520 Những giải pháp đẩy mạnh hoạt động Logistics trong giao nhận vận tải Quốc tế bằng đường biển tại Tp. Đà Nẵng  - Pdf 25

Mục lục
Trang
Mở đầu
Chương 1/ Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động Logistics trong giao nhận
vận tải quốc tế.........................................................................................................1
1.1. Cơ sở lý luận về hoạt động Logistics trong giao nhận vận tải quốc tế .............1
1.1.1. Giới thiệu về giao nhận vận tải quốc tế đường biển ......................................1
1.1.2. Logistics trong giao nhận vận tải ...................................................................2
1.2. Hoạt động Logistics trong giao nhận vận tải quốc tế trên thế giới. ..................6
1.2.1. Sự ra đời của các tổ chức giao nhận vận tải quốc tế......................................6
1.2.2. Quản lý hoạt động logistics trên thế giới ......................................................7
1.2.3. Logistics ở các nước trên thế giới..................................................................8
1.2.4. Kinh nghiệm phát triển Logistics ở các nước trong khu vực.........................10
1.3. Hoạt động Logistics và chiến lược kinh tế đối ngoại của Việt Nam ................14
1.3.1. Hoạt động Logistics của Việt Nam................................................................14
1.3.2. Chiến lược kinh tế hướng ngoại.....................................................................17
Kết luận chương 1....................................................................................................19
Chương 2/ Tình hình hoạt động Logistics đường biển tại Tp. Đà Nẵng...........21
2.1. Sơ lược quá trình kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế đường biển...21
2.1.1. Cơ cấu tổ chức của Cảng Đà nẵng................................................................21
2.1.2. Sơ lược quá trình phát triển dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế......................22
2.2. Thực trạng kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế đường biển.............25
2.2.1. Hệ thống cảng biển và tình hình khai thác cảng ............................................25
2.2.2. Dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế..................................................................28
2.2.3. Hoạt động Logistics trong giao nhận vận tải tại Đà Nẵng.............................38
2.2.4. Những đánh giá chung về hoạt động Logistics trong giao nhận vận tải
quốc tế tại Đà Nẵng..................................................................................................45
Kết luận chương 2....................................................................................................50
Chương 3: Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động Logistics trong giao nhận
vận tải đường biển tại Tp.Đà Nẵng ......................................................................51


Trong xu thế hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, việc giao lưu trao đổi hàng
hóa giữa các nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ, kéo theo những nhu cầu mới về vận
tải, kho bãi, các dịch vụ phụ trợ ... Các quốc gia có bờ biển dài và sâu, thuận tiện
cho tàu thuyền lớn neo đậu sẽ trở thành trung tâm giao lưu hàng hóa như Singapore,
Hồng Kông, Nhật Bản, Hà Lan…. Ở những nước này, ngành giao nhận vận tải đã
phát triển vượt bậc và đóng góp không nhỏ vào GDP của đất nước. Thêm vào đó,
công nghệ thông tin phát triển đã giúp cho ngành giao nhận vận tải hợp lý hóa dây
chuyền vận chuyển và phát triển dịch vụ này ở cấp độ cao hơn: dịch vụ Logistics.
Đà Nẵng là một thành phố biển với độ sâu trung bình Cảng Tiên Sa là 12m và
nằm ở trung tâm của đất nước và là ngã ba giao thương giữa khu vực Châu Á-Thái
Bình Dương, rất thuận tiện cho tàu bè qua lại. Mặt khác, khi Việt Nam hoàn toàn
hội nhập vào nền kinh tế khu vực các nước ASEAN và gia nhập WTO, nhu cầu về
trao đổi hàng hóa sẽ rất lớn. Khi đó, dịch vụ giao nhận vận tải sẽ trở thành một
trong những ngành kinh doanh rất phát triển và mang lại nguồn thu lớn cho Thành
phố.
Nhưng cho đến nay, ngành giao nhận vận tải của Đà Nẵng vẫn chưa thực sự phát
triển tương xứng với khả năng của nó. Các cấp và ban ngành lãnh đạo cũng đang rất
quan tâm đến lĩnh vực hoạt động này, nhưng vẫn chưa có một công trình nghiên cứu
nào để có những giải pháp chiến lược nhằm tận dụng những lợi thế sẵn có của thành
phố, nghiên cứu ứng dụng những các phương pháp giao nhận vận tải hiện đại trên
thế giới để phục vụ và thúc đẩy ngoại thương phát triển. Nếu có chỉ là những công
trình nghiên cứu đơn thuần về kỹ thuật như hạ tầng cảng biển, tàu thuyền…, những
chiến lược vận tải và dự án nâng cấp cải tạo CSHT cảng biển.
Chính vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Những giải pháp đẩy mạnh hoạt
động Logistics trong giao nhận vận tải quốc tế bằng đường biển tại Tp.Đà Nẵng”.
Luận án sẽ đi sâu vào phân tích thực trạng ngành giao nhận vận tải quốc tế bằng

3
đường biển, từ đó đưa ra những giải pháp chiến lược nhằm đẩy mạnh sự phát triển
dịch vụ Logistics tại thành phố Đà Nẵng.

nước, giữa thị trường trong nước và nước ngoài.
- Luận án sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, dự báo và
những phương pháp toán học đơn giản để tiếp cận vấn đề. Đặc biệt, luận án chú
trọng đến việc sử dụng phương pháp chuyên gia với sự tham khảo có chọn lọc,
khoa học.
- Để có thêm tư liệu cũng như tính xác thực của thông tin diễn biến thị trường,
chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế thông qua bảng câu hỏi, phỏng vấn trực
tiếp các công ty trong lĩnh vực giao nhận vận tải quốc tế và những nhà sản xuất,
kinh doanh xuất nhập khẩu.
5. Những đóng góp của luận án
Kể từ khi nhà nước quyết định thực hiện chính sách mở cửa theo định hướng nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước, nước ta đã có những
chuyển biến rõ rệt. Kinh tế phát triển, tăng trưởng hàng năm trung bình 7%, các
ngành nghề sản xuất, dịch vụ phát triển mạnh đặc biệt là ngành giao nhận vận tải
quốc tế.
Là một thành phố biển với độ sâu trung bình của cảng Tiên Sa là 12m, nằm ở ngã
ba giao thương của Việt Nam cũng như giữa khu vực Châu Á-Thái Bình dương, rất
thuận tiện cho tàu bè qua lại, Đà Nẵng rất có tiềm năng phát triển kinh tế nói chung
và dịch vụ giao nhận vận tải nói riêng. Mặt khác, xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế
cùng với sự phát triển vượt bậc của dịch vụ Logistics đòi hỏi chúng ta phải tìm ra
một phương thức kinh doanh mới phù hợp với yêu cầu của thị trường trong nước và
thế giới.
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về tình hình Logistics trong giao nhận
vận tải quốc tế bằng đường biển tại thành phố Đà Nẵng, từ đó đưa ra những giải
pháp chiến lược nhằm đẩy mạnh phát triển loại hình dịch vụ này. Đây là một ngành
kinh doanh tuy đã phát triển rất mạnh tại các nước phát triển nhưng vẫn còn mới lạ
tại Việt Nam. Trong khi các công trình nghiên cứu chiến lược phát triển hiện nay
chỉ chú trọng vào việc khai thác cảng và kinh doanh vận tải, thì luận án chú trọng
nghiên cứu cách tổ chức và kinh doanh dịch vụ Logistics – hình thức phát triển cao


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT
ĐỘNG

LOGISTICS TRONG GIAO NHẬN VẬN TẢI QUỐC
TẾ
1.1/ Cơ sở lý luận về hoạt động Logistics trong giao nhận vận tải quốc tế
1.1.1/ Giới thiệu về giao nhận vận tải quốc tế đường biển .
1.1.1.1/ Dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế bằng đường biển
a/ Định nghĩa
 Vận tải quốc tế bằng đường biển
Vận tải quốc tế là quá trình chuyên chở được tiến hành vượt ra ngoài phạm vi
biên giới lãnh thổ của một quốc gia.
Có rất nhiều phương thức vận chuyển tham gia vào quá trình chuyên chở hàng
hóa quốc tế như đường không, đường sắt, đường bộ, đường thủy…, trong đó vận
chuyển đường biển đóng vai trò chủ đạo. Hơn 70% hàng hoá trong buôn bán quốc
tế được vận chuyển bằng đường biển. Những nước có bờ biển kéo dài, giao thông
vận tải đường biển thuận tiện sẽ có ngành vận tải quốc tế rất phát triển như
Singapore, Hà Lan, Hồng Kông….
 Dịch vụ giao nhận quốc tế
Theo “Qui tắc mẫu của FIATA về dịch vụ giao nhận”: dịch vụ giao nhận (Freight
forwarding service) là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng,
lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như dịch vụ tư vấn hay có
liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm,
thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá.
Người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là người giao nhận (Forwarder/Freight
Forwarder/Forwarding agent). Trước đây, người giao nhận chỉ thực hiện một số
công việc do nhà xuất nhập khẩu uỷ thác như xếp dỡ, lưu kho hàng hóa, vận tải nội
địa…. Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và sự tiến bộ trong ngành vận
tải, người giao nhận ngày nay không chỉ làm thủ tục hải quan hay thuê tàu mà còn
cung cấp dịch vụ trọn gói toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hóa.

một tăng trong buôn bán quốc tế, đặc biệt là chuyên chở các loại hàng rời có
khối lượng lớn nhưng giá trị thấp như than đá, quặng, ngũ cốc, dầu mỏ….
Khoảng cách chuyên chở càng xa thì chi phí vận tải càng lớn, dẫn đến giá cả
hàng hóa sẽ cao và quan hệ mua bán giữa các nước bị hạn chế và ngược lại.
- Giao nhận vận tải quốc tế phát triển tạo điều kiện cho việc mở rộng giao lưu
buôn bán giữa các nước và đa dạng hóa mặt hàng cũng như thay đổi cơ cấu từng
nhóm hàng. Giá thành vận tải trên cự ly dài giảm đã tạo điều kiện cho các quốc
gia mở rộng thị trường cung cấp và tiêu thụ.
- Giao nhận vận tải quốc tế có thể bảo vệ tích cực hoặc làm xấu đi cán cân mậu
dịch và cán cân thanh toán của một quốc gia. Thu chi ngoại tệ trong lĩnh vực
XNK sản phẩm vận tải và các dịch vụ có liên quan đến vận tải quốc tế là một bộ
phận quan trọng trong cán cân thanh toán quốc tế. Xuất siêu sản phẩm vận tải
quốc tế sẽ có tác dụng tốt đối với cán cân thanh toán quốc tế và ngược lại. 8
1.1.2/ Logistics trong giao nhận vận tải
1.1.2.1/ Các định nghĩa về Logistics
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Logistics và vẫn
chưa có khái niệm thống nhất. Trong cuốn sách “Logistics Những vấn đề cơ bản”
của PGS-TS Đoàn Thị Hồng Vân-NXB Thống kê 2003 có nêu lên một số khái niệm
về Logistics của các nhà kinh tế trên thế giới như sau:
− Trong lĩnh vực sản xuất, Logistics là cung ứng, là chuỗi hoạt động nhằm đảm
bảo nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, các dịch vụ… cho hoạt động của tổ
chức, doanh nghiệp được tiến hành liên tục, nhịp nhàng và có hiệu quả. Bên
cạnh đó, nó còn tham gia vào quá trình phát triển sản phẩm mới.
− Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng, Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí,
lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên, yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên
là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ đến tay người tiêu
dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt hoạt động kinh tế.

tế vừa là sự phát triển ở giai đoạn cao của dịch vụ giao nhận vận tải trên cơ sở sử
dụng những thành tựu của công nghệ thông tin để điều phối hàng hoá từ khâu tiền
sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng, vừa nêu lên được ưu điểm nổi bậc của
nó so với dịch vụ giao nhận vận tải. Đó là sự tối ưu hóa dịch vụ giao nhận vận tải
nhằm đảm bảo giao hàng đúng lúc với chi phí thấp nhất.

1.1.2.2/ Lịch sử phát triển và tầm quan trọng của Logistics
a/ Lịch sử phát triển của Logistics
Sự phát triển của Logistics bắt nguồn từ sự thay đổi trong sản xuất. Người bán
hàng hóa không nhất thiết phải là nhà sản xuất và người mua cũng không nhất thiết
phải là người tiêu dùng cuối cùng. Và để tránh ứ đọng vốn, các nhà sản xuất kinh
doanh luôn tìm cách duy trì một lượng hàng dự trữ nhỏ nhất. Điều này đòi hỏi các
nhà giao nhận vừa phải đảm bảo giao hàng đúng lúc (JIT), vừa phải tăng cường vận
chuyển những chuyến hàng nhỏ nhằm giúp những nhà sản xuất kinh doanh thực
hiện mục tiêu tối thiểu hàng tồn kho (Minimum stock).
Mặt khác, cuộc cách mạng Container hoá trong vận tải diễn ra trong những năm
70 của thế kỷ 20 cùng với sự ra đời của tàu chuyên dụng chở container kiểu Lo-Lo,
Ro-Ro, kiểu Flash, các công cụ xếp dỡ có năng suất cao … đã giải quyết được tình
trạng ùn tàu tại các đầu mối giao thông khác. Điều này đã giúp các nhà vận chuyển

10
tìm ra một phương pháp vận tải mới để đưa hàng hóa từ nơi gởi đến nơi nhận một
cách thông suốt, đó là vận tải đa phương thức. Người gửi hàng chỉ cần ký hợp đồng
vận tải với một nhà kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport
Operator – MTO) để thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hoá của mình.
Tuy nhiên, người mua vẫn cần người lên kế hoạch cung ứng, mua hàng hoá và
giám sát mọi di chuyển hàng hoá để đảm bảo đúng loại hàng, đến đúng địa điểm,
đúng thời gian. Hay nói cách khác, một người tổ chức dịch vụ Logistics sẽ giúp các
doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, thời gian từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Theo ESCAP (Ủy Ban Kinh Tế và Xã Hội Châu Á và Thái Bình Dương),

Nếu những hoạt động này thông suốt, có hiệu quả, thì sẽ góp phần to lớn làm cho
các ngành sản xuất phát triển; còn nếu những hoạt động này bị ngưng trệ thì sẽ tác
động xấu đến toàn bộ sản xuất và đời sống.
Hệ thống Logistics toàn cầu góp phần vào việc phân bố các ngành sản xuất một
cách hợp lý để đảm bảo sự cân đối và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Mỗi một vùng địa lý có những đặc điểm về địa hình khác nhau, nguồn tài nguyên
khoáng sản khác nhau và có phương thức lao động, tập quán khác nhau, do đó cần
phải có sự phân bố, sắp xếp các ngành sản xuất, các khu công nghiệp, các trung tâm
kinh tế sao cho phù hợp với những điều kiện riêng và tổng thể nhằm phát huy được
các nguồn lực một cách hiệu quả nhất.
Hoạt động Logistics không những làm cho quá trình lưu thông, phân phối được
thông suốt, chuẩn xác và an toàn, mà còn giảm được chi phí vận tải. Nhờ đó hàng
hoá được đưa đến thị trường một cách nhanh chóng kịp thời. Nhà sản xuất sẽ có
hàng hoá mình cần vào đúng thời điểm. Người tiêu dùng sẽ mua được hàng hoá một
cách thuận tiện, linh hoạt, thỏa mãn nhu cầu của mình. Người mua có thể chỉ cần ở
tại nhà, đặt mua hàng bằng cách gọi điện thoại, gửi fax, gửi e-mail hoặc giao dịch
qua Internet…. cho người bán hàng.
Một nghiên cứu gần đây của trường Đại học Quốc gia Michigan (Hoa Kỳ) cho
thấy, chỉ riêng hoạt động Logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của hầu hết các
nước lớn ở Châu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương. Vì
vậy nếu nâng cao hiệu quả hoạt động Logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao
hiệu quả kinh tế - xã hội. 12
1.2/ Hoạt động Logistics trong giao nhận vận tải quốc tế trên thế giới.
1.2.1/ Sự ra đời của các tổ chức giao nhận vận tải quốc tế
Cùng với sự phát triển của vận tải và buôn bán quốc tế, các đơn vị làm dịch vụ
giao nhận phát triển nhanh chóng và hình thành nên các tổ chức, công ty giao nhận
chuyên nghiệp có mặt ở rất nhiều thành phố có sân bay, cảng biển quốc tế. Ở Mỹ có

Brussels ngày 25/8/1924
- Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số qui tắc về vận
đơn đường biển.
- Công ước của Liên Hiệp Quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển.
- Qui tắc về chứng từ vận tải đa phương thức của Hội nghị Liên hiệp quốc về
buôn bán và phát triển của Phòng thương mại quốc tế.
- Bộ luật quản lý an toàn quốc tế (ISM code).
- Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và cảng biển (ISPS code)
- Luật pháp của các quốc gia mà hàng hóa của mình đi qua.
1.2.3/ Logistics ở các nước trên thế giới
1.2.3.1/Hoạt động Logistics ở các nước trên thế giới
Toàn bộ quá trình sản xuất – lưu thông – tiêu dùng của nền sản xuất hàng hoá được mô
hình hoá như sau:

Sơ đồ 1.1: Các bộ phận cơ bản của Logistics
Đối với toàn bộ quá trình lưu thông, phân phối, ứng dụng hệ thống Logistics là
một bước phát triển cao hơn của công nghệ vận tải. Hệ thống Logistics liên kết và
tối ưu toàn bộ quá trình sản xuất và lưu thông trên phạm vi rất rộng: trong một quốc
Logistics
Phân phối
Cung ứng

dụng những thành tựu của công nghệ thông tin giúp nhà sản xuất điều phối hàng
hoá từ khâu tiền sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng, qua các công đoạn:
vận chuyển, lưu kho và phân phối hàng hoá. Cụ thể:
- Sản xuất: Với sự phát triển của công nghệ thông tin và dịch vụ Logistics như
hiện nay, nhà sản xuất không còn phải lo lắng đến vấn đề dự trữ nguyên vật liệu
cho sản xuất. Các nhà cung cấp dịch vụ Logistics sẽ thay mặt nhà sản xuất tổ
chức sắp xếp và cung cấp đầu vào cho sản xuất một cách đúng lúc (JIT – Just In
Time) nhằm đem lại hiệu quả cao nhất, với chi phí thấp nhất, đảm bảo sự hoạt
động liên tục của dây chuyền sản xuất với chi phí cho dự trữ tồn kho thấp nhất.
- Phân phối: phản ánh sự di chuyển hàng hoá của một tổ chức (nhà sản xuất, kinh
doanh …) bao gồm sự vận chuyển hàng hoá từ nơi này đến nơi khác bằng những
phương tiện khác nhau, phối hợp với nhiều hoạt động khác nhau nhằm đảm bảo
quá trình chu chuyển hàng hoá liên tục từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến tay
người tiêu dùng. Công việc này cũng được các nhà cung cấp dịch vụ Logistics
thực hiện một cách thuần thục với chi phí tối ưu.
- Tiêu thụ: đây là công đoạn cuối cùng trong hệ thống Logistics nhằm đưa thành
phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Người tổ chức dịch vụ Logistics sẽ
thay mặt nhà sản xuất, tổ chức phân phối hàng hoá đến tay người tiêu dùng theo
yêu cầu của nhà cung cấp. Ngoài việc giao nhận và vận chuyển hàng, người
cung cấp dịch vụ Logistics còn có thể thực hiện các công đoạn: đóng gói, bao bì,
dán nhãn hiệu… cho nhà cung cấp.
1.2.3.2/ Xu hướng phát triển Logistics trên thế giới
Sử dụng nhà cung cấp dịch vụ Logistics là một xu hướng khá thịnh hành hiện nay
vì họ không chỉ đơn thuần là người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức, mà
còn là người tổ chức các dịch vụ khác như: quản lý kho hàng, bảo qủan hàng trong
kho, thực hiện các đơn đặt hàng, tạo thêm trị gia tăng cho hàng hoá bằng cách lắp
ráp, kiểm tra chất lượng trước khi gửi đi, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, dán nhãn,
phân phối cho các điểm tiêu thụ, làm thủ tục XNK…. Hơn thế nữa, họ là những nhà
tư vấn đáng tin cậy và cung cấp dịch vụ như: Hợp lý hoá dây chuyền vận tải, loại bỏ


điều kiện thuận lợi để phát triển hàng hải. Là một cảng có tầm quan trọng bậc nhất
trong khu vực, cảng Singapore đã trở thành điểm sáng về hiệu quả tổ chức quản lý,
khai thác và áp dụng các công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực hoạt động của cảng.

16
Singapore là một trong những trung tâm Logistics dẫn đầu trên thế giới. Bộ phận
Logistics đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và thương mại quốc gia cũng
như các hoạt động sản xuất. Trải qua nhiều năm, Singapore đã xây dựng cho mình
một mạng lưới phân phối và vận chuyển để trở thành một trong những trung tâm
Logistics hàng đầu trên thế giới. Chính phủ Singapore đã xác định Logistics là một
trong 4 ngành công nghiệp phát triển chính yếu của thiên niên kỷ này. Singapore đã
giới thiệu chương trình áp dụng và đề cao dịch vụ Logistics (LEAP) năm 1997
nhằm duy trì hiệu quả và tính cạnh tranh trong dài hạn của Singapore. Bốn chìa
khoá đột phá của chương trình là: Phát triển những sáng chế kỹ thuật; Phát triển
nguồn nhân lực; Phát triển cơ sở hạ tầng; Đề cao cách thức kinh doanh.
Chính phủ khuyến khích các công ty giao nhận trong nước liên doanh với các
hãng nước ngoài để thiết lập hệ thống Logistics toàn cầu. Nhà nước cho phép thành
lập các trung tâm cung cấp dịch vụ phân phối hàng hóa và cung cấp cho khách hàng
của mình những thông tin liên quan đến tiến độ sản xuất, lưu trữ, phân phối…. Nhà
nước còn đứng ra thành lập các trung tâm phân phối và cho các công ty hoạt động
trong lĩnh vực này thuê lại. Với việc thành lập các trung tâm này, Chính phủ
Singapore muốn nhanh chóng tăng nhanh lượng hàng chuyển tải qua sân bay
Changi và cảng biển quốc tế Singapore, tạo sự tối ưu hóa trong vận chuyển đường
biển và đường không để thu hút lượng hàng chuyển tải trong khu vực, đồng thời để
duy trì vị thế cạnh tranh so với trung tâm chuyển tải quốc tế ở Hồng kông.
Hiệp hội giao nhận Singapore đóng vai trò quan trọng quản lý điều hòa hoạt động
của các thành viên, các chi phí liên quan đến giao nhận, chuyển tải đều do Hiệp Hội
thống nhất qui định chung và các thành viên được khuyến khích áp dụng để tránh
tình trạng cạnh tranh về giá. Chính nhờ sự hỗ trợ từ chính phủ và nổ lực của các
công ty trong nước, Singapore đã trở thành trung tâm chuyển tải lớn nhất khu vực

phú và đa dạng. Tùy vào khả năng tài chính, cơ sở hạ tầng, quan hệ giao dịch
thương mại, trình độ nghiệp vụ của đội ngũ lao động … của mỗi quốc gia mà hoạt
động Logistics có những đặc thù riêng. Nhưng nhìn chung, trên phương diện quản
lý, chúng ta có thể rút ra những điểm căn bản sau đây:
1.
Sự điều tiết của nhà nước trong hoạt động Logistics
Hoạt động Logistics ở mỗi quốc gia đều chịu sự quản lý của nhà nước bằng một
trong hai phương pháp: trực tiếp và gián tiếp.

18
- Phương pháp trực tiếp: Nhà nước điều tiết số lượng công ty và cường độ cạnh
tranh trên thị trường thông qua giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Phương
pháp này thường thấy ở các nước Nhật Bản, Ấn độ hay những nước đang phát
triển ở các nước Đông Nam Á.
- Phương pháp gián tiếp: Nhà nước điều tiết bằng các công cụ tài chính như đánh
thuế. Các công ty được tự do thành lập, không phân biệt về năng lực tài chính,
mức độ tín nhiệm của các công ty. Ngoài ra, chính phủ của những nước này đòi
hỏi các doanh nghiệp này phải ưu tiên hàng cho các hãng tàu của nước mình.
Nếu việc lựa chọn người chuyên chở và hãng bảo hiểm mà không tính đến lợi
ích quốc gia thì chính phủ sẽ có biện pháp can thiệp. Phương pháp này thường
thấy ở những nước phát triển, tự do cạnh tranh như: Pháp, Đức, Mỹ, Canada….
Ngoài ra, nhà nước còn điều tiết ngay cả trong lĩnh vực đào tạo. Ở các nước phát
triển như CHLB Đức, Thụy sỹ nhân viên vào làm việc trong các công ty giao nhận
nhất thiết phải trải qua lớp bổ túc nghiệm vụ và 3 năm thực tập. Ở Nhật, người làm
trong lĩnh vực giao nhận vận tải phải trải qua cuộc thi sát hạch mang tính quốc gia,
hành nghề môi giới hải quan thì phải qua các kỳ thi của Tổng cục Hải quan.
2.
Xu hướng tập trung các hoạt động Logistics vào một đầu mối và hình thành các
tập đoàn mang tính độc quyền.
Các công ty Logistics thường thiết lập hệ thống các trung tâm hàng hóa (cargo

hàng thay vì họ phải thuê nhiều hãng vận chuyển như trước đây. Các Tập đoàn
Logistics thay mặt các chủ hàng thiết kế các tuyến đường vận chuyển hàng trong
trường hợp các hãng tàu thường từ chối chuyên chở những lô hàng đi qua những
vùng chiến sự, có rủi ro cao.
1.3/ Hoạt động Logistics và chiến lược kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
1.3.1/ Hoạt động Logistics của Việt Nam
1.3.1.1/Quá trình phát triển hoạt động Logistics của Việt Nam.
Ngành giao nhận vận tải quốc tế VN đã có từ rất lâu đời, khi có sự trao đổi buôn
bán với các lái buôn nước ngoài thông qua con đường tơ lụa. Nhưng mãi đến những
năm 60 của thế kỷ XX, hoạt động giao nhận quốc tế mới được hình thành một cách
rõ nét. Tuy nhiên, hoạt động này còn mang tính chất phân tán, các đơn vị xuất nhập
khẩu tự đảm nhận việc tổ chức chuyên chở hàng hóa của mình.

20
Để tập trung đầu mối quản lý, chuyên môn hóa khâu giao nhận vận tải, năm 1970
Bộ ngoại thương (nay là Bộ thương mại) đã thành lập hai tổ chức giao nhận: Tổng
công ty giao nhận Ngoại thương Vietrans tại Hải Phòng và Công ty giao nhận
đường bộ tại Hà Nội. Năm 1976, sau khi VN hoàn toàn thống nhất, Bộ Ngoại
Thương đã sáp nhập hai tổ chức trên thành Tổng công ty giao nhận và kho vận
ngoại thương (Vietrans), thực hiện nhập khẩu hàng viện trợ của các nước XHCN và
xuất những mặt hàng trao đổi hai chiều theo nghị định thư với các nước.
Năm 1979, Trung Quốc cắt tuyến đường sắt liên vận quốc tế nối VN với các nước
XHCN, toàn bộ hoạt động giao nhận vận tải lại chuyển sang giao nhận bằng đường
Biển với việc thiết lập tuyến đường từ VN nối liền cảng Vladivostok của Liên xô.
Giai đoạn này, ngành giao nhận vận tải VN kết hợp với Liên đoàn giao nhận các
nước thuộc khối SEV, Liên đoàn giao nhận ngoại thương Sojustransit của Liên xô
thực hiện hoạt động chuyển tải, quá cảnh hàng. Nhiều phương thức giao nhận hàng
mới như tàu Roll-on, tàu Flash được thực hiện hoàn hảo.
Những năm gần đây, khi kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự
điều tiết của nhà nước, dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế không còn do Vietrans độc

độ nghiệp vụ cao, có mạng lưới đại lý rộng khắp thì mới đáp ứng được nhu cầu
khách hàng. Khi đó, các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ có xu hướng ủy thác cho
các công ty giao nhận làm tất cả các công việc từ giao nhận đến vận tải, đóng gói
bao bì, khai báo thủ tục hải quan ….
Việc ký kết các hiệp định song phương, đa phương và gia nhập các tổ chức kinh
tế thế giới, đặc biệt là nghị định 125/2003/NĐ-CP về vận tải đa phương thức sẽ dần
dần phá bỏ độc quyền của các công ty giao nhận vận tải trong nước. Các hãng tàu,
tập đoàn Logistics của nước ngoài sẽ từ bỏ các đại lý địa phương, mở các chi nhánh
tại VN để giảm chi phí hoạt động. Họ sẽ trực tiếp đào tạo nhân lực để nâng cao chất
lượng phục vụ. Khi đó sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty trong nước và các tập
đoàn Logistics hùng mạnh của nước ngoài, sự thôn tính các công ty nhỏ cũng sẽ
diễn ra để thành lập những liên kết mới hùng mạnh hơn.
Thêm vào đó, chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài ngày càng thu hút các
tập đoàn kinh tế đa quốc gia, xuyên quốc gia đầu tư thành lập các nhà máy sản xuất
tại VN như Nike, HP, Cocacola, LG…. Cùng với sự xâm nhập của các tập đoàn này
là sự phát triển dịch vụ Logistics vì bản thân các doanh nghiệp này đã sử dụng dịch
vụ Logistics của các tập đoàn Logistics lớn trên thế giới như APL, MAERSK,
DANZAS, SCHENKER… trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình.

22
Các doanh nghiệp giao nhận vận tải VN cũng đã bắt đầu được thừa nhận
Logistics như một công cụ sắc bén đem lại thành công cho doanh nghiệp trong điều
kiện hội nhập kinh tế như hiện nay. Đặc biệt, trong thời gian tới Tp.HCM sẽ thành
lập khu Logistics tại khu chế xuất Tân Thuận phục vụ cho các doanh nghiệp nằm
trong khu chế xuất. Như vậy, dịch vụ giao nhận vận tải của nước ta trong thời gian
tới sẽ phát triển theo hướng mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao chất lượng dịch
vụ lên ngang tầm tiêu chuẩn quốc tế, từ đó sẽ phát triển thành dịch vụ Logistics.
1.3.2/ Chiến lược kinh tế đối ngoại
Giao nhận vận tải quốc tế và ngoại thương có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với
nhau và có tác dụng thúc đẩy nhau phát triển. Trước đây, giao nhận vận tải quốc tế

phát triển nền kinh tế
Năm 2003 Cục Hàng hải VN đã đầu tư hơn 516 triệu USD cho các dự án cải tạo,
nâng cấp cảng biển, tạo động lực thúc đẩy hệ thống cảng biển phát triển
(2)
. Việc
khánh thành gói thầu cảng nước sâu Cái Lân (ngày 13/12/2003) được coi là bước
đột phá trong tiến trình khắc phục tình trạng thừa cảng biển nhưng thiếu cảng nước
sâu trong hệ thống cảng biển VN, đồng thời tạo sức bật mới cho vùng kinh tế Đông
Bắc với 3 bến tàu được sử dụng cho tàu có trọng tải từ 30.000 đến 40.000 DWT.
Công tác nghiên cứu quy hoạch chi tiết cảng Vân Phong bước đầu được triển khai,
với mức đầu tư giai đoạn dự kiến khoảng 105 triệu USD tiến tới đưa Vân Phong
sớm trở thành cảng trung chuyển quốc tế.
Ngày 29/10/2003, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký ban hành Nghị định số
125/2003/NĐ-CP về vận tải đa phương thức quốc tế. Theo đó nếu có đủ 3 điều kiện
quy định thì các doanh nghiệp VN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc
doanh nghiệp nước ngoài được kinh doanh trong lĩnh vực này. Nghị định đã đánh
dấu một bước ngoặc quan trọng cho ngành giao nhận vận tải VN trong việc đa dạng
hóa dịch vụ cung cấp, tạo tiền đề cho việc phát triển kinh doanh dịch vụ Logistics.
1.3.2.2/ Hải Quan
Ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cải cách thủ tục hải quan theo hướng đưa
công nghệ tin học vào quản lý để rút ngắn thời gian thông hàng, tăng cường hậu
kiểm, ngành hải quan khẩn trương triển khai công tác hành thu trên cơ sở phân loại
hàng hoá theo nguyên tắc phân loại chung Danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu của
Tổ chức hải quan thế giới (HS). Tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực

24
hải quan nhằm đưa công tác hải quan tiến tới chuẩn hoá và hiện đại hoá đáp ứng
yêu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của thương mại quốc tế.
Bắt đầu từ năm 2004, VN đã chính thức áp dụng Hiệp định trị giá Hải quan
GATT/WTO đối với hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ, hàng hóa của các nước ASEAN và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status