Quần thể di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám - Pdf 25


Quốc Tử Giám

Văn miếu là nơi thờ cúng Khổng Tử cùng môn đệ và các danh nho đời sau (như
Chu văn An) có công truyền bá, giữ gìn Chính đạo (đạo Nho) để tỏ đạo học có
nguồn gốc, Xuân Thu nhị kỳ vua thân đến tế.
Quốc tử giám thoạt đầu là chỗ dậy các Hoàng tử sau mở rộng cho con các quan đại
thần rồi con nhà bình dân ai thông tuệ cũng được vào học (1).
Quốc Tử Giám ở Thăng-long dựng ngay sau Văn Miếu. Năm 1802 vua Gia-Long
bãi Quốc Tử Giám Thăng-long, đem lập lại ở Phú-xuân. Và để đền bù cho dân Hà-
thành đã dựng Khuê văn các (2) trong Văn Miếu, trước hồ Thiền-quang, kế bên
những tấm bia đề danh Tiến sĩ các khoa nhà Lê và Nguyễn sơ. Hà-nội ngày nay
tuy không còn Quốc Tử Giám nhưng vẫn giữ cái tên "nhà Giám" để trỏ Văn Miếu.
Quốc Tử Giám cũng như Văn Miếu và Khoa cử đều xuất phát từ Trung quốc. Nhà
Đường đặt ra Quốc Tử Giám coi việc học chính, quản lĩnh sáu học quán là : Quốc
Tử Giám, Thái học, Tứ môn học, Luật học, Thư học, Toán học. Đứng đầu Quốc
Tử Giám là Tế tửu, Tư nghiệp làm Phó. Con quan, tùy phẩm trật của cha, và con
nhà bình dân học ở học quán khác nhau. Lại có hai văn quán riêng cho con các
hoàng thân quốc thích.
Đời Minh ở Nam kinh, Bắc kinh đều có Quốc Tử Giám, các quan Tế tửu, Tư
nghiệp, Bác sĩ lo việc giáo tập. Minh Thái Tổ đặt ra Quốc tử học, ngoài học văn
chương còn tập luyện chính trị, hàng năm lấy nhiều sinh viên ra làm quan (3).

I- Quốc Tử Giám Thăng Long
1070 Dựng Văn Miếu ở Thăng long.
1076 Xây Quốc Tử Giám ở phía sau Văn Miếu làm nơi học tập cho Hoàng Thái
tử.
1087 Dựng gác Bí thư chứa sách vở hiếm.

1805 Xây Khuê văn các.
1827 Vua Minh-Mệnh sai quan ở Bắc thành (Thăng-long) kiểm điểm sách vở ở
Văn Miếu như Tứ Thư, Ngũ Kinh, Đại Toàn, Chính sử, Tứ trường văn thể đưa vào
kinh, để ở Quốc Tử Giám.

* Vị trí - Phong cảnh
Thời Lý, Trần, Văn Miếu dựng ở thôn Minh-giám, huyện Thọ-xương, phía tây
nam phủ Phụng-thiên, trong kinh thành. Văn Miếu nằm cạnh Thái hồ. Hồ này rộng
mênh mông, sau bị lấp chỉ còn phần phía nam trước cổng Văn Miếu, gọi là Văn
hồ. Khu này còn có làng Văn chương vì thời Lê nho sĩ tụ tập ở Quốc Tử Giám để
nghe bình văn một tháng hai lần.
Khoảng 1771 cái hồ to ở trước mặt nhà Thái học gọi là ao Bích-thủy. Trước kia
dân phố phần nhiều dựa lưng vào ao mà làm nhà. Học quan xây bức tường bình
phong để che xe ngựa. Khi ấy Nguyễn Hoãn bổ chức Tri Quốc Tử Giám đuổi phố
xá đi mà mở rộng ra, trồng cây, lát đường, lập bia Hạ mã ở trước cửa, làm cho
quang cảnh nhà Thái học nghiêm trang (10).
Khoảng đầu đời Tự-Đức, phía đông Văn hồ có Nho sinh quán do một Hương quan
làng Minh-giám lập ra cho học trò nghèo các tỉnh tới trọ. Tương truyền chủ quán
ra một vế đối, treo giải thưởng nhưng không ai đối được :
Nước Văn hồ tha hồ tắm mát,
Rượu Hồ đình thơm ngát đón làng Văn.
(Hồ đình là cái đình hóng mát hình hồ rượu dựng trên một đảo nhỏ của Văn hồ)
(11).
1865 Văn hồ đình bi ký :"Trước Văn Miếu có hồ lớn, giữa hồ có bãi Kim-châu.
Khoảng năm Cảnh-trị (1663-71) Tham tụng Phạm tiên sinh (Phạm Công Trứ) từng
sáng tác chùm thơ "Phân thủy thập vịnh" tả cảnh đẹp nơi đây. Thời gian lâu xa, cỏ
mọc um tùm quanh hồ, lòng hồ tắc ứ ngày một cạn. Năm 1863, Bố chính Lê Hữu
Thanh và Án sát Đặng Tá dựng Bi đình. Năm 1865, Đặng Án sát mua ngói lợp
đình, đặt tên là Văn hồ đình. Trong đình khắc mười bài thơ "Phân thủy" của Phạm
Công Trứ" (12).

ở.
Nhà Di Luân cùng phòng Giám sinh thì cấm đàn bà con gái không được qua lại.
* Lệ cấm này cũng đã được Phạm Đình Hổ nhắc tới trong Vũ Trung Tùy Bút :
"Khoảng năm Giáp Thìn, Ất Tỵ đời Cảnh hưng (1784-85), nhà Giám khi trước gập
ngày mồng một, ngày rầm thường họp học trò lại bình văn, các quan đều đến hội
họp, người đến nghe bình văn vòng trong vòng ngoài, đông nhu kiến. Khi ấy có
một người đàn bà đến trước cửa nhà Giám muốn xin vào xem, lính canh đuổi
không cho vào. Bà ta đứng trông vào trước cửa nhà Giám vái lạy mà rằng
:"Chẳng hay khi xưa thánh nhân lập giáo thế nào mà nay các quan hễ hạ ngòi bút
xuống phán xét một lời là không còn kêu ca vào đâu được nữa ?". Người đàn bà
ấy vừa lạy vừa khóc mà đi. Ôi ! người đàn bà quê mùa ấy chẳng trách làm chi,
nhưng các ngài là bậc văn học, làm nên quan mà để cho dân đến nỗi thế thì nỡ
lòng nào ?" (16).
1825 Sửa nhà Di Luân, Giảng đường, nhà học Tôn sinh, dựng lại phòng ốc các
Giám sinh : nhà ngói ở hai bên tả hữu đều 20 gian. Phía trước nhà Di Luân năm
trước xây tường gạch, nay xây thêm tường gạch ở ba mặt tả, hữu và hậu.
1850 Dựng nhà cho Học quan phía hữu 15 gian, dựng thêm phòng ốc cho Ấm
sinh, Giám sinh ở phía tả là 19 gian.
1896 Xây trường Quốc học. Dựng nơi công thổ tả doanh Thủy sư một tòa Đốc
giáo đường 3 gian, 2 chái, nơi cư trú của các Trợ giáo.
1898 Thêm hai dẫy trường ốc để làm chỗ dậy học, dẫy trước 30 gian. Sau Đốc
giáo đường làm nhà vuông (Di Luân), xung quanh xây la thành (tường bao). Mặt
trước xây môn lâu hai từng, từng trên treo bảng khắc chữ Quốc học bằng Pháp
văn, sơn đỏ thếp vàng, dựng năm 1918 (17) .
1917 Xây Quốc Tử Giám mới : Cổng vào có 4 cột đá trên treo biển gỗ "Quốc Tử
Giám". Có hai phần cách nhau một lối đi chạy hết chiều ngang 176 mét 50, từ cửa
Cơ mật viện đến hào của Hoàng thành. Xung quanh có tường bao vây. Chính giữa
là nhà Di Luân hình vuông, chu vi 85 mét, từng dưới treo bức hoành "Di Luân
Đường" chữ vàng, phía sau, bên phải đặt chuông, bên trái đặt trống to (ở kinh
thành cấm đánh trống nên chỉ có chuônt báo hiệu giờ học). Từng trên treo biển

Giám, Tiến sĩ đời Lê là Nguyễn Du (không phải tác giả Truyện Kiều) làm Phó
Đốc học Quốc Tử Giám. Du vì già xin từ.
1821 Vua Minh-Mệnh bỏ các chức Đốc học, bắt đầu đặt 1 Tế tửu (chánh tứ phẩm),
2 Tư nghiệp (tùng tứ phẩm) và các chức phụ tá : Giám thừa, Điển tịch, Điển bộ
v.v Dụ cho Tế tửu một tháng một lần tâu, ai có tài hạnh thì cấp lương tiền học
nghiệp, không thì cách cho về.
1822 Đặt hai chức Học chính ở Quốc Tử Giám (tùng lục phẩm) chuyên dậy các
Tôn sinh, sai Tế tửu, Tư nghiệp chọn hai, ba người có học hạnh bổ vào.
1823 Vua triệu Đốc học Gia-định Nguyễn Đăng Sở vào bệ kiến, hỏi :"Năm ngoái
có chiếu phải tiến cử Học sinh mà Gia-định không cử người nào là tại sao ?". Sở
tâu :"Chiếu gửi từ thành đến trấn, từ trấn đến phủ huyện, chưa từng hỏi đến Học
thần nên tuy có biết cũng không dám vượt quyền mà cử". Vua phán :"Muốn biết sĩ
tử mà không hỏi Học thần thì hỏi ai ?". Lập tức hạ lệnh cho quan tỉnh chuyển sang
hỏi Học thần chọn người có thể cống cử.
1880 Quan ở Giám nếu có học trò đi thi hỏng 1 tên thì giáng 1 cấp, hỏng 2 tên thì
giáng 2 cấp, hỏng 3 tên thì giáng 3 cấp, được lưu lại làm việc, hỏng 4 tên, giáng 4
cấp, điều đi nơi khác, hỏng 5 tên thì cách chức (21).

IV - Học Trò
Danh hiệu - Học trò ở Giám có nhiều loại :
a- Tôn sinh là con em trong Hoàng phái, do Tôn nhân phủ tiến cử.
1804 Chọn con em Tôn thất từ 10 đến 15 tuổi cho vào Quốc Tử Giám học.
b- Ấm sinh là con các quan đại thần.
1829 Vua dụ bộ Lễ :"Đường lối thịnh trị tất phải thành tựu nhân tài mà phương
pháp thành tựu là phải bồi dưỡng từ trước. Đời xưa con trưởng các công khanh đại
phu và những người tuấn tú con nhà thường dân đến 15 tuổi thì vào Đại học, phép
giáo dục đầy đủ. Năm trước từng cho quan văn võ tam phẩm mỗi viên được một
người con vào nhà Giám học tập cùng với Giám sinh, nay chuẩn cho các con quan
Kinh văn từ tứ phẩm, ngũ phẩm, thì người con trưởng được bổ làm học sinh Quốc
Tử Giám. Lương bổng và quy trình giảng tập chuẩn cho các bộ bàn định, thi hành,

ưu, bình, thứ, liệt, do quan Học chính làm danh sách tâu lên. Hạng ưu thì tăng một
nửa nguyên bổng, hạng bình như thường, hạng thứ giảm một phần ba, hạng liệt
giảm một nửa.
2) Định lại lệ xin nghỉ : Phàm gập ngày húy (giỗ) cha mẹ cho nghỉ 5 ngày, cha còn
hay mẹ còn thì cho 3 ngày ; gập ngày húy ông bà, cụ kỵ mà cha mẹ mình đều mất
cho nghỉ 3 ngày ; đau ốm nhẹ thì điều dưỡng trong phòng, nặng thì cho nghỉ 10
ngày, chưa khỏi lại gia một hạn. Nếu vô cớ thác bệnh không ở tại phòng thì bị
đánh roi.
1483 Theo chế độ cũ, con cháu quan viên người nào thi Hương trúng ba kỳ được
sung vào Hiệu sinh trường học trong phủ mình, trúng bốn kỳ sung Giám sinh
trường Quốc học, còn quân và dân nếu ứng thi có trúng tuyển cũng không được
dự.
Nay ra sắc dụ : Quân và dân thi Hương trúng ba kỳ được sung vào Sinh đồ trong
phủ mình, trúng bốn kỳ được sung Học sinh trong Tăng Quảng Đường ở Quốc Tử
Giám. Giám sinh thi Hội trúng ba trường thì cho sung vào Thượng xá sinh, trúng
hai trường thì sung Trung xá sinh, trúng một trường thì sung Hạ xá sinh. Mỗi xá là
100 người, cấp cho tiền lương ba xá mỗi người 9 tiền. Khi bổ dùng bộ Lại và quan
ở Quốc Tử Giám bảo cử, chọn bổ ba xá không phân biệt.
Bọn Phó Đô Ngự sử đài Quách Hữu Nghiêm tâu :"Tiền lương ba xá xin đổi :
Thượng xá thêm một tiền cho đủ một quan, Trung xá giữ nguyên 9 tiền, Hạ xá
giảm một tiền, còn 8. Khi bổ dùng thì cho Thượng xá sinh ba phần, Trung xá sinh
hai phần, Hạ xá sinh một phần. Vua y.
1511 Điểm mục : Các Giám sinh, Nho sinh, Sinh đồ cứ đến ngày rầm, mồng một
đều phải mũ áo đến điểm mục. Phải tuân theo học quy, tập học nghiệp cho thành
tài, giúp ích cho nước. Ngưởi nào dám rong chơi đường xá, trễ bỏ việc học, thiếu
điểm mục một lần thì phạt 20 tờ giấy trung chỉ, thiếu ba lần thì đánh 40 roi, thiếu 4
lần thì kiểm xét tâu lên, giao cho bộ Hình xét hỏi, thiếu 5 lần thì tâu lên bắt sung
quân.
1721 Định rõ quy chế việc học, phép thi khảo tại các trường Quốc học và Hương
học. Tế tửu, Tư nghiệp giảng dậy, con cháu các công thần và nho sĩ đều được học.

và ghi vào học bạ. Quá dốt có thể bị đuổi, còn những người giỏi được thưởng giấy
bút .
4- Hàng năm những kỳ khảo hạch thì lấy bốn tháng trọng. Chấm phê cốt tinh
tường, không thiên vị.
5- Giám sinh nếu có tệ rượu chè, cờ bạc, trộm cắp, trai gái thì cho xét cử lên để
cách đuổi. Kẻ nào tự tiện bỏ ra ngoài một, hai lần thì Giám thần tự trách mắng, ba
lần cho xét cử lên.
6- Hàng năm ba tiết lớn (Vạn thọ, Chánh Đán, Đoan dương) các Giám sinh đều
mũ áo vào sân điện Cần chính để chiêm bái.
7- Hàng năm cứ đến cuối tháng chạp, sau ngày cất ấn một ngày thì nghỉ học. Cũng
tế lễ như ngày khai giảng.
Vua chuẩn.
1826 Sắp thi Hội, gia ơn cho học trò mỗi người 10 quan. Sai Giám thần xét hạch ai
trúng ưu, bình, thứ cho thi cùng với Hương cống, hạng liệt sung bổ thư lại nhập
lưu ở các bộ, viện và tả hữu Thừa Ty các dinh trấn.
Đổi cấp mũ áo Giám sinh :
1 mũ Tú tài bằng the nam, đằng trước đính một hoa bạc
1 áo tràng vạt bằng the nam mầu xanh lót lụa trắng
1 xiêm lụa mầu lam
Khăn, màng lưới (buộc tóc)
Hia tất.
5 năm đổi một lần.
1827 Giám sinh tọa giám được thăng bổ hay có lỗi phải cách thì mũ áo thanh
khâm nhà nước phát phải chiếu lệ nộp trả, người ốm chết thì cho đem theo.
1828 Vua phán :"Mùa đông năm nay giá rét, bọn Giám sinh sách đèn cần khổ lấy
gì chống rét ?", ban cho mỗi người 10 quan.
1829 Việc giảng tập thì trước giảng Ngũ kinh, Tứ Truyện, rồi Chính sử và Tính lý.
Tập bài mỗi tháng chia làm bốn kỳ : ngày 3, 9, 17, 25.
Sau lại cho con các quan văn hưu trí hay đã quá cố từ tứ phẩm trở lên mỗi viên
được một người dự.

chính phải sớm chiều dậy bảo, hoặc đã tập đủ thể văn ba kỳ, sát hạch trúng hạng
ưu,bình và đã thi Hương thì cho được cùng học với học sinh ở Giám chờ có tiến
bộ, lại theo lệ cho làm Tôn sinh thượng hạng.
b- Ấm sinh học ở Giám đã đỗ Tú tài thì cho hội đồng khảo hạch không câu nệ niên
hạn.
Hàng năm 2 tháng trọng sát hạch học sinh, khi chấm xong đem suốt cả sách học
tập nửa năm trước xét kỹ học lực chăm hay lười, cân nhắc tính khấu trừ định hạng.
c- Giám sinh đã được xét bổ mà chưa có nơi khuyết, trừ người tình nguyện ở lại
Giám thì cho học bổng, còn thì cho về quê chờ bổ.
Người mới vào Giám, tuổi 50 trở lên, chuẩn cho được chọn bổ giáo chức (25).

B- Khảo hạch
Khảo hạch ở Giám có nhiều loại khác nhau, tùy trình độ mà đặt câu hỏi khó hay dễ
nhưng cũng không ngoài Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử, Nam sử, Bách gia chư tử v.v
a) Thi để được vào học ở Quốc Tử Giám :
các Học sinh / Cống sinh được tiến cử từ các phủ huyện hàng năm hay vài ba năm
một lần, phải qua một kỳ thi do quan ở Giám sát hạch có đỗ mới được học. Kỳ thi
này cũng để xét trình độ mỗi người mà cho vào học một trong ba xá sinh. Hạng
ưu,bình dù không đỗ Hương thí cũng được vào học ở Quốc Tử Giám, hạng liệt bị
đuổi về.
b) Kiểm soát
- Những người đang học ở Quốc Tử Giám hàng năm vào bốn tháng trọng (tháng
giữa mỗi mùa) phải thi để kiểm soát học lực có tiến bộ hay không. Kỳ thi này do
bộ Lễ chủ trì, Giám thần và các quan Đô Giám viện khảo hạch. Sau mỗi kỳ thi đều
có bản phúc trình lên vua.
1829 Bộ thần bàn : Phàm người nào được bổ Học sinh thì do quan Giám thần xét
lại. Bậc nhất kiêm thông văn thể ba, bốn trường ; bậc nhì thông văn thể một, hai
trường ; bậc ba chưa thông văn thể. Cấp cho bậc nhất mỗi tháng 2 quan tiền, 2
phương gạo. Cấp mũ áo.
Về đề mục thì bậc nhất theo đầu đề mà tập ; bậc nhì và bậc ba thì : Chế nghĩa 6 đề,

hạng bình được 2 quan tiền, 1,5 vuông gạo, 4 cân dầu
hạng thứ được 1,5 quan tiền, 1 vuông gạo, 3 cân dầu ; 4 lần thứ thì đuổi.
- Cử nhân Thi vào tháng trọng mỗi mùa. Được ưu hạng thì tăng học bổng, 4 lần
"thứ" thì đuổi.
Học bổng hàng tháng của Cử nhân là 3 quan tiền, 2 vuông gạo, 5 cân dầu. Sau khi
thi :
hạng ưu được tăng 1 quan tiền
hạng bình giảm 1 cân dầu
hạng thứ giảm 1 quan tiền, 2 cân dầu, thứ bốn lần thì bị đuổi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status