đầu thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XIXđầu thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XIX
luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
hà nội - 2007
đại học quốc gia hà nội
trờng đại học khoa học x hội và nhân văn
nguyễn mạnh dũng
quá trình xâm nhập của pháp vào
quá trình xâm nhập của pháp vào quá trình xâm nhập của pháp vào
hà nội - 2007
2
lời cảm ơn
Trong suốt quá trình làm luận văn, tôi đ nhận đợc rất nhiều sự ủng hộ,
giúp đỡ to lớn của các thầy, cô, các nhà nghiên cứu, bạn đồng nghiệp, đặc biệt là
các Thầy, Cô của Bộ môn Lịch sử Thế giới - Khoa Lịch sử. Tôi xin cảm ơn sự cố
vấn khoa học tận tình của PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ; chân thành tri ân sự chỉ dẫn
và giúp đỡ của các cán bộ th viện Viện Sử học, EFEO, Viện Thông tin KHXH,
th việc Quốc gia, Trung tâm lu trữ Quốc gia I, phòng t liệu Khoa Lịch sử -
trờng ĐHKHXH&NV (ĐHQGHN), Trung tâm Văn hóa Pháp CFC - L'Espace;
xin cảm ơn Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đ tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời
gian tôi theo học tại Trờng.
Lời cảm ơn cuối cùng tôi xin đợc gửi lên Thầy - PGS.TS. Nguyễn Văn
Kim, với t cách là giáo viên hớng dẫn khoa học. Mặc dù bận nhiều công việc,
Thầy vẫn tận tình hớng dẫn, chỉ bảo và sửa chữa từng trang bản thảo từ đầu đến
cuối. Chủ đề mà tôi theo đuổi đ hoàn thành trong quá trình lao động miệt mài,
nghiêm túc bên cạnh luôn có sự hớng dẫn và chỉ bảo tận tâm của Thầy - PGS.TS.
Nguyễn Văn Kim!
Đề tài "Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ nửa cuối thế
kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX" là một chủ đề khó. T liệu còn lại không nhiều,
tài liệu tham khảo phần nhiều chỉ dựa vào các t liệu gốc (t liệu trực tiếp).
Hơn nữa, tôi chủ yếu sử dụng các t liệu tiếng nớc ngoài, đặc biệt là của
ngời Pháp. Trên cơ sở tổng hợp và phân tích cụ thể, khoa học những t
liệu trên, tôi sử dụng một số phơng pháp nghiên cứu và hớng tiếp cận
cần thiết trong việc thể hiện, gợi mở và chứng minh các luận điểm khoa
học.
Tôi xin cam đoan tất cả những điều viết trong luận văn là kiến thức
của mình, luận văn không sao chép kết quả nghiên cứu của ngời khác mà
không trích dẫn, chú thích cụ thể.
Học viên
Nguyễn mạnh dũng
4
Juillet
Oct
Octobre
Sept
Septembre
Déc
Décembre
Nxb.
Nhà xuất bản
Tp.
Thành phố
ĐHQG
Đại học Quốc gia
cq:
Cầm quyền
cb
Chủ biên
CT
Chú thích
PL
Phụ lục
5
105
6. Bảng số lợng các giáo dân ở Đàng Ngoài (Đông và Tây Đàng
Ngoài) và Đàng Trong năm 1800 và 1840
152
6
mục lục
phần mở đầu
phần mở đầuphần mở đầu
phần mở đầu Trang 1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3. phạm vi và đối tợng nghiên cứu 14
4. phơng pháp nghiên cứu 14
1.1. Sự phát triển của các ngành kinh tế và chính sách của chính
quyền Đàng Ngoài và Đàng Trong
38
1.2. Quan hệ ngoại thơng 41
1.3. Sự có mặt của các thơng nhân châu Âu 46
2. Về văn hóa 49
2.1. Những chuyển biến lớn về t tởng, tôn giáo 49
2.2. Sự có mặt và các ghi chép ban đầu về ngời dân và x hội
Đại Việt của các giáo sĩ phơng Tây
51
2.2.1. Giáo sĩ với các dòng thánh 51
2.2.2. Những ghi chép đầu tiên 54
III. Tiểu kết 58
Chơng II
quá trình xâm nhập của pháp vào việt nam từ nửa sau
thế kỷ XVII đến những năm đầu thế kỷ XIX
I. Quá trình xâm nhập vào Việt Nam của Pháp qua thơng mại và truyền
62
2.2.2. Khả năng thơng mại CIO, tình hình Đại Việt
77
2.3. Những thay đổi và tác động từ chính sách cởi mở đến các sắc
chỉ cấm đạo và hạn chế thơng mại của giới cầm quyền Đại Việt
79
2.3.1. Những khó khăn qua ghi chép của ngời Pháp
79
2.3.2. Nớc Pháp trong mối quan hệ phức hợp với các nớc
phơng Tây
81
2.3.3. Các lệnh cấm đạo, hạn chế thông thơng
84
II. Liên hệ Pháp - Việt trong nửa sau thế kỷ XVIII và những năm đầu thế kỷ XIX
91
1. Sự rút lui của những "thơng nhân Pháp" cuối thập niên 60 thế kỷ
XVIII
91
2. Bối cảnh chính trị, văn hóa - x hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ
XVIII
95
2.1. Phong trào Tây Sơn
116
1. Tác động đến chính sách ngoại thơng 116
1.1. Chính sách của Đại Việt 116
1.2. Chính sách của CIO 128
2. Kết quả của 100 năm buôn bán CIO - Đại Việt (1669-1769) 132
3. Sự can thiệp của M.E.P vào các hoạt động của CIO 135
II. Sự thâm nhập của ngời Pháp vào đời sống chính trị, văn hóa - xã hội
Việt Nam
138
1. Vai trò của ngời Pháp trong đời sống tôn giáo Đại Việt 138
2. Vị thế của ngời Pháp dới thời Nguyễn ánh và triều Gia Long
141
3. Nguyên nhân dẫn đến những xung đội văn hóa thời Nguyễn 148
3.1. Quan hệ giữa Thiên chúa giáo với các giá trị văn hóa phơng
Đông
148
3.2. Chính sách đối với Viễn Đông của Pháp và sự mở rộng của
MEP
150
1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Những năm gần đây, cùng với xu hớng phát triển khoa học nói chung, đ
xuất hiện này càng nhiều các công trình viết về những chuyển biến của đất nớc
trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa. Để truyền tải những thành quả và kinh
nghiệm nghiên cứu tiên tiến nhất trên thế giới giai đoạn hậu WTO, các cuốn sách
nghiên cứu về kinh tế, chính trị ngày càng đợc biên soạn nhiều và đ phần nào
chiếm đợc thị hiếu của độc giả Việt Nam. Và trong xu thế hội nhập quốc tế mạnh
mẽ đó, những "khoảng trống" trong nhận thức và nghiên cứu về lịch sử, văn hóa
Việt Nam chắc chắn sẽ dần đợc làm sáng rõ và "lấp đầy" với sự tham gia ngày
càng sâu, rộng của giới nghiên cứu trong nớc và quốc tế.
Khi đề cập đến lĩnh vực khoa học x hội và nhân văn, tác động của xu
hớng trên mặc dù vẫn đợc nhìn nhận là ít hơn và thờng gián tiếp, song tùy từng
vấn đề mức độ ảnh hởng lại có sự khác biệt nhất định. Trong những vấn đề lớn đó,
nghiên cứu một mảng nhỏ của thời kỳ có liên quan và tác động trực tiếp đến lịch sử
Việt Nam, ở một chừng mực sẽ có điều kiện thuận lợi, nhiều vấn đề có thể đợc
làm sáng tỏ, giải quyết thấu đáo trên cơ sở các nguồn t liệu và phơng pháp tiếp
cận, nghiên cứu mới.
Chúng tôi luôn nhìn nhận sự kiện lịch sử là một quá trình. Quá trình đó là hệ
quả của những tác nhân trực tiếp, gián tiếp hay chủ quan và khách quan. Chúng tôi
tôn trọng các công trình nghiên cứu lịch sử giải quyết các vấn đề trên cơ sở của
những nguồn t liệu thực sự thuyết phục, khách quan, tôn trọng lịch sử.
Từ nhiều năm nay, trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam và khu vực vẫn còn
một số vấn đề phức tạp hay cha có sự đồng thuận, còn ít thể hiện quan điểm cá
nhân. Nhng hiện nay, các nhà sử học có thể mạnh dạn đa ra các quan điểm
nghiên cứu riêng và phần nào tạo đợc không khí tranh luận để cùng đi đến sự
thống nhất ở một số điểm nhất định. Biểu thị cho khuynh hớng nghiên cứu đó là
việc nhìn nhận lại các nhân vật lịch sử Việt Nam. Đây thực sự là chiều hớng
khách quan mà theo nh cố GS. Trần Quốc Vợng, lịch sử Việt Nam luôn phải
Ngoài và Đàng Trong có thể đợc coi nh những chuyển biến đầu tiên, tại đó lần
đầu tiên khuynh hớng quốc tế hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ đợc bộc diện
hơn bao giờ hết.
Trên cơ sở những định hớng nghiên cứu đó, chúng tôi quyết định chọn đề
tài Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XVII đến
đầu thế kỷ XIX làm chủ đề nghiên cứu của luận văn Thạc sĩ. Mục đích luận văn
dừng lại ở những đóng góp sau:
- Tổng hợp kết quả nghiên cứu về hoạt động thơng mại của Công ty Đông
ấn Pháp (La Compagnie Franầaise des Indes Orientales, CIO) với Đại Việt từ nửa
sau thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII của các nhà nghiên cứu ngời Pháp, các học
giả phơng Tây. Làm rõ những quan hệ, mối tơng tác đặc biệt giữa MEP (La
Sociộtộ des Missions ẫtrangốres de Paris, Hội Truyền giáo Ngoại quốc Paris, còn
11
có tên khác là Hội Thừa sai Paris) với toàn bộ hoạt động của Công ty Đông ấn
Pháp trong suốt quá trình giao thơng với Đại Việt.
- Phân tích sự chuyển biến về kinh tế, chính trị căn bản trong 3 thập kỷ cuối
thế kỷ XVIII đặc biệt dới 3 triều đại của Pháp: Louis XV (cq: 1715 - 1774), Louis
XVI (cq: 1774-1791) và Napoléon Bonaparte (Napoléon đệ nhất, cq: 1804-1815);
và tình hình Đại Việt trong bối cảnh nội chiến: dới thời Tây Sơn, Nguyễn ánh
(cho đến trớc năm 1802) và thời Gia Long đầu triều Minh Mạng (giai đoạn từ năm
1802 đến 1820).
- Đánh giá lại vai trò của các giáo sĩ Thừa sai ngời Pháp dới danh nghĩa
các "thơng nhân" của CIO; các nhân vật lịch sử Alexandre de Rhodes, Franỗois
Pallu, Lambert de la Motte, Pigneau de Béhaine, Nguyễn ánh đợc nhìn nhận nh
sản phẩm của thời đại, cũng nh của quá trình tiếp xúc lịch sử lâu dài giữa Pháp và
Việt Nam. Đồng thời, căn nguyên của những xung đột văn hóa dới triều Nguyễn
sau này đều bắt nguồn từ những thay đổi căn bản và ràng buộc từ những chuyển
biến thời kỳ này.
- Tất cả những tác nhân từ liên hệ về thơng mại, những cuộc điều tra tỉ mỉ
phải chăng chỉ thuần túy mang "tính chất thơng mại", các cuộc tiếp xúc lịch sử
Cochinchine et des royammes de Camboge, Laos et Lac Tho (Traduit d'après les
relations originales de ce voyageur) [4], ký sự xuất bản ở Paris, năm 1812. Tuy
nhiên, tập sách đó chỉ dừng lại là những ký sự về tình hình x hội Đàng Trong với
một sự so sánh bớc đầu về khu vực. Mặt khác, cuốn ký sự đó cho thấy bối cảnh,
đời sống chính trị phong phú của Việt Nam dới tác động của cuộc nội chiến khốc
liệt trong lịch sử Việt Nam.
Đến cuối thế kỷ này, năm 1885, có một công trình nghiên cứu nổi tiếng xuất
hiện ở Paris có tên La Cochinchine religieuse [123] của linh mục Louvet. Đợc
dịch ra tiếng Việt với nhan đề "Xứ Nam Kỳ mộ đạo", công trình gồm 2 tập (tập 1,
1550-1779, tập 2, 1800-1884). Đây là một chuyên khảo hết sức công phu, trình bày
hầu nh trọn vẹn tình hình đời sống tôn giáo Đàng Trong cho tới trớc khi thực dân
Pháp chính thức biến khu vực này thành Nam và Trung Kỳ thuộc Indochine
Franầaise. Đặc biệt, lần đầu tiên công trình đa vào các quan điểm từ nhiều phía,
trên cơ sở cách nhìn cá nhân nhng trên nền tài liệu khoa học, có sức thuyết phục
cao. Thời gian này cũng ghi nhận một công trình đồ sộ về lịch sử của MEP từ khi
thành lập [118] của A. Launay. Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất cho đến
thời điểm cuối thế kỷ XIX về những hoạt động của MEP ở Viễn Đông nói chung.
Đặc biệt ghi nhận lần đầu tiên những t liệu gốc (t liệu trực tiếp) đợc tập hợp
trong một bộ sách đợc coi nh bách khoa th về MEP.
Phải cho đến đầu thế kỷ XX các công trình chuyên khảo về Việt Nam mới
bắt đầu đợc nhà nghiên cứu su tầm, công bố. Mở đầu trong số đó là tập đại thành
của A. Launay trên cơ sở của công trình đồ sộ về MEP ở trên đ ra đời 3 cụm công
trình nổi tiếng liên quan trực tiếp đến Việt Nam: Les missionnaires Franầaise au
Tonkin [119] xuất bản ở Paris năm 1900; 3 tập của Histoire de la mission de
Cochinchine 1658 - 1823 [120] và Histoire de la mission du Tonkin [121] xuất bản
ở Paris năm 1924 và 1927. Đây là những tập t liệu gốc hết sức phong phú và có
13
giá trị khi nghiên cứu về những liên hệ về tôn giáo Pháp - Việt giai đoạn tiền thực
dân. Đây chính là nguồn cảm hứng và là kho t liệu cho hầu hết các công trình
nghiên cứu về sau này của học giả trong và ngoài nớc. Làm việc với tinh thần
ngòi bút của các sử gia nổi tiếng nh Lê Thành Khôi [114], Nguyễn Thành Nh
[131], Nguyễn Thế Anh [83], Alain Forest [106] Những tác phẩm trên là những
cuốn sách thông sử Việt Nam công phu, cũng nh các luận văn trình bày sâu sắc dựa
14
trên những nhận định khoa học mang tính chất tổng kết. Với Les missionnaires
Franầais au Tonkin et au Siam (XVII
ốme
-XVIII
ốme
siốcles), Alain Forest đ xuất bản
bộ 3 công trình nghiên cứu so sánh Việt Nam và Siam trong giai đoạn truyền giáo
giai đoạn thế kỷ XVII. Đây là công trình đồ sộ và so sánh điển hình về tình hình xâm
nhập, xác lập về địa vị tôn giáo của MEP trên đất Việt Nam và Siam (Thái Lan).
Trong những năm gần đây, với nhiều tác phẩm có giá trị khác, chúng tôi lu ý đến
nghiên cứu của Frộdộric Mantienne, Les relations politiques et commerciales entre
la France et la pộninsule Indochinoise (XVII
e
siốcle) [127] dới khía cạnh quan hệ
chính trị (les relations politiques).
Đề cập đến tình hình văn hóa, x hội Việt Nam giai đoạn này không thể
không kể đến các luận văn đợc đăng tải trên BEFEO, BAVH, RI. Trong số những
tác giả của BAVH nh M. Gaudart, P. Huard, H. Cosserat , Léopold Cadière với
trên dới 250 công trình nghiên cứu [24] về văn hóa, tôn giáo và tín ngỡng Việt
Nam đ xác định vị trí học giả trên lĩnh vực Việt Nam học. Riêng đối với mảng đề
tài liên quan, chúng tôi sơ bộ thống kê đợc hơn 10 luận văn đang tải chủ yếu trên
BAVH. Đây là những nguồn t liệu thành văn rất có giá trị thể hiện phong cách
nghiên cứu thuộc "Trờng phái EFEO" nổi danh một thời.
Đối với mảng sách tiếng Việt, chúng tôi rất coi trọng đến những bộ chính sử
của Việt Nam nh Đại Việt sử ký toàn th, Phủ biên tạp lục, Việt sử thông giám
cơng mục, Lịch triều hiến chơng loại chí, Đại Nam thực lục Trên cơ sở đối
Nam (1857 - 1914) [65], là nền lý luận cho bất kỳ nhà sử học nào nghiên cứu về mối
liên hệ giữa chính sách thuộc địa với công cuộc truyền giáo. Cùng với đó, công trình
nghiên cứu của Tạ Chí Đại Trờng [70], [71], Yoshiharu Tsubo [72] đ góp thêm
vào việc nghiên cứu bối cảnh chính trị, x hội, quân sự trớc và trong quá trình xâm
lợc thực dân Pháp ở Việt Nam.
Cuộc Hội thảo về Một số vấn đề lịch sử Đạo Thiên chúa trong lịch sử dân
tộc Việt Nam [76] diễn ra cuối thập niên 80 thế kỷ XX đ tập hợp hầu hết các nhà
nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng trong nớc. Vấn đề về quan hệ văn hóa Việt - Pháp
cũng chiếm đợc sự thu hút đặc biệt của Hội thảo. Trên cơ sở các luận văn, tạp chí
Nghiên cứu Tôn giáo cũng đ tập hợp lại xuất bản cuốn Về tôn giáo và tôn giáo ở
Việt Nam [64] đề cập đến kết quả nghiên cứu về tôn giáo nhân kỷ niệm 5 tạp chí
năm ra số đầu tiên. Trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử có thể điểm qua đợc một số
luận văn nh của Trơng Hữu Quýnh [55], Bùi Hạnh Cẩn [7]
Bên cạnh đó, những luận văn khoa học đ đợc đăng tải nhiều trên các tạp
chí quốc tế của nhiều nhà nghiên cứu, trong số đó có thể kể đến những chuyên gia
nổi tiếng nh Trần Văn Đoàn [14], Trần Văn Toàn [67], Roland Jacques Mặt
khác, các bộ thông sử của Pháp [85], [122] hay vấn đề truyền giáo của Pháp nói
chung [132] cũng đợc chúng tôi vận dụng trên cơ sở của phơng pháp so sánh và
tổng hợp.
2.2. Về kinh tế thơng mại qua công trình nghiên cứu tiếng nớc ngoài: Các
công trình rất đáng tham khảo của A. Launay và G. Taboulet, công trình Histoire
moderne du Pays dAnnam (1592-1820) [130] của Ch.Maybon có thể nói là cuốn
chuyên khảo đầu tiên và có lẽ là duy nhất về quan hệ thơng mại Việt - Pháp giai
16
đoạn cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII. W.M. Buch có công bố công trình về
hoạt động thơng mại của Công ty Đông ấn Hà Lan (VOC) với Đông Dơng [88],
cùng những nghiên cứu sau này về VOC [74], Công ty Đông ấn Anh (EIC) [73],
cộng với công trình của Ch.Maybon ở trên, bộ ba Công ty Đông ấn nổi tiếng đ
phần nào đợc nhận diện tơng đối đầy đủ, qua đó dựng lên bức tranh ngoại
thơng Việt Nam với các nớc phơng Tây thế kỷ XVI -XVIII. Có thể phần nào
17
cũng nh các công trình nghiên cứu của học giả quốc tế; thứ hai, vẫn còn nhiều
"khoảng trống" về nhận thức lịch sử, do vậy rất cần thiết có những đề tài nghiên
cứu cụ thể, nghiên cứu trờng hợp, chuyên sâu để nhận diện sâu sắc hơn trên một
nền thông sử chung.
3. phạm vi và đối tợng nghiên cứu
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại trong việc sa tầm, phân tích
quá trình xâm nhập thông qua thơng mại và tôn giáo. Về phạm vi thời gian, đề tài
nghiên cứu quá trình xâm nhập của Pháp từ thập niên 60 thế kỷ XVII đến hết thời
kỳ trị vì của Gia Long Hoàng đế - năm 1820. Một điểm nữa chúng tôi xin đợc lu
ý là vấn đề quốc hiệu. Tên gọi Đại Việt trong lịch sử Việt Nam (thời Hồ có tên là
Đại Ngu) đợc bắt đầu từ thời nhà Lý trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê (Lê sơ),
Mạc, qua giai đoạn Nam - Bắc triều, Đàng Ngoài - Đàng Trong (có thể gọi theo tên
triều đại cai trị ở mỗi xứ) kéo dài cho đến năm 1804 - năm chính thức Gia Long đổi
tên thành Việt Nam, và năm 1838 Minh Mệnh đổi tên nớc thành Đại Nam (hay
Đại Việt Nam). Tên này kéo dài cho đến khi chính thức chấm dứt chế độ phong
kiến ở nớc ta vào năm 1945. Nội dung luận văn liên quan trực tiếp đến 3 thế kỷ
XVI-XVII-XVIII và 20 năm đầu thế kỷ XIX, việc sử dụng các thuật ngữ nh "Đại
Việt", "Việt Nam" thậm chí là "Annam" (nh một số tài liệu nớc ngoài viết về
giai đoạn này) đều nhằm chỉ tính chính xác của thời đoạn đó. Với tên "Đại Việt",
trong bài chúng tôi sử dụng để biểu đạt chính xác nớc Việt Nam trong thế kỷ 3
thế kỷ trên. Khi sử dụng tên "Việt Nam", chúng tôi thờng có chú thêm niên đại
(năm, thập kỷ, thế kỷ) hay ít nhiều thông tin để độc giả nhận biết Việt Nam trong
các thế kỷ đang nghiên cứu Do vậy, tên đề tài của luận văn mà chúng tôi sử dụng
mang ý nghĩa nh đ trình bày ở trên.
Qua phân tích và lý giải thực tiễn lịch sử trên đ phần nào cho thấy toàn bộ
diễn tiến, đặc trng trong từng giai đoạn phát triển của quan hệ Việt - Pháp từ giữa
thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX. Đây là một trong những tiền đề điều kiện quan
trọng góp phần lý giải về sự thâm nhập, xâm lợc của thực dân Pháp trên đất nớc
Việt Nam.
Chơng II: Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ nửa sau thế kỷ
XVII đến những năm đầu thế kỷ XIX
Tập trung trực tiếp phân tích quá trình xâm nhập của Pháp thông qua CIO
(cuối thế kỷ XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII), MEP (đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ
XVIII, đầu thế kỷ XIX).
Chơng III : Hệ quả của quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam
Trên cơ sở phân tích trong hai chơng đầu, chơng này ngời viết đề cập
đến hệ quả của những liên hệ, những cuộc tiếp xúc lịch sử giữa Pháp và Việt Nam,
từ đó nhấn mạnh đến quá trình xâm nhập ngày càng sâu vào đời sống văn hóa - x
hội Việt Nam của Pháp.
*
Trong suốt quá trình làm luận văn, ngời viết đ nhận đợc rất nhiều sự ủng
hộ, giúp đỡ to lớn của các thầy, cô, các nhà nghiên cứu, bạn đồng nghiệp; đặc biệt
19
là các thầy, cô của Bộ môn Lịch sử Thế giới - Khoa Lịch sử. Luận văn có thể hình
thành trớc hết ngời viết xin đợc gửi lời tri ân chân thành đến PGS.TS. Nguyễn
Thừa Hỷ. Với tầm tri thức của mình, PGS.TS đ chỉ dẫn cho ngời viết nhiều nguồn
t liệu quý, gợi mở hớng tiếp cận; đặc biệt PGS còn dành thời gian để tôi có thể
bộc bạch và trao đổi những vấn đề khoa học về một số nhận định còn rất nhiều chủ
quan của ngời viết.
Những t liệu mà tôi có thể tra cứu và tiếp cận đợc không thể thiếu sự chỉ
dẫn và giúp đỡ của các cán bộ th viện Viện Sử học, EFEO, Viện Thông tin
KHXH, th việc Quốc gia, Trung tâm lu trữ Quốc gia I, phòng t liệu Khoa Lịch
sử - Trờng ĐHKHXH&NV (ĐHQGHN), Trung tâm Văn hóa Pháp CFC -
L'Espace. Research Group of Asian Trade History đ trợ giúp tôi rất nhiều khi tôi
gặp khó khăn trong quá trình lấy t liệu và kỹ thuật vi tính.
*
Đề tài Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ
XVII đến đầu thế kỷ XIX là một vấn đề nghiên cứu khó. Năng lực nghiên cứu của
ngời viết có hạn, còn nhiều hạn chế, dù đ rất cẩn trọng, nghiêm túc, luận văn
bản chủ nghĩa mà đại diện là các thơng nhân giàu có và ngày càng có thế lực. Lúc
này, nền kinh tế t bản chủ nghĩa đang đòi hỏi một sự "tích luỹ nguyên thủy t
bản" - nguyên liệu mới và vơn tới những vùng đất giàu tài nguyên, hàng hóa quý,
hiếm. Đặc biệt trong quá trình đó, việc đạt đợc lợi nhuận cao nhất, nhanh chóng
xác lập địa vị chính trị và tôn giáo của giai cấp t sản và sự định hình của nền kinh
tế t bản chủ nghĩa là những đòi hỏi bức thiết đối với các nớc Tây Âu thời kỳ này.
Từ cuối thế kỷ XV, các cuộc phát kiến địa lý lớn đ mở ra một chơng mới
cho lịch sử nhân loại. Có thể nói, biến chuyển đó đ góp phần kết thúc nhanh nền
kinh tế phong kiến ở châu Âu. Sự tham gia nhanh và mạnh mẽ của hai nớc tiên
phong Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đ đa họ lên vị trí cờng quốc hải thơng. Các
Conquistadores (Nhà chinh phục) đa phần xuất thân từ giai cấp quý tộc đ sa sút,
chính họ và các thơng nhân đ hăm hở đi tìm thị trờng mới giàu có. Tuy nhiên,
chắc chắn sẽ là thiếu sót nếu không kể đến sự có mặt đông đảo và thờng xuyên
của các giáo sĩ thuộc nhiều dòng tu lớn của Kitô giáo (nh dòng Augustin,
Dominicain, Franciscain (Francisco), Jésuites hay nhỏ hơn nh dòng: Capucins,
Barnabites, Oratoire, Carmélites, Lazaistes ) ở phơng Tây trên những thơng
đoàn sang phơng Đông với sứ mệnh truyền bá đạo Thiên chúa. Ngoài việc thực thi
sứ mệng thiêng liêng truyền giáo (hay còn gọi là động cơ tôn giáo) thì sự có mặt
của những giáo sĩ trên những chiếc thơng thuyền có thể đợc giải thích: 1. Xuất
phát từ lợi ích kinh tế của những giáo phận; 2. Sự có mặt của những thầy tu với
niềm tin tôn giáo, với những bất trắc đầy hiểm nguy luôn rình rập trên lộ trình gian
nan nhiều lúc mông lung, phiêu lu đ là nguồn động viên tinh thần và linh hồn bất
an cho các thủy thủ đoàn [37, 12-15].
Cuối thế kỷ XV, có một sự kiện quan trọng diễn ra trên thế giới. Theo đó,
năm 1494, cùng với quá trình phát kiến những vùng đất mới, dới sự thúc ép của
Giáo hoàng Alexandre VI, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đ cùng nhau ký một bản
Hiệp định nhằm phân chia phạm vị lnh thổ giữa hai nớc - Hiệp định Tordesillas
T
21
ce qui, ợles et continent [ ], est dộj dộcouvert ou viendra ờtre dộcouvert par les Roi et
Reine de Castille et d'Aragon [ ], depuis ladite ligne [ ] en allant vers le couchant [ ]
appartiendra auxdits Roi et Reine de Castille [ ].
Nh vậy theo Hiệp định Tordésillas, hầu hết các cùng đất Đông ấn đều
thuộc phạm vi quản hạt của ngời Bồ.
Trên bình diện thế giới, thế kỷ XV-XVI cũng đợc coi là thế kỷ của những
cuộc phát kiến địa lý vĩ đại. Đây là lúc mà phơng Tây nhận thức về một phơng
Đông "thiên đờng" (paradise) ngày càng đầy đủ và trực tiếp hơn. Chủ nghĩa t
bản đang đợc xác lập và tìm đờng đến nhiều châu lục để săn lùng nguyên liệu,
thị trờng và thuộc địa, ra sức xâm chiếm thuộc địa, tìm khu vực để lập ảnh hởng
kinh tế. Và, từ sự bành trớng về thơng mại và kinh tế đến cuộc đô hộ về chính trị
con đờng này không quá xa với họ. Trong qua trình đó, nói nh Marx và Engels:
xu thế lịch sử đang buộc tất cả các dân tộc phải theo phơng thức sản xuất t bản
Phạm vi kiểm soát của ngời Bồ Đào Nha theo
Hiệp định Tordésillas năm 1494
22
nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn
minh, nghĩa là phải thành t sản; nông thôn phụ thuộc vào thành thị, dân tộc nông
dân phải phụ thuộc và dân tộc t sản, phơng Đông phải phụ thuộc vào phơng
Tây. Ngay từ đầu, nhà nớc và t nhân châu Âu đ bỏ ra nhiều tiền nội quốc cũng
nh chiến lợi phẩm thu về từ sau các chuyến thám hiểm để thành lập và tài trợ cho
các giáo đoàn (missions) đi truyền đạo ở vùng đất mới chiếm, mở trờng học,
chủng viện [37, 12-15].
Nh chúng tôi đ trình bày, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là hai nớc châu
Âu đầu tiên có mặt ở phơng Đông. Năm 1498, Bồ Đào Nha đ đến đợc ấn Độ và
sự kiện này đợc coi là mốc đặc biệt quan trọng mở đờng cho quá trình xâm nhập
vào các xứ Đông ấn. Năm 1505, ngời Bồ đến Ceylon. Năm 1510, họ đ đặt đợc
thơng điếm ở Goa. Chỉ một năm sau (năm 1511), Bồ Đào Nha đ xâm chiếm
lớp thị dân ngày càng đòi hỏi một sự độc lập và có địa vị chính trị và x hội, thậm
chí cả trong đời sống tôn giáo. Đến thế kỷ XV, cùng với sự diệt vong của kinh tế
lnh địa, hình thành nhà nớc phong kiến tập quyền, phần đông dân chúng ở nhiều
nớc Tây Âu đ không còn là những nông nô gắn chặt với mảnh ruộng và miếng
đất của lành chúa. Tầng lớp t sản thành thị trên đà phát triển và đang trong quá
trình xác lập địa vị của một giai cấp đông đảo trong x hội.
Mặc dù chậm chân hơn hai nớc thực dân đầu tiên là Bồ Đào Nhà và Tây
Ban Nha trên con đờng tiến sang phơng Đông, nhng nớc Hà Lan thành lập
năm 1581 đ nhanh chóng bắt nhịp với tuyến liên vận thơng mại Đông - Tây, tạo
điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế t bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng. Hà
Lan đặc biệt chú trọng tới lĩnh vực sản xuất phục vụ cho thơng mại đờng biển và
quốc gia này tích cực, chủ động dấn thân vào vòng xoáy kinh tế lúc đó. Cho đến
đầu thế kỷ XVII, ngời Hà Lan đ lập đợc thơng điếm ở Ceylan (Srilanka), Siam,
Nhật Bản, Nam Dơng (hay Indonesia). Không lâu sau đó, với u thế áp đảo, Hà
Lan trở thành cờng quốc hành hải đứng hàng đầu thế giới với biểu tợng là Công
ty Đông ấn Hà Lan (VOC - Vereenigde Oost - Indische Compagnie thành lập năm
1602) hùng mạnh. Bên cạnh đó, là một nớc cũng sớm hơn Pháp trong quá trình
bành trớng sang phơng Đông, năm 1600 Công ty Đông ấn Anh (East India
Company - EIC) thành lập và trong quá trình hoạt động luôn cạnh tranh gay gắt với
ngời Hà Lan, Bồ Đào Nha và với cả các nớc phơng Đông.
Trên bình diện khu vực Đông Bắc á, Đông Nam á, từ thế kỷ XVII, các
quốc gia phơng Đông cổ truyền bắt đầu có nhiều thay đổi. Đây là thời kỳ các
vơng quốc phong kiến Đông á có những biến động chính trị lớn. Tất nhiên, sự sa
sút của từng nớc là không cùng thời điểm và mức độ cũng khác nhau. Mỗi một
vơng triều đều đ tận dụng các tiềm năng trong x hội mình nhng không còn đủ
sức thực hiện những đòi hỏi thay đổi nền kinh tế - x hội đang trở nên trì trệ và bị
tiêu hao vì những cuộc chiến tranh nhằm xác định lnh thổ và quyền lực. Sự xâm
nhập của chủ nghĩa t bản phơng Tây đợc đánh dấu bằng cuộc tấn công của
ngời Bồ Đào Nha vào vơng quốc Malacca đ dẫn tới sự suy sụp của các quốc gia
này. Các nớc phơng Tây chiếm lĩnh nhanh chóng cả về mặt chính trị và lnh thổ
giữa các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, nh một số nhà nghiên cứu cho rằng
cho đến giữa thế kỷ XVII thì về cơ bản các nớc phơng Đông đang đứng trớc
một quá trình xâm thực của chủ nghĩa phơng Tây, trớc sự lựa chọn phát triển,
cùng những ứng đối bắt đầu rất riêng biệt ở các quốc gia này [52, 5-6]. Trên thực
tế, cho đến giữa thế kỷ này, mặc dù đ xuất hiện mầm mống của một nền sản xuất
mới tiến bộ nhng các nớc phơng Đông lại đang ở vào thời kỳ phát triển cao của
một mô thức kinh tế - x hội phong kiến. Một số nhà nghiên cứu Việt Nam cho
rằng, thậm chí cho đến thế kỷ XIX một số nớc phơng Đông vẫn đạt đến đỉnh cao
của hệ thống phong kiến truyền thống và nhu cầu cải cách nội sinh vẫn cha thực
sự xuất hiện [13, 373-386]. Nhng "tất cả những đề kháng đó dù có khác biệt
nhng cũng không thể không tính đến hai nhân tố đặc biệt quan trọng và thờng