MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình tất yếu đối với các nước lạc
hậu muốn trở thành các nước có nền sản xuất lớn. Sự cất cánh của bốn con rồng
Châu á đều có quá trình tích lũy thông qua ngành dệt may và xuất khẩu dệt may.
Đối với Việt Nam, ngành công nghiệp dệt may có vị trí to lớn trong tiến trình
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mười năm qua, ngành dệt may đã có
bước phát triển mạnh mẽ trở thành ngành xuất khẩu đứng thứ hai sau dầu thô,
song vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng gia công. Làm gì để ngành dệt may Việt
Nam có thể cất cánh? Đó là một câu hỏi không chỉ riêng ngành dệt may mà cả
chính phủ phải quan tâm.
Để đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam, vấn đề đặt
ra cho toàn ngành cần thiết phải nghiên cứu tiếp cận và thâm nhập thị trường
tiềm năng, mở rộng các thị trường hiên có. Đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may
Việt Nam sang Hoa Kì, Việt Nam không chỉ đạt được sự tăng trưởng ổn định về
ngoại thương mà còn phải thực hiện chiến lược đa dạng hoá thị trường xuất
khẩu. Vì vậy trong bài viết này em xin trình bày: "Một số cơ hội thách thức mà
ngành dệt may gặp phải và các giải pháp cơ bản để thúc đẩy quá trình hội
nhập của ngành dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ".
1
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CHUNG VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM.
Ngành sản xuất sản phẩm dệt may nước ta đã có truyền thống lâu đời,
nhưng ngành vẫn chỉ dừng ở trình độ sản xuất thủ công nghiệp và phổ biến là
“làng nghề”. Quá trình chuyển hóa từ sản xuất thủ công lên sản xuất công nghiệp
mới chỉ đựoc ghi nhận khoảng 1 thế kỉ với tác nhân là sự chuyển giao công nghệ
từ Châu Âu. Sự phát triển chính thức của ngành công nghiệp dệt may bắt đầu
khi khu công nghiệp Đông Nam á được thành lập năm 1889. Sau chiến tranh thế
giới thứ hai, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam mới thực sự phát triển cả về
quy mô và tốc độ, nhưng chủ yếu thuộc khu vực kinh tế quốc doanh.
Từ năm 1975 cho đến năm 1991 ngành công nghiệp dệt may cả nước vẫn
chủ yếu dựa vào thiết bị cũ được chuyển giao từ Trung Quốc, Liên Xô và các
nghiên cứu tìm hiểu kĩ đặc điểm này giúp cho mặt hàng xuất khẩu của ta ngày
càng phong phú, đa dạng hơn.
3
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM
VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KÌ.
1.Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ.
Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ được kí kết ngày 13/7/2000 đã chính thức
có hiệu lực mở ra nhiều cơ hội cho quan hệ thương mại song phương,trong đó
mở ra nhiều cơ hội cho việc xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị
trường Mỹ. Mỹ là một thị trường khổng lồ với dân số trên 270 triệu, GDP hơn
10.000 tỷ USD mỗi năm, trong đó 80% được dành cho tiêu dùng. Mỹ là một nền
kinh tế có sức mua lớn nhất thế giới. Hàng năm, Mỹ nhập khẩu hơn 1000 tỷ
USD, chiếm khoảng 1/5 tổng kim ngạch nhập khẩu toàn thế giới. Mặt khác, Mỹ
không những là một thị trường khổng lồ mà còn có sức chi phối và ảnh hưởng
rất lớn đến thị trường thế giới cũng như các tổ chức thương mại và tài chính
quốc tế.
Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công tương đối rẻ, có nhiều
ngành nghề truyền thống trong đó có ngành dệt may, nên có khả năng và lợi thế
trong sản xuất ngành hàng này. Đây là mặt hàng mà thị trường Mỹ có nhu cầu rất
lớn và họ đã mất lợi thế so sánh trong mặt hàng này.
Kể từ khi lệnh cấm vận được bãi bỏ, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sang Mỹ liên tục tăng nhanh. Nếu năm 1994, kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của
Việt Nam sang Mỹ là 50,4 triệu USD thì năm 2001 là 1.065,3 triệu USD, tăng
gấp 11 lần so với năm 1994, làm cho tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ tăng
lên7,26% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Đến năm 2003, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu hàng may mặ lớn
thứ 7 trên thị trường Mỹ với tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,48 tỷ USD tăng 161%
4
về giá trị và 131% về sản lượng so với năm 2002. Theo số liệu thống kê Nhập
hiệu quả cao hoặc đầu tư sang các nước có trình độ thấp (có lợi thế về lao động)
để thu được nhiều lợi nhuân hơn. Nhiều nước từ xuất khẩu hàng may mặc đã trở
thành nước nhập khẩu về may mặc như Singapore, Braxin, Achentina…Điều này
đã trở thành cơ hội cho các nước xuất khẩu hàng may mặc như nước ta.
Cơ hội thứ hai là xu hướng chuyển đơn đặt hàng nhập khẩu của các doanh
nghiệp từ các bạn hàng truyền thống là các quốc gia có nền an ninh không ổn
định như Pakistan, Thổ Nhĩ Kì, Indonexia,… sang Trung Quốc, Thái Lan, Việt
Nam. Tuy nhiên để biến cơ hội này thành hiện thực thì vấn đề đặt ra là các doanh
nghiệp Việt Nam phải nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng, mẫu mã, giá
cả, dịch vụ bán hàng và sau bán hàng…với các đối thủ cạnh tranh chính như
Trung Quốc, Thái Lan.
Cơ hội tiếp theo khi tham gia hội nhập là mở rộng thị trường. Mở rộng
quan hệ thương mại có nghĩa là ngoài việc mở rộng các thi trường truyền thống:
Nhật Bản, EU còn tạo điều kiện cho ngành dệt may nước ta thâm nhập vào các
thị trường mới đầy tiềm năng như: Nam Mỹ, Châu Phi
Ngành dệt may Việt Nam đã có một số thuận lợi từ trước khi hiệp định
thương mại Việt – Mỹ có hiệu lực, trong hoàn cảnh mới ngành dệt may lại có
thêm những thuận lợi mới.Từ trước đến nay hàng dệt may Việt Nam có giá cả
thấp, nay lại được hưởng thuế suất ưu đãi từ phái Mỹ sau khi hiệp định Việt –
Mỹ có hiệu lực. Đây là một thuận lợi lớn vì tại thị trường Mỹ này, người dân có
thói quen mua bất cứ thứ gì được bán giảm giá và hiếm khi mua hàng chưa được
chiết khấu. Trong thực tế, giá hàng may mặc ở Mỹ đã giảm tới 60% trong thập kỉ
qua. Điều này bắt buộc các doanh nghiệp Mỹ phải tìm kiếm nguồn cung cấp
6
mới, chi phí thấp hơn nhưng chất lượng vẫn được duy trì. Việt Nam với lợi thế
giá cả hàng may mặc rẻ và thuế quan đối với hàng dệt may xuất khẩu giảm từ
40% xuống còn 20% theo hiệp định thương mại Việt Mỹ, đã trở thành một sự lựa
chọn.
Lợi thế của ngành dệt may nước ta, đặc biệt là ngành may xuất khẩu đang
có những lợi thế cần phải nhanh chóng tận dụng thời cơ đó để khai thác. So với
Việt Nam tham gia hôi nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện các cơ chế của
một nền kinh tế thị trường đang trong quá trình hình thành ở nước ta. Hệ thống
lụât pháp của nước ta đang trong quá trình hoàn thiện. Nhiều chính sách liên
quan đến mở cửa thị trường và điều tiết quan hệ kinh tế đối ngoại còn thiếu hoặc
chưa phù hợp với quy định và thông luật quốc tế. Mặt khác, Việt Nam tham gia
hội nhập chậm hơn so vơí các nước khác trong khu vực. Trong khi các nước
muốn đẩy nhanh quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư với quy mô sâu rộng
hơn thì Việt Nam lại rất cần đủ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước , bên
cạn đó kiến thức của ta về hôi nhập kinh tế cũng như các vấn đề liên quan còn có
rất nhiều hạn chế bất cập.
Theo các chuyên gia đã khuyến cáo là ngành dệt may cũng gặp phải những
thách thức không nhỏ. Ngoài sức ép cạnh tranh ngày càng lớn trong diều kiện
hạn chế về kinh nghiệm tiép cận thị trường, sự thông thạo luật pháp phương thức
và công nghệ kinh doanh theo thông lệ quốc tế…các doanh nghiệp còn phải chấp
nhận sự thua thiệt trong đối xử quốc gia. Điều này xuất phát từ thực tế là giữa
Việt Nam và Hoa Kì vẫn chưa đạt được một hiệp định song phương về dệt may.
8
Do vậy cho dù hiệp định được thực thi thì hàng dệt may cao cấp vào thị trường
Mỹ vẫn phải chịu mức thuế cao gấp 10 lần so với mức thuế ưu đãi tối huệ quốc
cho đến khi nào hai bên kí được hiệp định song phương trên lĩnh vực này.
Hiện nay Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO nên Mỹ vẫn có thể
đưa ra các biện pháp hạn ngạch thuế quan để hạn chế về số lượng đến thời điểm
hiệp định dệt may ATC quy định trong khuôn khổ đàm phán song phương về
việc Việt Nam gia nhập WTO tới đây.
Ngoài ra, Mỹ còn có những yêu cầu hết sức khắt khe trong nguồn gốc và
chất lượng sản phẩm. Trong hồ sơ kèm hợp đồng xuất khẩu hàng sang Mỹ của
các công ty dệt may luôn phải có những yêu cầu cứng minh xem vải được mua ở
đâu, phải có biên bản giám định độ co rút, độ phai mầu, độ độc hại… Báo cáo
chi tiết sản xuất của từng công nhân , từng chuyền, thẻ kiểm tra làm việc của
từng công nhân…Về thông số, có mã hàng quy định tiêu chuẩn kích thước 1 inch
và có những chính sách khuyến khích đầu tư để tạo nguồn nguyên liệu cho
ngành nhằm tạo sự ổn cho việc sản xuất.
Ngoài ra nhà nước cần tăng cường xúc tiến thương mại trên thị trường
Mỹ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam. Xây dựng hệ thống và cơ chế
cung cấp thông tin về thị trường dệt may Mỹ cho các doanh nghiệp trong nước.
10
KẾT LUẬN
Ngành công nghiệp dệt may được khẳng định là một thế mạnh trong sự
phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, đặc biệt với một nước đang phát triển và
đang ở giai đoạn đầu của quá trình Công nghiệp hoá như Việt Nam . Ngành dệt
may trong những năm qua đã đóng góp phần đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu
và là một ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam . Đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu hàng dệt may là nhiệm vụ quan trọng để thực hiện CNH-HĐH hướng về
xuất khẩu của đất nước. Xu hướng phát triển hàng dệt may thế giới đã mở ra
nhiều cơ hội cho ngành dệt may VN.Tuy nhiên, trong quá trình thâm nhập vào
thị trường Mỹ ngành dệt may Việt Nam đã, đang và sẽ gặp phải không ít khó
khăn chủ quan và khách quan cản trở kim ngạch của ngành đạt tới mức tiềm
năng của ngành.
Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là phải xác định
đúng sản phẩm mũi nhọn có thế mạnh để đầu tư công nghệ mới gắn với thị
trường và phải tạo ra được những sản phẩm có tính cạnh tranh về giá cả, chất
lượng cũng như đáp ứng được thị hiếu của người Mỹ.
11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Ngoại Thương ( Đại học quản lí kinh doanh )
2. Báo phát triển kinh tế
3. Thời báo kinh tế Việt Nam
4. Báo nghiên cứu và trao đổi
5. Tin tức trên internet
6. Tạp chí Thương Mại