phần Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
1.1. Phố Hiến thuộc thị xã Hng Yên, tỉnh Hng Yên ngày nay cách
thủ đô Hà Nội 30km đờng chim bay về phía đông nam, vốn là một đô thị
cảng tấp nập của những hoạt động công thơng nghiệp ở Đàng Ngoài vào thế
kỷ XVII - XVIII và đã đi vào trong câu ca quen thuộc "Thứ nhất Kinh Kỳ,
thứ nhì Phố Hiến". Theo sử sách lu truyền, Phố Hiến đã từng một thời phố
xá dọc ngang, nơi tụ hội những phờng thủ công, những phiên chợ náo nhiệt,
những thơng điếm hoạt động sầm uất. Phố Hiến không chỉ đóng vai trò
giữa các miền trong nớc mà còn là một trung tâm xuất nhập khẩu có quan
hệ buôn bán với nhiều quốc gia trên thế giới nh : Trung Quốc, Nhật Bản,
Hà Lan, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha....
Qua thời gian Phố Hiến đã khẳng định cho mình một vị trí khá nổi
bật trong hệ thống đô thị Việt Nam thời bây giờ - chỉ đứng sau kinh kỳ
Thăng Long. Trải qua những thăng trầm của lịch sử cùng với sự biến đổi
của tự nhiên, Phố Hiến ngày nay chỉ còn lại một quần thể di tích, kiến trúc
nghệ thuật với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, cùng những thuần
phong mỹ tục, những làng nghề thủ công, những nét nghệ thuật dân gian
độc đáo. Có thể xem đây là một tụ điểm của nghệ thuật xứ Đông.
Phố Hiến hiện nay không còn sầm uất nhộn nhịp nh phố cổ Hà Nội,
cũng không còn quần thể di tích nằm tập trung nguyên vẹn nh ở Hội An,
nhng Phố Hiến vẫn còn đợc đánh giá là một trong ba khu phố cổ nhất ở
Việt Nam với một quần thể di tích có tầm cỡ quốc gia .
1.2. Quần thể di tích Phố Hiến bao gồm các công trình kiến trúc công
cộng, những di tích tín ngỡng tôn giáo, nhà thờ họ, dấu tích của phố phờng,
1
bến sông, thành và thị (nơi sản xuất hàng hoá thủ công), nghĩa địa ngời nớc
ngoài, bia ký và những cổ vật lu trữ tại các công trình kiến trúc. Hiện nay
những dấu vết về các thành quách, những khu phố cổ, nhà dân, thơng điếm và
các cơ sở sản xuất thủ công đánh dấu một thời kỳ vàng son của Phố Hiến còn
lại rất ít và mờ nhạt. Song, cái hiện còn nơi đây là các công trình tôn giáo tín
chuyên ngành Bảo tồn - Bảo tàng đã đợc học, cộng với tình yêu quê hơng
sâu sắc và có nhiều điều kiện khảo sát thực tế chúng tôi đã chọn đề tài
"Giá trị lịch sử - văn hoá của quần thể di tích Phố Hiến. Với mong muốn
góp một phần nhỏ bé sức mình vào việc bảo vệ và phát huy những di sản
văn hoá của quê hơng.
2.Mục đích nghiên cứu.
- Nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị lịch sử, văn hoá của quần thể
di tích Phố Hiến.
- Đánh giá hiện trạng quần thể di tích Phố Hiến.
- Đề xuất một số giải pháp về việc đẩy mạnh công tác bảo tồn và
phát huy có hiệu quả các giá trị lịch sử văn hoá của địa phơng trong giai
đoạn hiện nay.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu: Các di tích nằm trong quần thể di tích Phố Hiến.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Mặc dù trên địa bàn thị xã Hng
Yên hiện nay có tất cả 70 di tích đã đợc xếp vào danh mục kiểm kê của Bảo
tàng tỉnh Hng Yên, song đề tài này không đi tìm hiểu, phân tích các giá trị
lịch sử - văn hoá của từng di tích của thị xã Hng Yên mà chỉ đi vào tìm
hiểu, phân tích những giá trị lịch sử - văn hoá của những di tích chính thuộc
quần thể di tích Phố Hiến.
3
* Những di tích chính thuộc quần thể di tích Phố Hiến là những di
tích thuộc loại hình di tích tín ngỡng, tôn giáo đã đợc xếp hạng quốc gia và
những di chỉ khảo cổ nằm trên địa bàn thị xã Hng Yên, đợc xác định đó là
đô thị cổ Phố Hiến - nơi diễn ra hoạt động thơng mại lớn nhất ở Đằng ngoài
vào thế kỷ XVII - XVIII và cũng là nơi giao lu văn hoá giữa các vùng miền
để có đợc những giá trị văn hoá còn tồn tại đến ngày nay. Địa bàn đó ngày
nay đợc xác định từ thôn Đằng Châu, phờng Lam Sơn qua Nhân Dục, ph-
ờng Hiến Nam, đến toàn bộ khu vực nội thị ngày nay, gồm các phờng:
Minh Khai, Lê Lợi, Quang Trung (thuộc phố Nam Hoà, Bắc hoà Thợng
tỉnh năm 1997, toàn bộ các công trình nghiên cứu về Phố Hiến đợc bảo
tàng Hải Hng bàn giao lại cho Bảo tàng Hng Yên tiếp tục nghiên cứu.
Song, từ đó đến nay cha có một công trình nghiên cứu nào thực sự đề cập
đến việc tổ chức phân loại, đánh giá, tìm hiểu, khai thác các giá trị lịch sử
-văn hoá, xây dựng các phơng án bảo tồn và phát huy tác dụng quần thể di
tích Phố Hiến một cách toàn diện.
Năm 1997, sinh viên Phạm Thị Hiệp (khoa Bảo Tàng trờng Đại học
Văn hoá Hà Nội ) đã thực hiện đề tài: "Đô thị cổ Phố Hiến với tiềm năng phát
triển du lịch", tuy nhiên luận văn này mới chỉ dừng lại ở góc độ giới thiệu
quần thể di tích Phố Hiến dới cái nhìn của một hớng dẫn viên du lịch.
5. Phơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp luận: Phơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phơng pháp liên ngành: Bảo tàng học, dân tộc học, xã hội học, lịch sử
- Phơng pháp điền dã: phỏng vấn, chụp ảnh, khảo tả, phân loại, so
sánh, đánh giá.
5
6. Những đóng góp của luận văn
- Tập hợp các nguồn tài liệu nghiên cứu, viết về Phố Hiến từ trớc đến
nay. Và trên cơ sở đó, phân tích để thấy đợc các giá trị lịch sử- văn hoá của
quần thể di tích Phố Hiến.
- Tìm hiểu về thực trạng quần thể di tích Phố Hiến
- Đề xuất một số giải pháp, nhằm góp phần định hớng công tác bảo
tồn và phát huy tác dụng quần thể di tích Phố Hiến trong giai đoạn hiện nay.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
văn gồm 3 chơng.
Chơng 1: Tổng quan về Phố Hiến.
Chơng 2: Quần thể di tích Phố Hiến - giá trị lịch sử, văn hoá
Chơng 3: Bảo tồn và phát huy tác dụng của quần thể di tích
Phố Hiến trong giai đoạn hiện nay.
Đời nhà Nguyễn năm Gia Long thứ nhất (1802) thuộc về nội Trấn
của Bắc Thành. Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) thành lập tỉnh Hng
Yên gồm 2 phủ, 8 huyện: huyện Đông Yên (Đông An), Kim Động, Phù
Dung (Phù Cừ), Thiên Thi, Tiên Lữ thuộc phủ Khoái Châu (Trấn Sơn
Nam cũ); huyện Thần Khê, Duyên Hà, Hng Nhân thuộc phủ Tiên Hng
(Trấn Nam Định cũ) Phố Hiến là vùng thuộc về huyện Kim Động, phủ
Khoái Châu, tỉnh Hng Yên ...
Trải qua các giai đoạn lịch sử, mặc dù địa giới hành chính của cả n-
ớc nói chung và của tỉnh Hng Yên nói riêng cũng đều có sự thay đổi. Song,
tên tỉnh Hng Yên vẫn đợc giữ nguyên cho đến năm 1968, Nhà nớc Việt
Nam dân chủ cộng hoà nhập 2 tỉnh Hải Dơng và Hng Yên thành tỉnh Hải
Hng.. Đến năm 1997, tỉnh Hng Yên đợc tái lập theo quyết định của chính
phủ nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: tách tỉnh Hải Hng thành 2
tỉnh Hng Yên và Hải Dơng.
Sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ngày 15 tháng 8
năm 1946 Uỷ ban hành chính Bắc Bộ đã ra Nghị định số 1216 về việc thành
lập thị xã Hng Yên tại tỉnh Hng Yên, bắc giáp làng Xích Đằng và Nhân
Dục huyện Kim Động; tây giáp sông Nhị Hà; đông giáp làng Nhân Dục,
Mậu Dơng và Lơng Điền huyện Kim Động; phía nam giáp làng An Vũ
huyện Kim Động, thị xã Hng Yên chia làm hai khu phố là Đẩu Lĩnh và
Đằng Giang. Trải qua các giai đoạn lịch sử, mặc dù đã có nhiều lần địa giới
hành chính của thị xã Hng Yên đợc điều chỉnh để thuận lợi trong việc quản
lý, lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng của nhân dân các vùng tiến hành
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ cũng nh cho việc phát
triển kinh tế xã hội của địa phơng sông tên gọi thị xã Hng Yên vẫn đợc giữ
nguyên. [17], [18], [19], [25], [32], [33].
8
* Ngày nay địa giới của Phố Hiến đợc xác định là vùng đất nằm
hoàn toàn trên địa bàn thị xã Hng Yên - thị xã thủ phủ của tỉnh Hng Yên
(vốn là vùng đất thuộc về tổng An Tảo, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu).
Bán Nguyệt hồ tiền nguyên thị hải
Nhất bình Đẩu ngoại cánh vô sơn
Dịch:
Hồ Bán Nguyệt trớc đây vốn là biển
Ngoài ngọn Đẩu ra không có núi.
(ngọn Đẩu là một gò đất cao, thuộc xã Đào Đặng, huyện Tiên Lữ,
tỉnh Hng Yên ngày nay. Tơng truyền đây vốn là dấu tích Đấu đong quân
thời Hùng Vơng) [42. Tr 2].
Theo lời truyền tụng của dân gian, vùng đất này đợc hình thành từ
rất muộn, nơi đây vốn là một cửa sông lớn đa nớc sông Hồng chạy ra biển.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, trong quá trình lu chuyển của mình sông
Hồng đã để lắng đọng lại đây những lớp phù sa (một phần là đợc đa xuống
từ thợng nguồn, một phần là do quy luật dòng chảy của sông Hồng đã tạo
nên hiện tợng sụt lở bên hữu ngạn để rồi sau đó lại bồi tụ lại bên này tả
ngạn) dần theo thời gian hình thành nên một vùng đất mầu mỡ. Ngời
dân Việt xa từ vùng cao châu thổ phía bắc, thợng nguồn của sông Hồng,
trong quá trình nam tiến của mình dọc theo dòng chảy của sông Hồng, đã
đến vùng đất này khai hoang lập ấp và hình thành nên một vùng quê mới
trù phú, tiền thân của một Phố Hiến sầm uất sau này.
Chúng ta đã xác định đợc vùng đất của tỉnh Hng Yên nói chung có
địa hình dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam với độ dốc 14cm/km. Độ cao đất
đai của toàn tỉnh không đồng đều mà hình thành các dải, các khu, vùng cao
thấp xen kẽ nhau nh làn sóng. Có thể nói, đây chính là minh chứng cho sự
10
bồi tụ của sông Hồng qua hàng nghìn năm lịch sử để hình thành nên đợc
vùng đất này:
Cao độ cao nhất từ +5 đến 7m, chiếm 20%
Cao độ trung bình từ +2,0 đến + 4,5m, chiếm 70%
Cao độ thấp nhất từ +1,2 đến + 1,8m, chiếm 10%
Nơi có độ cao nhất so với mực nớc biển là Thiện Phiến (Tiên Lữ) +
C. Nhiệt độ thấp nhất
vào mùa đông 5,5
o
C. Nhiệt độ trung bình cả năm từ 22 23
o
C. Đặc biệt,
trong tháng 8 và tháng 9 thờng có ma to gió lớn, đây cũng là tháng thờng hay
có bão tuy nhiên bão không đổ bộ trực tiếp vào Phố Hiến do vậy ảnh hởng của
bão không lớn bằng các vùng ven biển. Lợng ma trung bình năm ở đây từ
1500 - 1600mm. Số ngày ma trung bình trong năm khoảng 147 ngày. Lợng
ma nhỏ nhất vào tháng 1 và tăng dần đến tháng 4. Tháng 8 có nhiều ngày ma
và lợng ma nhiều nhất, hàng năm còn có ma phùn từ tháng 11 đến tháng 4.
Tháng 2 và tháng 3 là tháng ma phùn nhiều nhất. Vì vậy khí hậu ở Phố Hiến
nói chung là khá ẩm ớt. Độ ẩm trung bình hàng năm là 86%. Độ ẩm trung
bình trong các tháng đều trên 80%. Độ ẩm không khí và độ ẩm khô hạn ở đây
cao hơn các vùng cùng trong khu vực châu thổ Bắc Bộ.
- Sông ngòi và chế độ nớc: Nằm trong khu vực trung châu thổ Bắc
Bộ, toàn bộ tỉnh Hng Yên đợc bao bọc xung quanh bởi một mạng lới sông
ngòi gồm: Hệ thống sông lớn sông Hồng, sông Luộc và hệ thống sông con
là những nhánh sông của các con sông lớn: sông Cửu An, sông Hoan ái,
sông Kim Ngu, sông Nghĩa Trụ, sông Kẻ Sặt, sông Điện Biên.
Phố Hiến xa đợc hình thành và phát triển là phần lớn chịu sự ảnh h-
ởng của hai con sông lớn: sông Hồng và sông Luộc; Chảy qua Phố Hiến -
thị xã Hng Yên ngày nay còn có sông Hồng và sông Điện Biên.
12
Sông Hồng là con sông khởi nguồn từ Trung Quốc, có tổng chiều
dài là 1.183km. Phần thuộc lãnh thổ Việt Nam là 493km, nơi rộng nhất
là1.300m, hẹp nhất là 400m. Sông Hồng chảy qua Hng Yên khoảng 67km,
tạo thành giới hạn tự nhiên về phía tây của tỉnh. Sông Hồng chảy đến phía
bắc của tỉnh gọi là sông Thiên Mạc, đến Kim Động và thị xã Hng Yên gọi
(Khoái Châu) sang địa phận huyện Kim Động, nối vào sông Cửu An, sau
đó chảy xuống cửa Càn (thị xã Hng Yên). Toàn bộ sông dài trên 20 km.
Đây là con sông nhỏ chảy trong tỉnh chỉ có tác dụng tiêu và cung cấp nớc
cho một số vùng trong tỉnh nơi có sông chảy qua nh Khoái Châu, Ân Thi,
Kim Động, thị xã Hng Yên. [ 32].
1.1.1.3. Về đặc điểm dân c
Những c dân đầu tiên đến vùng đất Phố Hiến chủ yếu là ngời Việt di
c từ vùng cao châu thổ Bắc Bộ, họ tiến dần về phía nam hớng tới ven biển
châu thổ và Phố Hiến là một trong những điểm định c đầu tiên của những
ngời Việt cổ trong quá trình nam tiến, khai hoang các vùng đất mới cho nhu
cầu sinh sống của họ.
Đến thế kỷ thứ XIII vùng đất này có thêm ngời Hoa sang lánh nạn bởi
sự xâm lợc của quân Mông Cổ đối với Trung Quốc (Bấy giờ là nhà Tống) và
lập nên làng Hoa Dơng (Mậu Dơng sau này). Vào thế kỷ XVII tình hình chính
trị ở Trung Quốc không ổn định, nhà Thanh đã thay thế nhà Minh. Những ngời
không thuần phục nhà Thanh đã phiêu bạt xuống phơng nam để lánh nạn, thời
kỳ này ngời Hoa đến Phố Hiến rất đông để lập nghiệp, sinh sống. Trong thời
kỳ phồn thịnh của Phố Hiến (thế kỷ XVII - XVIII) nơi đây còn có thêm ngời
Nhật Bản, Hà Lan, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đến với mục đích
buôn bán, trao đổi hàng hoá và truyền đạo. Họ đã đợc triều đình cho phép lập
thơng điếm và ở tại Phố Hiến để thực hiện công việc của mình.
14
Sang nửa đầu thế kỷ XVIII những ngời ngoại quốc đã lần lợt dời
khỏi Phố Hiến bởi nhiều nguyên do khác nhau, nhng những ngời Trung
Quốc thì còn ở lại. Những ngời Trung Quốc ở đây đợc đồng hoá với ngời
Việt, nhiều ngời sợ sự truy lùng, trả thù của nhà Thanh nên thậm chí đã đổi
sang họ của ngời Việt để dễ dàng sinh sống. Về sau này, do điều kiện làm
ăn ở đây không còn mấy thuận lợi ngời Trung Quốc đã di chuyển đi các
vùng khác trong cả nớc để sinh sống nh: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dơng, Sài
Gòn tuy nhiên hiện nay ở Phố Hiến - thị xã H ng Yên vẫn còn nhiều dòng
cảng ở Thăng Long và đất Bắc đơng thời. Hoạt động kinh tế hàng
hoá đó phát triển trong những năm hoà bình của thế kỷ XV-XVI đã
dẫn tới việc ban hành lệnh lập chợ năm 1474 của Lê Thánh Tông.
Và nếu nh trong bài Thập giới cô hồn quốc ngữ ca , Lê Thánh
Tông mỉa mai giới thơng nhân là:
Lừa đảo nọ xem nào có khác
Ngời ta lại bán đợc ngời ta
thì hơn nửa thế kỷ sau, trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm đã than
vãn về tác động của đồng tiền
Còn bạc còn tiền còn đệ tử
Hết cơm hết gạo hết ông tôi
Chính trên cơ sở một trình độ phát triển nhất định của
kinh tế hàng hoá, vào các thế kỷ XVI XVII, một số đô thị cổ Viêt
Nam đã ra đời [41. Tr 37].
Mặt khác, các t liệu khảo sát thực tế tại Phố Hiến cũng cho chúng ta
thấy rõ điều đó. Cụ thể là tấm bia dựng tại chùa Hiến (Thiên ứng tự) có
niên đại 1625 ghi: Hiến Nam danh thị tứ phơng đô hội tiểu Tràng an dã
16
(Phố Hiến Nam nổi tiếng bốn phơng tụ hội nh là Kinh Kỳ nhỏ vậy) và còn
ghi rõ: thời kỳ này, nơi đây đã có trên 10 phờng trong đó có hai phờng là Phú
Lộc và Phúc Lộc là nơi ở của ngời Hoa kiều. Điều này càng khẳng định Phố
Hiến đã ra đời và phồn thịnh trớc năm 1625 chứ không phải vào năm 1637
hay 1663.
* Về tên gọi Phố Hiến
Theo các nhà nghiên cứu đã từng nghiên cứu về Phố Hiến thì tên gọi
Phố Hiến chỉ là một tên gọi gần gũi với ngôn ngữ dân gian của nơi này,
cũng nh Kinh Kỳ chỉ là một tên gọi dân gian của kinh thành Thăng Long.
Thực tế là trong các tài liệu chính thống của nhà Lê-Trịnh không hề thấy có
tên địa danh Phố Hiến mà để ghi lại địa điểm này ngời ta gọi là Vạn Lai
Triều, tuy nhiên tên gọi này xuất hiện sau tên gọi Phố Hiến. Bia Anh
kinh tế. Nên đến thế kỷ XVI, Phố Hiến đã dần nổi nên nh một đô thị và
cảng buôn trẻ. Nhờ chính sách hợp lý của triều đình, nhờ thu hút đợc vai
trò kích thích của ngoại thơng và đông đảo các khách thơng nớc ngoài,
nhờ sự phát triển của bộ phận kinh tế hàng hoá trên địa bàn phía nam
châu thổ Bắc Bộ, Phố Hiến đã đạt tới sự thịnh vợng bậc nhất của một đô
thị vào thế kỷ XVII, nổi tiếng với câu ca : Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì
Phố Hiến .
Ngời Trung Quốc và ngời Nhật Bản là những ngời ngoại quốc đầu
tiên có mặt ở Phố Hiến, tuy nhiên những dấu tích về sự c trú của ngời Nhật
ở đây còn rất mờ nhạt, trong khi đó ngời Trung Quốc ở đây lại đợc thấy nh
là một bộ phận không thể thiếu của đô thị cổ Phố Hiến. Trong suốt quá
trình hình thành và phát triển của Phố Hiến luôn có mặt của ngời ngời Hoa,
dấu ấn của họ in đậm nét trong các di tích hiện còn và trong đời sống sinh
hoạt văn hoá tín ngỡng.
18
Các tài liệu lịch sử nh:Đại Việt sử ký toàn th, Đại Nam nhất
thống chí đều cho biết từ thế kỷ XIII đã có ngời Trung Quốc sang lánh nạn
ở Phố Hiến và cùng với ngời bản địa ở nơi đây xây dựng nên làng Hoa Dơng
[17]. Điều này còn đợc ghi lại trong các t liệu thần tích, thần phả của đền Mẫu
(thờ Dơng Quý Phi nhà Tống) và ở đình Hiến (thờ Quan thái giám họ Du).
Mặt khác, tình hình nổi loạn ở Trung Quốc giữa thế kỷ XVII càng tạo điều
kiện cho ngời Trung Quốc phiêu bạt xuống phơng nam ngày càng đông. Họ
đã theo thuyền xuống Phố Hiến và nhiều ngời đã ở lại đây. Gia phả các dòng
họ Tiết, họ Lâm, họ Hoàng ở thị xã Hng Yên hiện nay đã chứng tỏ điều
đó. Với những xóm làng tụ c ngày càng đông, chợ và bến buôn bán cũng xuất
hiện. ở các thế kỷ XVI - XVII, sự giao lu buôn bán giữa các nớc ở vùng biển
Đông ngày càng trở lên nhộn nhịp. Các thơng nhân Trung Quốc, Nhật Bản và
sau đó, Bồ Đào Nha, Hà Lan đến bờ biển Việt Nam ngày càng nhiều. Mà, nhà
Lê - Trịnh thì chủ trơng ngăn cấm việc ra vào tự do của ngoại kiều ở kinh đô,
cho nên Phố Hiến đã trở thành một nơi trú chân quan trọng của thơng nhân n-
động thơng mại nhộn nhịp, tấp nập thì vùng này nhanh chóng phát triển
thành một thị trấn có dinh thự, đồn quan và số ngời đến đây buôn bán làm
ăn ngày càng đông, lập nên các phố, phờng. Hai tấm bia cổ của Phố Hiến:
bia của chùa Hiến (1625) và bia của chùa Chuông (1771) có ghi tên trên 20
phờng của Phố Hiến. Đó là các phờng:
1. Phờng Đê cũ (Cựu đê thị)
2. Phờng Ngoài đê (Ngoại đê thị)
3. Phờng Trong đê mới (Thuỷ đê nội thị)
4. Phờng Cửu sông (Hà khẩu thị)
5. Phờng Bia hậu (Hậu bi thị)
20
6. Phờng Thuỷ giang nội (Thuỷ giang nội thị)
7. Phờng Thuỷ giang ngoại (Thuỷ giang ngoại thị)
8. Phờng Hàng thịt (Hành nhục phờng)
9. Phờng Vạn mới (Vạn mới phờng)
10. Phờng Hàng sứ (Hàng sứ phờng)
11. Phờng nồi đất (Thổ oa thị)
12. Phờng Thợ Nhuộm (Nhiễm Tác phờng)
13. Phờng Hàng cau (Mộc lang phờng)
14. Phờng Hàng chén (Hàng chén thị)
15. Phờng Hàng cá (Hàng cá phờng).
16. Phờng Thuộc da (Thuộc bì thị).
17. Phờng Hàng nón (Hoa lập thị).
18. Phờng Hàng sơn (Hàng sơn phờng)
19. Phờng Cửa cái (Cửa cái phờng).
20. Phờng Hàng bè (Hàng bè phờng).
Trong số 20 phờng còn xác định đợc qua hai tấm bia
chúng ta thấy: Những phờng Ngoài Đê, Vạn Mới, Hàng Cá,
Cửa Cái ... tác giả để nguyên tên nôm thực của chúng. Điều
này chứng tỏ rằng đó là những phờng của ngời Việt. Trong số
đóng cửa và hàng dệt, đồ sứ nổi tiếng ở Trung Quốc đợc xuất khẩu sang
nhiều nớc. Các nớc phơng Tây đi vào con đờng công nghiệp hoá với nền
sản xuất ngày càng tăng tiến. Trong tình hình mới đó, các hàng tơ lụa, gốm
22
sứ cùng với nền kinh tế chậm tiến của Việt Nam không còn sức hấp dẫn với
thơng thuyền nớc ngoài và cũng không thể cạnh tranh với các nớc. Quan hệ
quốc tế đã chuyển sang thời kỳ xâm nhập và xâm lợc của các nớc t bản ph-
ơng Tây đối với các nớc phơng Đông. Tác dụng của hệ thống thơng mại á -
Đông đối với Phố Hiến, cũng nh các thơng cảng của Việt Nam không còn
nữa. Đó chính là những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy tàn của Phố
Hiến.
1.2. quần thể di tích Phố Hiến.
Trong hoàn cảnh cụ thể của mình, Phố Hiến đã phải chịu những tác
động nặng nề của những điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, và đời sống
c dân để đến chỗ suy giảm. Tuy nhiên trong thời kỳ thịnh đạt của Phố
Hiến - vừa là một tiền cảng của Thăng Long, vừa là một trung tâm mậu
dịch đối ngoại lớn nhất của Đàng ngoài. Trong quá trình cùng chung sống,
những ngời Việt, Trung Quốc và ngời Nhật Bản, Hà Lan, Anh, Pháp, Tây
Ban Nha, Bồ Đào Nha đã mang đến những nét văn hoá đặc trng của
mỗi vùng, mỗi miền tạo cho nơi đây một vẻ đặc sắc. Song song với sự phát
triển này là sự ra đời và phát triển của các kiến trúc nghệ thuật: Đình, đền,
chùa, miếu, nhà thờ - cái phục vụ cho đời sống tinh thần của mọi tầng lớp
ngời dân Phố Hiến
Khi nói đến quần thể di tích Phố Hiến ngời ta thờng đề cập tới 3
mảng chính, đó là: Những khu phố cổ, thơng điếm của ngời nớc ngoài đã
từng đến buôn bán ở Phố Hiến và các công trình tôn giáo tín ngỡng. Tuy
nhiên hiện nay những dấu vết về các thành quách, những khu phố cổ, nhà
dân, thơng điếm và các cơ sở sản xuất thủ công đánh dấu một thời kỳ vàng
son của Phố Hiến còn lại rất ít và mờ nhạt. Song, cái hiện còn nơi đây là
các công trình gắn với tôn giáo tín ngỡng - một quần thể kiến trúc độc đáo
--------------
2.1. Quần thể di tích Phố Hiến - một nguồn sử liệu phong phú
"Các di tích lịch sử và văn hoá là những dấu vết của thời đại.
Thời đại nào với trình độ phát triển kinh tế văn hoá nh thế nào, đều có
thể nhìn thấy khá rõ trong các di tích. Di tích chính là những tấm gơng
của lịch sử" [27. Tr 15]
Các di tích ở thị xã Hng Yên đóng vai trò quan trọng trong việc
tìm hiểu, nghiên cứu về Phố Hiến một cách trực quan, sinh động nhất.
Đó là các công trình tôn giáo, tín ngỡng của c dân hơn 50 vùng quê rải
rác khắp miền đất nớc và c dân nớc ngoài. Trong số đó nhiều công trình
còn mang dấu ấn kiến trúc thế kỷ XVII - XVIII. Các di tích này có giá trị
lịch sử khoa học và nghệ thuật lớn. Nét kiến trúc mỹ thuật của từng di
tích đều góp phần vào việc chứng nhận làm sáng tỏ các giai đoạn, các
thời kỳ lịch sử, là cơ sở để các nhà khoa học nghiên cứu về lịch sử, văn
hoá, kiến trúc, mỹ thuật, dân tộc, xã hội của Việt Nam nói chung và Phố
Hiến nói riêng.
Các di tích tôn giáo, tín ngỡng của Phố Hiến ngoài mang những giá
trị nghệ thuật độc đáo, trong nó còn chứa đựng hàng trăm bia ký, hàng
nghìn cổ vật và các văn bản Hán Nôm:
Theo thống kê của Bảo tàng Hải Hng (tháng 9/1992): Qua kết quả
khảo sát tại 42 di tích trong quần thể di tích Phố Hiến đã tìm đợc:74 bia đá,
đây không chỉ là những văn bản quan trọng có niên đại tuyệt đối mà còn là
những tác phẩm điêu khắc của những thế kỷ trớc. Trong số những bia đã đ-
ợc nghiên cứu, có 4 bia khắc đợc dựng ở những thế kỷ XVII, sớm nhất là
25