Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng tỉnh Nghệ An - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN NHU CẦU TIẾP NHẬN THÔNG TIN
BÁO CHÍ CỦA CÔNG CHÚNG HIỆN NAY
(Khảo sát công chúng tỉnh Nghệ An)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội-2014
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN
4

LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại 3 địa phương thuộc tỉnh Nghệ An, TP.Vinh,
huyện Nghi Lộc, huyện Kỳ Sơn. Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận
được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Thoa đã
hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem
lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong khóa học K14 Báo chí Sau
Đại học thời gian vừa qua.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau
đại học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,, Ban Chủ nhiệm khoa Báo chí và
Truyền thông đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn
bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
của mình.
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2014
Nguyễn Thị Hoàng Yến

CHƢƠNG 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KÍCH THÍCH NHU CẦU VÀ CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN
TIẾP NHẬN BÁO CHÍ CỦA CÔNG CHÚNG 86
3.1. Nhóm giải pháp chung 86
3.2 Nhóm giải pháp chuyên môn 95
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

6

DANH SÁCH SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1 Những nghiên cứu của xã hội học truyền thông đại chúng 20
Bảng 2.1: Điều kiện xã hội của công chúng Nghệ An 51
Bảng 2.2: Địa điểm đọc báo in của công chúng Nghệ An 54
Bảng 2.3: Địa điểm theo dõi báo truyền hình của công chúng Nghệ An 58
Bảng 2.4: Tần suất tiếp nhận thông tin báo in của công chúng Nghệ An 61
Bảng 2.5: Tần suất tiếp nhận thông tin báo truyền hình của công chúng Nghệ An 64
Bảng 2.6: Mức độ quan tâm nội dung báo in của công chúng Nghệ An 69
Bảng 2.7: Mức độ quan tâm nội dung báo truyền hình của công chúng Nghệ An74
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu điều kiện xã hội của công chúng T.p Vinh 51
Biểu đồ 2.2:Cơ cấu điều kiện xã hội của công chúng huyện Nghi Lộc 52
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu điều kiện xã hội của công chúng huyện Kỳ Sơn 52
Biểu đồ 2.4:Cơ cấu địa điểm đọc báo in của công chúng T.p Vinh 54
Biểu đồ 2.5:Cơ cấu địa điểm đọc báo in của công chúng huyện Nghi Lộc 55
Biểu đồ 2.6:Cơ cấu địa điểm đọc báo in của công chúng huyện Kỳ Sơn 55
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu địa điểm theo dõi báo truyền hình của công chúng T.p Vinh 58
Biểu đồ 2.8: Cơ cấu địa điểm theo dõi báo truyền hình của công chúng huyện Nghi Lộc 59

Ủy ban nhân dân
T.p
Thành phố
SPBC
Sản phẩm báo chí
TTĐC
Thông tin đại chúng
VTV
Đài Truyền hình Việt Nam
NTV
Đài Phát thanh Truyền hình Nghệ An
CCBC
Công chúng báo chí
PTTTĐC
Phƣơng tiện truyền thông đại chúng
ĐHKHXHNVHN
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

đó, để có thể chiếm lĩnh đƣợc thị trƣờng thu hút đƣợc đông đảo độc giả thì bắt
buộc những ngƣời làm báo phải hiểu thị hiếu thông tin của công chúng. Để đạt
đƣợc điều này chỉ có thể thông qua hoạt động nghiên cứu hành vi độc giả đọc
báo.
Có thể nhận thấy hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội đời
sống vật chất tinh thần của ngƣời dân đƣợc nâng cao thì nhu cầu về thông tin
giải trí của ngƣời dân cũng ngày một tăng. Để đáp ứng nhu cầu này của ngƣời
dân các phƣơng tiện thông tin đã không ngừng cải tiến và phát triển nhằm thoả
mãn tốt hơn nhu cầu của công chúng, trong đó có báo chí. Tuy nhiên, báo chí
vẫn chƣa thực sự thoả mãn tốt đƣợc nhu cầu của bạn đọc, về mặt nội dung và
hình thức cũng nhƣ trong khâu phát hành còn có những hạn chế nhất định. Đây
là một vấn đề mà tất cả những ngƣời làm báo cần phải quan tâm và tìm cách
khắc phục. Mỗi tờ báo trên thị trƣờng đều có độc giả của mình, mục tiêu của
ngƣời làm báo là tăng đƣợc số lƣợng độc giả của mình. Để làm đƣợc điều này,
chỉ có cách duy nhất là thoả mãn tốt đƣợc nhu cầu của bạn đọc. Câu hỏi này
chỉ có thể trả lời đƣợc thông qua nghiên cứu nhu cầu công chúng.
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất nƣớc, với số dân đông. Tại Nghệ An
có các cơ quan báo chí trung ƣơng (văn phòng đại diện), và báo chí của tỉnh.
Với vị trí nhƣ vậy, tỉnh Nghệ An đƣợc coi là nơi lý tƣởng đã tiến hành các cuộc
nghiên cứu.
Việc khảo sát nhu cầu tiếp nhận thông tin, của các bộ phận công chúng
nhất định, ở khía cạnh định lƣợng và định tính, có sơ sở khoa học, khách quan,
cụ thể…là một nhu cầu cấp thiết đối với không chỉ với các cơ quan báo chí, mà
còn với cả các cấp quản lý Nhà nƣớc trên lĩnh vực văn hoá. Chính vì thế, tôi
chọn “Nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng Nghệ An” làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ báo chí học của mình.

6
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu công chúng truyền thông đã đƣợc tiến hành từ lâu và thƣờng

hóa, và trở thành một thứ ma túy làm cho mọi ngƣời chỉ biết làm theo ngƣời
khác và không còn tƣ duy độc lập và óc phê phán.
Ngƣời ta thƣờng gọi quan điểm của các nhà nghiên cứu theo khuynh hƣớng
này là quan điểm theo mô hình “mũi kim tiêm” (hypodermic-needle model). Các
nhà xã hội học theo khuynh hƣớng này cho rằng quá trình công nghiệp hóa đã tiêu
diệt những mối liên hệ giữa ngƣời và ngƣời vốn tồn tại trong những cộng đồng
truyền thống, tiền công nghiệp. Điều này dẫn tới hậu quả là hình thành nên một
thứ “xã hội đại chúng” trong đó các cá nhân sống rời rạc nhau, không còn một
chỗ dựa đáng tin cậy của cộng đồng cũ nữa, và trong bối cảnh mất phƣơng hƣớng
đó, chỗ dựa mới duy nhất của họ là các phƣơng tiện truyền thông đại chúng. Họ
cho rằng xã hội đại chúng đã sản sinh ra những cá nhân không còn khả năng đề
kháng trƣớc sức thuyết phục của truyền thông đại chúng. Những thông điệp của
các phƣơng tiện truyền thông đƣợc “chích” vào cơ thể con ngƣời cũng dễ dàng
nhƣ chích thuốc bằng một mũi kim tiêm vậy.
Giai đoạn phát triển thứ hai trong quá trình nghiên cứu về truyền thông đại
chúng là từ khoảng năm 1940 tới đầu những năm 1960. Đặc điểm của giai đoạn
này là bắt đầu xuất hiện quan điểm đánh giá bớt bi quan hơn về vai trò của các
phƣơng tiện truyền thông đại chúng. Một số công trình điều tra ở Mỹ về ảnh
hƣởng của các phƣơng tiện truyền thông đối với việc bầu cử và đối với sự chọn
lựa của ngƣời tiêu dùng đã chứng minh cho thấy truyền thông đại chúng ít có
hoặc thậm chí không có tác động trực tiếp đối với thái độ và ứng xử của ngƣời
dân. Trái ngƣợc với lập luận của các nhà nghiên cứu trong giai đoạn đầu nói
trên (vốn cho rằng truyền thông đại chúng có tác động trực tiếp giống nhƣ một
mũi kim chích), lúc này, ngƣời ta chỉ nói tới những tác động gián tiếp, thông
qua nhiều bƣớc trung gian. Khi phân tích ảnh hƣởng của truyền thông đại
chúng, các nhà xã hội học thời kỳ này chú ý nhấn mạnh đến vai trò của các
nhóm xã hội (nhƣ bạn bè, gia đình, hàng xóm, những ngƣời “hƣớng dẫn dƣ
8
luận” – opinion leaders) : các thông điệp của các phƣơng tiện truyền thông đại
chúng thƣờng đƣợc “lọc” qua những kênh đó rồi mới đi tới cá nhân. Ngƣời ta

Ở hƣớng thứ nhất, PGS. TS Mai Quỳnh Nam đã công bố nhiều công trình
nghiên cứu liên quan tới công chúng học - một chuyên ngành nhỏ và mới của
xã hội học Việt Nam, dựa trên mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dƣ
luận xã hội.
Trong tác phẩm Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo, quản lý
(Vũ Đình Hòe chủ biên, 2000), các tác giả đã làm rõ mối quan hệ giữa các
phƣơng tiện truyền thông đại chúng với các đối tƣợng phục vụ là đông đảo nhân
dân; quá trình tiếp nhận thông tin của công chúng – đối tƣợng qua năm bƣớc.
Chuyên sâu hơn, Xã hội học báo chí của Trần Hữu Quang (2006) là công
trình nghiên cứu tƣơng đối toàn diện, có hệ thống, trực tiếp về lĩnh vực xã hội
học báo chí ở nƣớc ta. Tác giả trình bày có hệ thống cách tiếp cận xã hội học
đối với các quá trình truyền thông, đối với nghề báo, những quan điểm và
phƣơng pháp nghiên cứu xã hội học về công chúng và nội dung truyền thông
về ảnh hƣởng xã hội của truyền thông đại chúng. Đây là công trình đầu tiên ở
trong nƣớc đề cập trực tiếp, chuyên sâu về xã hội học báo chí.
Ở hƣớng nghiên cứu thứ 2, những nghiên cứu, khảo sát thực nghiệm đƣợc
áp dụng nhiều hơn.
Ở góc độ xã hội học, nghiên cứu truyền thông đại chúng gần đây thƣờng
tập trung vào hƣớng nghiên cứu công chúng. Ngƣời ta nhất trí rằng, các nhà xã
hội học đã có những đóng góp đáng kể trong hoạt động nghiên cứu truyền
thông đại chúng ở nƣớc ta, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Viện Xã
hội học. Cụ thể, nghiên cứu lý thuyết về xã hội học công chúng có PGS TS
Mai Quỳnh Nam (Dƣ luận xã hội –Mấy vấn đề lý luận và phƣơng pháp nghiên
cứu, Tạp chí Xã hội học, số 1/1995, tr.3-8; Truyền thông đại chúng và dƣ luận
xã hội, Tạp chí Xã hội học, số 1/1996, tr.3-7; Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả
truyền thông đại chúng, Tạp chí Xã hội học, số 4/2001, tr.21-25)…, PGS Trần
Hữu Quang (Xã hội học báo chí, Nxb Trẻ 2006), Nguyễn Quý Thanh (Xã hội
10
học về dƣ luận xã hội, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội, 2008) Trong đó, PGS TS
Mai Quỳnh Nam đã chỉ ra mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dƣ luận

trường hợp thành phố Hồ Chí Minh của Trần Hữu Quang (1998) và Nhu cầu
tiếp nhận thông tin báo chí của Trần Bá Dung (2007) là hai công trình mang
tính đại diện về nghiên cứu công chúng truyền thông tại hai thành phố lớn Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Một số luận văn thạc sỹ về công chúng truyền thông, nghiên cứu một
nhóm công chúng đặc trƣng nhƣ: Nhu cầu đọc báo của sinh viên Thành phố Hồ
Chí Minh (Bành Tƣờng Chân, 1999) nghiên cứu nhu cầu sinh viên với Báo in,
Sinh viên Hà Nội và truyền thông đại chúng của Lý Hoàng Ngân (2000), Công
chúng Hà Nội với việc đọc báo in và báo điện tử của Nguyễn Thu Giang
12/2007,Tốt nghiệp thạc sĩ Khoa Báo chí – Truyền thông, ĐHKHXH&NV Hà
Nội. Những công trình nghiên cứu này đã đi sâu nghiên cứu đặc điểm công
chúng ở một số địa phƣơng tiêu biểu, góp phần tổng quan về công chúng
truyền thông cả nƣớc.
Nhìn chung, trên cả hai hƣớng nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực
nghiệm, giới nghiên cứu truyền thông trên thế giới và Việt Nam đã tiếp cận
dƣới nhiều góc độ, nhiều quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu, đều đề cao
vai trò tác động tích cực trở lại của công chúng đối với truyền thông; đề cao
việc nghiên cứu công chúng - đối tƣợng tác động của truyền thông; coi đây là
một bộ phận, một khâu không thể thiếu trong khi nghiên cứu truyền thông đại
chúng nhƣ một quá trình; là hoạt động có ý nghĩa sống còn đối với các cơ quan
truyền thông trên phƣơng diện hoạch định chiến lƣợc phát triển cũng nhƣ
phƣơng diện tác nghiệp hằng ngày.
Ở Việt Nam, rất ít những công trình nghiên cứu tác động của cả 4 loại hình
báo chí tới tất cả các nhóm công chúng có tính đại diện, nhất là từ khi xuất hiện
loại hình báo mạng điện tử - internet. Các công trình thƣờng chỉ nghiên cứu riêng
rẽ tác động của từng loại hình báo chí (báo in, truyền hình, phát thanh ). Mặt
12
khác, ý nghĩa của việc nghiên cứu công chúng và thực tế nghiên cứu ở Việt Nam,
là những gợi mở ban đầu đối với chúng tôi khi chọn nghiên cứu vấn đề này. Tuy
nhiên, hầu nhƣ chƣa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận nghiên cứu công

huyện Nghi Lộc (huyện trung du, ven biển), và huyện Kỳ Sơn (huyện miền núi
giáp biên giới CHDCND Lào).
Số lƣợng khảo sát ý kiến cho đề tài: 500 ngƣời.
Đề tài giới hạn phạm vi trong một khâu trong mô hình truyền thông. Đó là
tập trung nghiên cứu khâu ngƣời nhận thông tin (receiver). Qua đó, phân tích
mối quan hệ khác có liên quan ngƣời nhận nhƣ: nguồn (source), thông điệp
(message), kênh (channel), hiệu quả (effect).
Đề tài khảo sát nhu cầu tiếp nhận, mô thức tiếp nhận thông tin của công
chúng đối với 2 loại hình báo chí: báo in và báo truyền hình.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu
Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài “Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí công
chúng tỉnh Nghệ An” là dựa trên chủ trƣơng, quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc
về báo chí và lý thuyết khoa học liên ngành nhƣ: xã hội học về truyền thông,
tâm lý học, truyền thông đại chúng.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu đã nêu phần trên, chúng tôi sử dụng các phƣơng
pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản.
- -Khảo sát hoạt động thông tin tuyên truyền hiện nay của các cơ quan
truyền thông đại chúng trên địa bàn tỉnh Nghệ An (báo in và báo truyền
hình).
- Để khảo sát nội dung các chƣơng trình truyền hình và trên các tờ báo,
chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp cụ thể sau:
 Phƣơng pháp thống kê.
 Phƣơng pháp phân tích.
14
 Phƣơng pháp tổng hợp.
- Nhóm phƣơng pháp điều tra xã hội học:
 Phƣơng pháp điều tra xã hội học: bảng hỏi.

Truyền thông (Communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền
thông là một kiểu tƣơng tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tƣơng tác
lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin đƣợc
truyền từ ngƣời gửi tới ngƣời nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi
liên kết ngƣời gửi và ngƣời nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá
trình tạo khả năng để một ngƣời hiểu những gì ngƣời khác nói (ra hiệu, hay
viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tƣợng, và học đƣợc cú pháp
của ngôn ngữ.
Cũng có thể hiểu “Truyền thông là hoạt động truyền phát và trao đổi
thông tin giữa người với người nhằm đạt được sự hiểu biết và tạo ra sự giao
tiếp, liên kết xã hội”.[12]
Truyền thông thƣờng gồm ba phần chính: nội dung, hình thức và mục
tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm,
hiểu biết, đƣa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này
đƣợc thể hiện qua nhiều hình thức nhƣ động tác, bài phát biểu, bài viết, hay
bản tin truyền hình. Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí
là chính ngƣời/tổ chức gửi đi thông tin.
Có nhiều cách định nghĩa về truyền thông, trong đó truyền thông không
bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tƣợng. Truyền thông
không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ. Khoảng 93%
“ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận đƣợc từ ngƣời khác là qua nét mặt
và tông giọng. 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe đƣợc. Truyền
thông bằng lời đƣợc thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ
16
tới ngƣời khác. Truyền thông biểu tƣợng là những thứ chúng ta đã định sẵn
một ý nghĩa và thể hiện một ý tƣởng nhất định, ví dụ nhƣ quốc huy của một
quốc gia.
Có 3 loại truyền thông:
- Truyền thông liên cá nhân: là sự chia sẻ giữa ngƣời này với ngƣời khác
về tất cả các lĩnh vực trong đời sống hằng ngày. Tâm tƣ tình cảm, các vấn đề

hình, internet, quảng cáo, các loại băng, đĩa âm thanh, hình ảnh… đã trở thành
nhu cầu “không thể thiếu” trong đời sống của đại đa số ngƣời dân trên toàn
cầu. Theo thống kê mới nhất của Hiệp hội Xuất bản – Báo chí thế giới (WAN-
IFRA), hơn 3 tỷ ngƣời, hoặc 72% số ngƣời lớn biết chữ trên toàn thế giới đọc,
theo dõi thƣờng xuyên các phƣơng tiện thông tin đại chúng. [62]
Truyền thông đại chúng có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội
hiện nay. Nó đã tăng cƣờng và phát triển dân chủ hóa các mặt của đời sống xã
hội; tổ chức và động viên nhân dân tham gia vào các hoạt động quản lý xã hội,
thông tin cho nhân dân về tình trạng của dƣ luận xã hội trên các vấn đề đang
tạo nên mối quan tâm chung của toàn thể xã hội, nhất là các vấn đề có tính cấp
bách; tác động lên các thiết chế xã hội và đề xuất các phƣơng án hoạt động;
hình thành dƣ luận xã hội về một vấn đề nào đó nhằm thúc đẩy hoặc hạn chế sự
phát triển của thực tế đó; xây dựng lòng tin, thế giới quan và ý thức quần
chúng; điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong xã hội, làm tăng cƣờng tính
tích cực chính trị - xã hội của quần chúng. Nhƣ vậy, bằng việc chọn lọc, nhấn
mạnh, giải thích các sự kiện đặc biệt, cung cấp thông tin tới đối tƣợng tiếp
nhận qua các kênh, khuyến khích dƣ luận đóng góp ý kiến, tiếng nói của cá
nhân mình về các vấn đề đƣa ra, truyền thông đại chúng đã tác động vào dƣ
luận xã hội bằng hai con đƣờng: tình cảm và lý trí.
18
Việc truyền tải thông tin trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng đòi
hỏi lƣơng tâm của những ngƣời phát ngôn. Họ có quyền tự do báo chí, song
không vì thế mà cố ý gieo rắc những thông tin sai lệch làm tổn hại đến danh dự
và nhân phẩm của cá nhân, kích động, gây thù hằn giữa các nƣớc, dân tộc, tôn
giáo, xâm phạm đời tƣ cá nhân…Việc một tờ báo Đan Mạch Jyllands-Posten
đăng tải bức tranh biếm họa của nhà tiên tri Mohamed vào ngày 30-10-2005 là
hành động đăng tin thiếu trách nhiệm, vì nó đã làm bùng phát làn sóng phản
đối trong thế giới Hồi giáo, khiến quan hệ giữa phƣơng Tây với thế giới Hồi
giáo bị ảnh hƣởng nghiêm trọng, biểu tình và bạo lực chết ngƣời cũng xảy ra
khắp nơi. Những ngƣời chống đối bức tranh này cho rằng, nó đã sỉ nhục và

của thế giới khách quan và các hoạt động của con ngƣời trong đời sống xã hội.
Điều cơ bản là con ngƣời thông qua việc thu nhận thông tin làm tăng hiểu biết
cho mình và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng.
Thông tin báo chí là thông tin đƣợc truyền tải trên các phƣơng tiện báo
chí, là những gì mang lại sự hiểu biết cho chúng ta thông qua báo chí. Xă hội
càng phát triển thì nhu cầu thông tin ngày càng cao, phong phú và đa dạng. Tuy
nhiên, thông tin báo chí đòi hỏi phải chính xác, đầy đủ và cập nhật kịp thời.
1.1.3. Xã hội học về truyền thông đại chúng
Xã hội học về truyền thông đại chúng thƣờng phân biệt mấy lĩnh vực
nghiên cứu chính nhƣ sau:
- Nghiên cứu về công chúng của các phƣơng tiện truyền thông đại
chúng;
- Nghiên cứu về các tổ chức truyền thông và hoạt động của các nhà
truyền thông
- Phân tích nội dung các thông điệp truyền thông;
20
- Nghiên cứu về ảnh hƣởng hay tác động xã hội của các phƣơng tiện
truyền thông đại chúng.
Mục tiêu của xã hội học về công chúng là:
- Đối tƣợng, chức năng, quá trình hình thành và phát triển truyền thông
đại chúng
- Các hƣớng tiếp cận, một số quan điểm lý luận và kết quả thực nghiệm
trong nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng
- Những ảnh hƣởng của truyền thông đại chúng đến đời sống xã hội,
- Điều tra và khảo sát để hiểu công chúng là ai, thuộc những tầng lớp
nào, họ theo dõi các phƣơng tiện thông tin đại chúng nào nhiều nhất, đọc báo
hoặc xem ti-vi có thƣờng xuyên hay không, họ có phản ứng hoặc thái độ thế
nào đối với báo chí, rađiô và ti-vi Nói chung, mục tiêu là tìm hiểu xem các
giới công chúng khác nhau tiếp nhận và sử dụng các phƣơng tiện truyền thông
đại chúng nhƣ thế nào.

truyền thông
Phân tích nội
dung truyền
thông ( thực
nghiệm và tín
hiệu học)
Ảnh hƣởng
xã hội
Nghiên cứu
về ảnh hƣởng
xã hội của
truyền thông
đại chúng
21
khảo sát và phân tích dƣới góc độ định chế xã hội. Một trong những nhiệm vụ
quan trọng nhất của ngành xã hội học trong lĩnh vực này là tìm cách làm sáng
tỏ mối liên hệ giữa truyền thông đại chúng và xã hội. Xã hội học về truyền
thông đại chúng là một bộ môn chuyên phân tích về hiện tượng truyền thông
đại chúng và ý nghĩa của truyền thông đại chúng đối với cuộc sống của xã hội.
Trong bộ môn xã hội học về truyền thông đại chúng, ngƣời ta thƣờng
xuyên phân biệt mấy lĩnh vực nghiên cứu chính nhƣ: nghiên cứu về công
chúng của các phƣơng tiện truyền thông đại chúng (khảo sát về các đặc điểm
và ứng xử của giới độc giả và khán thính giả của báo chí, phát thanh, truyền
hình); nghiên cứu về các tổ chức truyền thông và hoạt động của các nhà truyền
thông; phân tích nội dung các thông điệp truyền thông (bao gồm hai phƣơng
pháp chính là phƣơng pháp thực nghiệm và phƣơng pháp phân tích tín hiệu
học); nghiên cứu về ảnh hƣởng hay tác động xã hội của các phƣơng tiện truyền
thông đại chúng.
Trong các lĩnh vực nghiên cứu đó, thì những công trình nghiên cứu về
ảnh hƣởng xã hội của truyền thông đại chúng thƣờng đƣợc chú ý và gây ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status