã thẳng thắn chỉ ra nhiều nhược điểm, hạn chế của Nguyễn Khải trong những năm
gần đây: “Ở Nguyễn Khải, có một chút đanh đá, chua ngoa, pha chút ngông
nghênh hiếu thắng, lối nói băm bổ, lối trình bày thẳng tuột những điều người khác
chỉ dám nghĩ” (Vương Trí Nhàn) hay “mấy năm gần đây, Nguyễn Khải hay viết về
bản thân mình, một lối hồi kí, tự truyện. Ở những tác phẩm này, Nguyễn Khải như
cố tình khoe ra với thiên hạ cái hèn, cái kém, cái nhếch nhác đến tội nghiệp của
mình” (Nguyễn Đăng Mạnh).
Về phương diện nhân vật, trong những năm gần đây, có “Thế giới nhân vật
Nguyễn Khải trong cảm hứng nghiên cứu phân tích” của Đào Thủy Nguyên, đăng
trên Tạp chí văn học, số 11 năm 2001 và “Cảm nhận về con người trong sáng tác
của Nguyễn Khải trong những năm gần đây” của Nguyễn Thị Kim Huệ trên Tạp
chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam tháng 10 năm 1999. Cả hai tác giả này đều đã đi
sâu khám phá và đã chỉ ra được khá sâu sắc nhiều đặc điểm về nghệ thuật xây dựng

9
nhân vật, thế giới nhân vật cũng như cảm nhận về con người trong tác phẩm
Nguyễn Khải.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trước nay đều có những ý
kiến, nhận xét khá xác đáng và thống nhất về đặc điểm ngòi bút cũng như phong
cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Khải. Đó cũng là những đặc điểm chung cho
hầu hết những sáng tác của ông từ tiểu thuyết, tạp văn, kịch đến truyện ngắn. Tuy
nhiên, dưới góc độ phê bình, nghiên cứu phong cách nghệ thuật nhà văn, theo

phải là đối tượng nghiên cứu chính. Tuy nhiên, để đánh giá một cách toàn diện,
trong suốt quá trình làm việc, chúng tôi có khảo sát, đối sánh, phân tích thêm một
số tiểu thuyết và tạp văn của ông cũng như có mối liên hệ, phân tích với một số tác
phẩm của các nhà văn khác cùng thời.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để làm rõ tiếng nói, gương mặt riêng về truyện ngắn của Nguyễn Khải trên
văn đàn, luận văn đi sâu vào nghiên cứu truyện ngắn dưới góc độ thể loại và đặc
điểm ngòi bút nhà văn theo quan điểm phong cách nghệ thuật cá nhân. Đây không
phải là một hướng đi mới tuy nhiên, rất cơ bản và cần thiết, nhất là đối với các nhà
văn đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp văn học, cách mạng của dân tộc.
Tìm hiểu đặc điểm phong cách truyện ngắn dưới góc độ thể loại, quả thật đã
hấp dẫn người viết bởi lẽ đúng như M.Bakhtin đã từng nói: “Thể loại đúng là nhân
vật trung tâm của văn học”. Nó là một mã nghệ thuật chung, một mô hình tổ chức
văn bản đã quen thuộc, đã trở thành quy ước, thành một thứ siêu ngôn ngữ (ngôn
ngữ ở trong ngôn ngữ) tiềm ẩn ở trong người viết. Ở đó, người viết có thể lựa chọn
mô hình tổ chức văn bản và đặt mình vào trong một hệ thống; còn người nghe có
cơ sở định hướng để tiếp nhận, bình giá và thưởng thức giá trị nghệ thuật của văn
bản.

11
Nói cách khác, thể loại là cái mã chung để giao tiếp giữa người viết (kể) và
người đọc (nghe) mà nếu không giải mã được nó thì việc tìm hiểu tác phẩm nghệ
thuật của nhiều nhà văn rốt cùng cũng chỉ như “chim chích lạc vào rừng xanh” hay
“thấy cây mà không thấy rừng”.
3.3. Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu Nguyễn Khải dưới góc độ phong cách nghệ thuật nhà văn, luận văn
đi sâu vào việc làm nổi bật được giọng điệu riêng, gương mặt riêng của Nguyễn
Khải trên văn đàn. Ở đây, phong cách là sự thống nhất của tất cả các yếu tố trong
tác phẩm từ đề tài, chủ đề, kết cấu, hình tượng, giọng điệu, các chi tiết cụ thể đến
cách đặt câu dùng từ, thậm chí từng từ ngữ yêu thích của nhà văn. Tuy nhiên, việc

Chúng tôi cơ bản nhất trí đi theo hướng phân chia bản thân Truyện thành hai
phần: “Cái được kể” và “Hành động kể”; “Cái phát ngôn” (enonée) và “Sự phát
ngôn” (énonciation). Cái được kể, cái phát ngôn hiểu nôm na là chuyện, là cốt
truyện, là nội dung được kể còn hành động kể, sự phát ngôn là bản thân văn bản
truyện, là cách thức diễn đạt, là cái mã nghệ thuật mà truyện kể đó mượn để chuyển
tải nội dung mà theo như cách phân chia của T,Todorov là “Chuyện” và “Diễn
ngôn”, hay là khái niệm “Chuyện” và “Truyện” như nhiều nhà nghiên cứu lâu nay
đã thống nhất.
Việc phân tách giữa Chuyện và Truyện không phải là hình thức chủ nghĩa mà
đó là bước đầu tiên để khám phá nghệ thuật truyện kể và phong cách truyện kể của
nhà văn. Theo như R.Bathes trong Dẫn luận phân tích các truyện kể thì: “hiểu một
truyện không đơn giản là theo dõi mạch lạc cốt truyện mà chính là nhận biết những
tầng (étages) chiếu những chuỗi bề ngang lên luồng (fil) được kể, lên cái trục dọc
hàm ẩn; đọc (nghe) một truyện không đơn giản lướt từ chữ này sang chữ khác, mà
từ cấp độ này đến cấp độ khác” [3, tr.14-15]

13
Như vậy, trong phương pháp luận của mình, người viết cố gắng đi theo các
hướng phân tích trên, bước đầu cố gắng chỉ ra các cấp độ khác nhau trong nghệ
thuật kể chuyện của Nguyễn Khải đồng thời tìm hiểu về phong cách, nghệ thuật
truyện ngắn của nhà văn.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được trình bày trong 4 chương.:
Chương 1: Truyện ngắn Nguyễn Khải và quá trình định hình phong cách nghệ
thuật.
Chương 2: Kiểu nhân vật tiêu biểu trong truyện ngắn Nguyễn Khải.
Chương 3: Tình huống và Kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Khải.
Chương 4: Phong cách trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải.
cách nghệ thuật nhà văn. Có những nhà nghiên cứu văn học tiếp cận phong cách từ
phía ngôn ngữ học; có người lại đưa vào phong cách cả tư tưởng, đề tài, tính cách
và ngôn ngữ hay có người xem phong cách là sự thống nhất hữu cơ của tất cả các
thành tố tạo nên tác phẩm văn học.
Việc nghiên cứu phong cách nhà văn là một trong những vấn đề lí luận đã và
đang gây nhiều tranh cãi sôi nổi, không chỉ ở Liên Xô cũ mà còn ở nhiều nước
khác trên thế giới. Có thể kể ra một số tên tuổi khá quen thuộc với độc giả Việt
Nam như Khraptrenko M.V; Tritrêrin A.V; Timôphêep L.I; Paxpelôp G.N;
Vinograđốp V.V; Gây N.K; Xôkôlốp A.N…Ở Việt Nam, cũng đã có một số nhà

15
nghiên cứu bàn sâu về vấn đề phong cách như Nguyễn Đăng Mạnh, Lê Đình Kỵ,
Phan Cự Đệ, Phan Ngọc…với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị.
Ngược dòng lịch sử, khái niệm mang tính chất ngôn ngữ về phong cách được
hình thành sớm nhất ở cổ Hy Lạp, về sau được lan truyền tới La Mã cổ đại, nơi mà
Stylus được coi như một thuật ngữ ngôn ngữ học. Trải qua một thời kì lịch sử dài từ
Trung cổ tới Phục hưng, ở nhiều nước trên thế giới như Hy Lạp, Ấn Độ…trong các
công trình của Arixtôt, Gôraxia, Xixêron, Xkaligher…khái niệm phong cách nói
chung vẫn duy trì ý nghĩa truyền thống của nó.
Sang đến thời kì cận đại, phong cách không chỉ được hiểu như hệ thống thể
hiện của lời nói mà khái niệm đó được mở rộng hơn. Phong cách lúc này được coi
là đặc trưng nghệ thuật của nghệ thuật “là một phương hướng riêng biệt trong nghệ
thuật hình thành ở thời đại nào đó và là một hệ thống xác định các dấu hiệu nghệ
thuật tư tưởng” (I. Vinkenman- Lịch sử nghệ thuật cổ đại).
Bước sang thời kì hiện đại, dưới quan điểm của các nhà nghiên cứu văn học,
phong cách được xem như một phạm trù thẫm mĩ, một hiện tượng văn học nghệ
thuật, bao gồm trong nó tất cả sự đa dạng và phức tạp của nó. Phong cách giờ đây
được nghiên cứu trong mối quan hệ với tư tưởng. với nhà văn, với thời đại hay
“giữa quá trình phong cách và truyền thống phong cách”, giữa “phong cách,
phương pháp, cuộc sống” hay giữa “cốt truyện và phong cách”… Phổ biến nhất,

được tính độc đáo của nhà văn và tác phẩm - ở đây là tư tưởng - nghệ thuật thì cũng
khó mà quan niệm được phong cách một cách sâu sắc. Nói như nhà nghiên cứu
Nguyễn Đăng Mạnh thì "Không tìm ra cơ sở tư tưởng của phong cách thì không
phát hiện ra được quy luật nghệ thuật và tính thống nhất bên trong của phong
cách". [47, tr.76].
Phong cách có thể nổi rõ hơn ở nội dung tư tưởng hoặc đậm nét hơn ở hình
thức nghệ thuật. Tuy nhiên, trên cơ sở thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình

17
thức, một phong cách thiên về nội dung vẫn có liên quan đến hình thức nghệ thuật
và một phong cách thiên về hình thức nghệ thuật vẫn có gốc rễ ở nội dung. Do đó,
khó có thể và cũng không thật cần thiết đòi hỏi phong cách phải được miêu tả một
cách bình quân, máy móc hai mặt nội dung và hình thức. Tuy nhiên, nói đến phong
cách là nói đến sự thống nhất nội dung và hình thức, tư tưởng và nghệ thuật.
“Phong cách liên hệ hình thức với nội dung, cái biểu đạt với cái được biểu đạt.
Phong cách là chất liệu nghệ thuật trong đó được thể hiện tư tưởng của người nghệ
sĩ. Chính ở đây bộc lộ sự phụ thuộc của phong cách vào tư duy hình tượng, thế giới
quan” (Xôkôlôv A.N). Như vậy, phong cách nghệ thuật thể hiện trong cả nội dung
và hình thức, tạo được một chỉnh thể hoàn chỉnh và bền vững, thể hiện được cá tính
sáng tạo của nhà văn.
1.3 Phong cách thể hiện tập trung trong những đặc điểm mang giá trị phẩm
chất nghệ thuật cao, được kết tinh trong sự sáng tạo của nhà văn. Nói đến phong
cách là nói đến tính độc đáo của phẩm chất thẫm mĩ - nghĩa là phải đem lại cho
người đọc một sự hưởng thụ mĩ cảm dồi dào khiến họ tìm thấy sự khác biệt giữa tài
năng này với tài năng khác. Đó là một sự khó khăn đối với quá trình sáng tạo của
một nhà văn. Chính vì thế, không phải nhà văn nào cũng có phong cách, mặc dù xét
cho cùng, nhà văn nào cũng có đặc điểm riêng. Đặc điểm mờ nhạt thì chưa có ý
nghĩa gì đối với nghệ thuật, phải là chỗ độc đáo không thể thay thế được mới làm
nên phong cách nhà văn. Chỉ cần có sự lặp đi lặp lại trong sáng tác nghệ thuật đã
được gọi là đặc điểm, nhưng phong cách phải là một sự lặp đi lặp lại một cách đổi

được cá tính sáng tạo của nhà văn.
- Phong cách trước hết thể hiện ở hình thức nghệ thuật các tác phẩm nhưng
nếu không nắm được tính độc đáo của tư tưởng nhà văn và tác phẩm, ở đây là tư
tưởng - nghệ thuật thì cũng không quan niệm phong cách được một cách sâu sắc.

19
Như vậy, phong cách là khái niệm bao gồm cả nội dung lẫn hình thức, tuy nhiên,
phong cách thể hiện một cách cụ thể nhất, rõ rệt nhất ở hình thức nghệ thuật.
2. Về khái niệm truyện ngắn
Với khái niệm Truyện ngắn, việc xác lập một định nghĩa cũng khó khăn
không kém. “Thật ra thì cho đến tận bây giờ cũng chưa có ai tìm ra được một định
nghĩa thật chuẩn về tiểu thuyết hay truyện ngắn” [72, tr.20], bởi “truyện ngắn cũng
như tiểu thuyết là một thể loại luôn luôn biến chuyển” [1, tr. ]
Truyện ngắn có nguồn gốc tiếng Italia, novella có nghĩa đầu tiên là “cái tin”,
“một chuyện mới”.(tiếng Pháp: Nouvelle, tiếng Anh: short story, tiếng Trung Quốc:
Đoản thiên tiểu thuyết). Trước nay, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thể loại
truyện ngắn từ khắp các châu lục. Nhà thơ Đức, Gớt (J.Goethe, 1749-1832) xác
định Novella là “ một câu chuyện lạ đang xảy ra làm ta kinh ngạc”. Nhà văn K.
Pauxtôpxki (Nga) cho rằng: “Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi ghĩ truyện ngắn là
một truyện ngắn gọn trong đó cái không bình thường hiện ra như một cái gì đó
bình thường, và cái bình thường hiện ra như một cái gì đó không bình thường” [59,
tr. ]. D. Grônôpxki trong sách Đọc truyện ngắn viết: “Truyện ngắn là một thể loại
muôn hình, muôn vẻ, biến đổi không cùng. Nó là một vật biến hóa như quả chanh
của Lọ Lem. Biến hóa về kiểu loại: tình cảm, trào phúng, kì ảo, hướng về biến cố
thật hay tưởng tượng, hiện thực hoặc phóng túng. Biến hóa về nội dung: thay đổi
vô cùng vô tận…Trong thế giới của truyện ngắn, cái gì cũng thành biến cố, thậm
chí sự thiếu vắng tình tiết, diễn biến cũng gây hiệu quả, vì nó làm cho sự chờ đợi bị
hẫng hụt” [59, tr. ]
Nói chung, qua các tài liệu hiện hành và qua tham khảo ý kiến của nhiều
nhà nghiên cứu, phê bình và các nhà văn….chúng tôi thấy truyện ngắn là một khái

này, một mặt phải là chung cho các loại truyện ngắn- nói như Vương Mông (Trung

21
Quốc) là những "linh kiện" không thể thiếu của cơ chế truyện ngắn, đồng thời là
nơi các phong cách truyện ngắn khác nhau thể hiện những sáng tạo độc đáo nhất.
Do vậy, xuất phát từ việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật nhà văn dưới góc
độ thể loại nên theo người viết, luận văn tập trung vào những bình diện cơ bản sau
của truyện ngắn để khảo sát phong cách nghệ thuật nhà văn:
- Khuynh hướng tư tưởng nghệ thuật: cảm quan về thế giới và con người
- Sự sáng tạo tình huống truyện:
- Kết cấu truyện, cách mở đầu, kết thúc
- Nhân vật truyện
- Nghệ thuật trần thuật
- Ngôn ngữ.
Một mặt, người viết cho rằng, 6 bình diện trên tuy chưa bao quát được đầy
đủ các vấn đề của phong cách truyện ngắn nhưng đó là 6 bình diện cơ bản nhất, mà
trong khuôn khổ của 1 luận văn, cần phải xác định một giới hạn tương đối. Với lại,
không phải ở một phong cách nhà văn nào cũng có những sáng tạo độc đáo và bình
quân ở cả 6 bình diện trên. Chính vì vậy, luận văn này sẽ đi theo hướng phân tích
bám vào các bình diện của phong cách nghệ thuật truyện ngắn nhưng có sự nhấn,
lướt tùy theo đặc điểm mỗi tác phẩm, mỗi giai đoạn sáng tác.

3. Các giai đoạn sáng tác truyện ngắn Nguyễn Khải
3.1. Tiểu sử - sự nghiệp
Nguyễn Khải sinh ngày 3 tháng 12 năm 1930 trong một gia đình quan lại
nghèo, đã sa sút ở Hà Nội. Trong gia đình, thân phận của mẹ con ông là thân phận
của vợ lẽ – con thêm. Tuổi thơ Nguyễn Khải trải qua nhiều phen khốn nhục, sống
trong sự ghẻ lạnh, khinh bỉ của gia đình, họ hàng, thậm chí của cả người cha đẻ ra
mình. Từ lúc bé đến 15 tuổi, Nguyễn Khải chưa một lần dám nhìn thẳng vào mặt
cha mà lúc nào cũng khúm núm, len lén, sợ hãi như một kẻ có tội.

23
và…(1979), Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985), Điều tra về một
cái chết (1986), Vòng sóng đến vô cùng (1987), Một cõi nhân gian bé tí (1989),
Một người Hà Nội (1990), Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu (1993), Một thời
gió bụi (1993), Hà Nội trong mắt tôi (1995-2001), Chuyện nghề (1999), Sống ở đời
(2002), Thượng đế thì cười(2003)…
Về quan điểm nghệ thuật, là một nhà văn chiến sĩ, Nguyễn Khải có được một
quan niệm hết sức đúng đắn về vai trò, sứ mệnh của văn học nghệ thuật. Ông là
người rất có ý thức trong việc dùng ngòi bút làm vũ khí chiến đấu, phục vụ sự
nghiệp cách mạng của dân tộc và góp phần xây dựng cuộc sống mới. Điều đó trước
hết thể hiện ở việc, ông luôn là người đi tiên phong, tìm đến những vùng đất nóng
bỏng, hiện thực đầy sôi động của đất nước, những miền đất tự bản thân nó đã là
một hoàn cảnh điển hình, có sức khái quát hoá cao. Trong giới văn nghệ sĩ, ông nổi
tiếng là một người chịu khó đi thực tế. Một vùng nông thôn công giáo toàn tòng,
một nông trường Điện Biên ở miền Tây Bắc xa xôi, một hợp tác xã tiên tiến, một
hòn đảo anh hùng, kiên cường trong chiến tranh phá hoại…miệt mài đi và miệt mài
viết. Nhờ thế, lúc nào Nguyễn Khải cũng như đang sống giữa dòng thác cuộc đời
và ngòi bút của ông trở nên thiết thực và đầy tinh thần trách nhiệm với cuộc sống.
Tác phẩm đầu tiên báo hiệu sự xuất hiện của “một phong cách văn xuôi hiện
thực tỉnh táo” [10, tr.483]. của Nguyễn Khải chính là tác phẩm Xung đột. Đó là kết
quả của một chuyến đi xâm nhập thực tế của nhà văn về vùng đạo gốc thuộc huyện
Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Với một nhãn quan chính trị nhạy bén, nhà văn đã ghi lại
cuộc đấu tranh quyết liệt của cán bộ, bộ đội và nhân dân ta chống lại bọn phản
động, đội lốt tôn giáo nổi lên chống phá cách mạng ở một xóm đạo. Có thể xem,
Xung đột là bước khởi đầu thành công và “mãi mãi là một đỉnh cao trong sáng tác
của Nguyễn Khải, mà mỗi khi nhớ tới, người ta phải kính trọng” [42, tr.105]. Tiếp
theo Xung đột là hàng loạt thành công khác của Nguyễn Khải viết về những vấn đề
thời sự của cuộc đấu tranh giữa hai con đường để tiến lên CNXH ở miền Bắc như

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status