1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐỖ THỊ KIM THOA
VAI TRÕ CỦA KITÔ GIÁO TRONG
VĂN HÓA - XÃ HỘI NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN
TỪ 1945 ĐẾN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Châu Á Học
HÀ NỘI - 2013 3
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
MỞ ĐẦU 5
CHƢƠNG 1 13
KHÁI LƢỢC VỀ KITÔ GIÁO VÀ SỰ TRUYỀN BÁ VÀO NHẬT BẢN 13
1.1 Khái lƣợc về Kitô giáo 13
1.2 Khái lƣợc lịch sử truyền đạo Kitô vào Nhật Bản 19
CHƢƠNG 2 30
VAI TRÕ CỦA KITÔ GIÁO ĐỐI VỚI GIÁO DỤC - Y TẾ VÀ CÔNG TÁC XÃ
HỘI NHẬT BẢN TỪ 1945 ĐẾN NAY 30
2.1 Vai trò của Kitô giáo đối với giáo dục Nhật Bản 31
2.2 Vai trò của Kitô giáo đối với y tế và công tác xã hội 41
CHƢƠNG 3 50
VAI TRÕ CỦA KITÔ GIÁO ĐỐI VỚI SINH HOẠT VĂN HÓA CỦA
NHẬT BẢN TỪ 1945 ĐẾN NAY 50
3.1 Đám cƣới theo phong cách Công giáo 51
3.2 Lễ Giáng Sinh 55
KẾT LUẬN 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 74
5
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Tìn ngƣỡng nói chung và tôn giáo của một dân tộc n ói riêng là một trong
những yếu tố biểu hiện rõ nét nhất thế giới quan và nhân sinh quan của dân tộc
đó. Đối với Nhật Bản điều này cũng không phải là một ngoại lệ. Thần Đạo, Phật
giáo và Kitô giáo đã biểu hiện rất rõ nét cách nhín thế giới của ngƣời Nhật. Tuy
nhiên phải nói rằng Nhật Bản là một trong những quốc gia có sự không nhất
quán về tôn giáo khi điều tra về số lƣợng những ngƣời theo đạo. Tổng số lƣợng
những ngƣời theo các loại tôn giáo khác nhau bao giờ cũng cao hơn tổng dân số
của cả nƣớc rất nhiều. Ngƣời Nhật hính thành những thói quen và thực hành các
phong tục tập quán có nguồn gốc và theo phong cách tôn giáo khác nhau. Họ
đến lễ ở các đền của đạo Shinto (Thần đạo) vào năm mới, đi thăm các chùa
chiền của đạo Phật vào mùa xuân nhƣng tổ chức tiệc tùng và tặng quà nhau vào
dịp lễ Noel theo cách của đạo Kitô. Nếu nhƣ ma chay thƣờng đƣợc tiến hành
theo nghi lễ của Phật giáo thí đám cƣới lại thƣờng mang phong cách của Thần
đạo hoặc Kitô giáo.
điều kiện đất nƣớc mới thoát khỏi chiến tranh, vừa đồng thời giảm đƣợc bất bính
đẳng. Các nhà nghiên cứu về kinh tế và phát triển lại cùng nhau đi tím câu trả lời.
Một số công trính đã lý giải sự thành công của Nhật Bản bằng những yếu tố văn
hóa và thể chất, những yếu tố mang đặc thù Phƣơng Đông truyền thống, chẳng
hạn nhƣ vai trò của Khổng giáo và các thiết chế gia đính. Một loạt các công
trính khác, đặc biệt là báo cáo nghiên cứu "Sự thần kỳ Đông Á" của nhóm
chuyên gia Ngân hàng thế giới xuất bản năm 1993, đánh giá rất cao vai trò của
chình sách cộng đồng trong tăng trƣởng kinh tế và giảm bất bính đẳng ở Nhật
Bản. Một trong những lý do đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm phân tìch đó là
vai trò của nhân tố con ngƣời trong sự phát triển kinh tế của Nhật Bản hay nói rõ
hơn là vấn đề giáo dục, quản lý nhân công… Những công trính đó đã đạt đƣợc
7
một số thành công nhất định trong việc phân tìch nguyên nhân làm nên giai đoạn
phát triển thần kỳ của Nhật Bản.
Qua từng chặng đƣờng phát triển kinh tế của Nhật Bản với những điều kiện
bƣớc đầu không mấy thuận lợi nhƣng bù lại Nhật Bản lại có những định hƣớng,
chình sách quản lý đúng đắn của nƣớc Nhật. Điều đó làm thức tỉnh cho tất cả
mọi nƣớc đang phát triển phải học tập, nhất là đối với Việt Nam khi nƣớc ta
đang có những xu hƣớng phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nƣớc. Sự phát triển vƣợt bậc và làm cả thế giới biết đến Nhật Bản không
phải là trong chốc lát một sớm một chiều. Đó là kết quả của quá trính kết tinh,
hội tụ các yếu tố, trong đó việc du nhập kiến thức, khoa học kỹ thuật phƣơng
Tây đóng một vai trò vô cùng lớn lao mà Kitô giáo chình là cầu nối trực tiếp và
gián tiếp cho quá trính du nhập đó.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn
Hiện nay đã có không ìt những công trính nghiên cứu về Nhật Bản ở Việt
Nam và thế giới trong đó có một số công trính đề cập đến tôn giáo ở Nhật Bản.
Nhƣng viết chuyên về Kitô giáo Nhật Bản thí gần nhƣ chƣa có và lại càng khan
hiếm những đề tài viết về vai trò của tôn giáo này đối với văn hóa xã hội Nhật
tham khảo và khai thác hoàn thiện đề tài của mính. Đồng thời cũng gợi mở cho
tác giả có những hƣớng suy nghĩ mới mẻ.
Trƣơng Ngọc Dũng với cuốn Nhật Bản học, Nxb Tổng hợp Tp HCM, 2008.
Trong chuyên luận này tác giả phân tìch mối quan hệ giữa Tôn giáo và chình trị
trong lịch sử Nhật Bản đồng thời đề cập đến vai trò của đạo Thiên chúa đối với
tiến trính hiện đại hóa Nhật Bản. Tuy nhiên tác giả không đề cập nhiều đến quá
trính truyền giáo cũng nhƣ chỉ đề cập đến một vài ảnh hƣởng nhỏ của Kitô giáo
với Nhật Bản trong giai đoạn đầu.
Sueki Fumihiko với cuốn Lịch sử tôn giáo Nhật Bản. Tác giả là một
chuyên gia hàng đầu của Nhật Bản trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tƣ tƣởng,
9
đặc biệt là tƣ tƣởng tôn giáo hiện nay. Ông đã có một thời gian dài giảng dạy tại
đại học Tokyo sau đó chuyển sang công tác tại trung tâm nghiên cứu văn hóa
Nhật Bản Quốc tế (Nichibunken), nơi tập trung nhiều chuyên gia hàng đầu của
Nhật Bản về các lĩnh vực trong ngành khoa học xã hội nhân văn. Khác với
Maruyama Masao, một cây đại thụ trong nghiên cứu tƣ tƣởng Nhật Bản, trong
trƣớc tác này Sueki Fumihiko đã tái cấu trúc khái niệm cổ tầng và thiết định đây
là thứ đƣợc hính thành và bồi tụ trong quá trính lịch sử, chứ không phải là yếu tố
bản sắc bất biến. Với những kiến thức uyên thâm và lập luận chặt chẽ, ông đã
nhƣ một ảo thuật gia sử dụng khái niệm này để bóc tách các tầng văn hóa có
đƣợc bởi các tôn giáo nhằm tím ra cổ tầng, yếu tố chi phối toàn bộ tƣ duy, tƣ
tƣởng tôn giáo của Nhật Bản. Cũng trong tác phẩm này Sueki Fumihiko đã đƣa
ra cách nhín toàn diện về luồng tƣ tƣởng dẫn đến việc Nhật Bản tham chiến. Tuy
nhiên cũng trong trƣớc tác này thí phần để nói về Kitô giáo không nhiều. Dƣờng
nhƣ nó chỉ là phần điểm xuyết bên cạnh việc tập trung nói về Thần Đạo và Phật
Giáo.
Tác giả Joseph M.Kitagawa với cuốn Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản. Tác
giả là một học giả nổi tiếng ngƣời Nhật có nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy
lịch sử tôn giáo Nhật Bản, Phƣơng Đông học ở các trƣờng Đại học Hoa Kỳ.
giáo này đối với một số lĩnh vực văn hóa xã hội Nhật Bản từ 1945 đến 2010.
Đồng thời cũng để ngƣời đọc hính dung đƣợc một cách cơ bản nhất quá trính
phát triển tôn giáo này ở Nhật Bản.
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Ví những điều kiện khách quan và chủ quan tác giả luận văn chỉ lựa chọn
một số lĩnh vực văn hóa xã hội tiêu biểu để nghiên cứu và giới hạn chủ yếu
trong khoảng thời gian từ 1945 đến 2010.
11
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn chủ yếu vận dụng lý luận triết học duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử về tôn giáo để nghiên cứu.
Luận văn tham khảo một số công trính nghiên cứu chình của ngƣời Nhật và
các học giả Việt Nam cũng nhƣ nƣớc ngoài về lịch sử truyền giáo, tính hính đạo
Kitô ở Nhật Bản (từ năm 1945 đến khoảng 2010)
Tác giả cũng khai thác một số công trính nghiên cứu của các tác giả Nhật
Bản về mối quan hệ của Kitô giáo với sự phát triển của Văn hóa – xã hội Nhật
Bản từ 1945 trở lại đây đặc biệt trên lĩnh vực hội nhập văn hóa Đông Tây; quá
trính hiện đại hóa của văn hóa và xã hội Nhật Bản.
Luận văn có tham khảo một số công trính mới xuất bản gần đây của các tác
giả Việt Nam về Lịch sử, Lịch sử Tôn giáo và Lịch sử Văn hóa Nhật Bản.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng kết hợp các phƣơng pháp
nghiên cứu nhƣ phƣơng pháp phân tìch, so sánh hệ thống, khái quát nói chung
trên cơ sở tiếp thu thành tựu có liên quan từ những tài liệu sẵn có.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đóng góp thêm những nghiên cứu mới về vai trò của Kitô giáo trong đời
sống văn hóa xã hội Nhật Bản từ 1945 đến 2010 thông qua một số lĩnh vực cụ
thể.
Mở ra thêm một hƣớng nghiên cứu mới về Kitô giáo Nhật Bản nói riêng và
trên thế giới nói chung.
ra câu hỏi: “Tôn giáo là gí” mới chỉ đƣợc giới khoa học đề cập trong thời gian
gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi câu hỏi này
đƣợc đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học riêng biệt. Đối tƣợng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu
Âu khá sớm nhƣng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX.
Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con
ngƣời”. Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá
nhân trong nỗi cô đơn của mính, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chƣa từng cô
đơn thí anh chƣa bao giờ có tôn giáo”. Theo quan điểm của C.Mác: “Tôn giáo là
tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim,
cũng nhƣ nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc
phiện của nhân dân” [1, tr.437.]. Ph.Ăngghen có một khái niệm mang khìa cạnh
nguồn gốc của tôn giáo là: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đƣờng vào trong đầu
óc con ngƣời những lực lƣợng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống
hàng ngày …”. Còn theo từ điển tiếng Anh quốc tế của Webster xuất bản năm
1993 thí „Tôn giáo là một sự cảm nhận hay xác tìn cá nhân về sự hiện hữu của
một đấng tối cao hay của những quyền lực hay một ảnh hƣởng siêu nhiên khống
chế định mệnh của bản thân, của nhân loại hay của vạn vật” [11, tr.7]
Một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới hiện nay là Kitô giáo. Kitô giáo bao
gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt văn hóa và các giáo phái khác
nhau. Số lƣợng tìn đồ Kitô giáo chiếm khoảng một phần ba dân số thế giới [6,
tr.581]. Nó cũng là tôn giáo có khu vực ảnh hƣởng rộng nhất và đóng vai trò cực
kỳ quan trọng trong tiến trính văn minh nhân loại và phát triển xã hội. Kitô giáo
14
xuất hiện vào thế kỷ thứ I ở khu vực phìa đông của đế quốc La Mã với chế độ
chiếm hữu nô lệ. Đế chế La Mã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lƣợc tàn
khốc, tạo ra nhiều mâu thuẫn và xung đột gay gắt trong đời sống xã hội. Trong
bối cảnh ấy đã làm nảy sinh những tƣ tƣởng đƣợc giải phóng và tự do. Bên cạnh
đó, vùng Trung Cận đông là nơi tiếp giáp 3 châu lục, dân cƣ ở đây vốn theo đa
Quá trính mở rộng ảnh hƣởng của đạo Kitô đã gây ra nhiều cuộc xung đột, mâu
thuẫn gay gắt giữa Kitô giáo với Do Thái giáo và Hồi giáo với những cuộc Thập
tự chinh tàn khốc và đẫm máu. Ngay trong bản thân Kitô giáo cũng nảy sinh
mâu thuẫn gay gắt, quyết liệt dẫn đến sự phân hoá Kitô giáo lần thứ nhất vào
năm 1054 thành 2 phái: Công giáo – thế lực lớn nhất ở phìa Tây La Mã và
Chình thống giáo ở phìa Đông La Mã.
Vào thế lỷ XVI, Giáo hội phƣơng Tây bị xé ra từng mảnh ví một cuộc cách
mạng dữ dội mà từ đó Giáo hội không bao giờ phục hồi đƣợc. Cuộc cách mạng
này đƣợc gọi là Cuộc Cải Cách [11, tr. 494], nhƣng nó đi xa hơn là việc cải cách
Kitô giáo bởi nó làm xáo trộn, phá vỡ sự thống ngự trên châu Âu của Kitô giáo,
thách thức quyền bình của Kitô giáo và làm ngăn trở tôn giáo ấy nhiều thế kỷ.
Những nguyên nhân của cuộc cách mạng này rất nhiều, đa dạng và phức tạp.
Tuy nhiên, những nguyên nhân chình có thể nêu lên một cách rộng rãi là sự trỗi
dậy của chủ nghĩa quốc gia châu Âu, kiến thức mới của thời Phục Hƣng và sự
sụp đổ quyền lực Giáo hoàng. Sự khởi đầu của cuộc Cải Cách Tin Lành thƣờng
đƣợc ghi nhận là vào năm 1517, khi Martin Luther (1483 – 1546) [6, tr. 631] dán
95 luận đề của ông trên cửa Giáo hội ở Wittenberg. Tiếp đó là sự cải cách John
Calvin (1509 – 1546) [6, tr. 634] với việc cho ra đời một quyển sách đồ sộ mà
sau này trở thành kinh điển của thần học Tin Lành, các qui tắc của Kitô giáo.
Ngoài ra còn có sự cải cách của Ulrich Zwingli (1484 – 1531) và một số nhà
lãnh đạo của các phong trào cải cách khác. Kết quả là đã làm xuất hiện Giáo hội
cải cách gọi là Tin lành [6, tr. 633]. Cũng trong thế kỷ XVI vua Anh tách Công
giáo ở Anh khỏi sự chỉ đạo của Giáo Hoàng và lập ra Anh giáo. Ngày nay, Kitô
giáo có hơn 400 dòng khác nhau trong đó có 4 nhánh lớn là Công giáo, Chình
thống giáo, đạo Tin Lành và Anh giáo.
16
Giáo lý Công giáo là một hệ thống từ giản đơn cho đến phức tạp của các
học thuyết kinh viện với các quan điểm triết học và thần học siêu hính, căn cứ
vào kinh thánh nhƣng phải dựa vào những lời giải thìch truyền thống và là thẩm
hiệp thông của các tìn đồ. Giáo hoàng có quyền lực cao nhất và có trách nhiệm
điều khiển mọi công việc của Hội thánh. Dƣới Toà thánh Vaticăng là Hội thánh
ở các địa phận. Điều khiển các Toà thánh ở địa phận là các giám mục. Giám mục
có quyền lực tối cao trong địa phận mính cai quản và tuyệt đối tuân lệnh Giáo
hoàng. Giám mục điều hành mọi công việc của địa phận, mỗi năm không đƣợc
vắng quá 3 tháng ở các địa phận, không đƣợc cƣ ngụ ở nhà anh em. Cơ sở thấp
nhất của Hội thánh là Giáo xứ (xứ đạo, họ đạo). Điều khiển giáo xứ và chăn dắt
tìn đồ là linh mục [21, tr. 352], linh mục tuyệt đối tuân lệnh giám mục. Có hai
loại linh mục: linh mục “Triều” là những linh mục theo đơn vị hành chình từ xứ
họ trở lên, linh mục “Dòng” là linh mục làm chuyên môn. Các linh mục có
nhiệm vụ chăm sóc giáo dân, không đƣợc rời xa quá 2 tháng trong một năm,
quyền lợi của các linh mục là quyền đƣợc làm các bì tìch và giáo huấn cho các
tìn đồ.
Vào lúc khởi đầu giáo hội Kitô giáo là một thành phần của Do Thái giáo và
tuân theo lịch những ngày lễ, hội của Do Thái Giáo. Khi sự phân chia giữa hai
tôn giáo phát triển, Kitô giáo bắt đầu thành lập lịch riêng của mính. Một số ngày
lễ chình của Kitô giáo có thể nhắc đến nhƣ: Lễ Giáng sinh đánh dấu ngày sinh
nhật chúa Giesu đƣợc Kitô giáo phƣơng Tây ăn mừng vào 25/12 trong khi Kitô
giáo phƣơng Đông lại tiến hành vào tháng Giêng. Mƣời hai ngày sau lễ Giáng
Sinh ngƣời Kitô giáo phƣơng Tây mừng lễ Ba Vua để tƣởng nhớ các nhà thông
thái đến Bethlehem tím chúa hài đồng Giesu. Lễ Phục Sinh là lễ xƣa nhất và
đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất trong lịch Kitô giáo. 40 ngày trƣớc lễ Phục Sinh
ngƣời Kitô giáo có ngày thứ tƣ Lễ Tro. 40 ngày kế tiếp ngƣời Kitô giáo giữ mùa
chay. Mùa chay kết thúc với Tuần Thánh. Ngày đầu tiên của tuần lễ này đƣợc
gọi là Chúa nhật Lễ lá khi ngƣời Kitô giáo tƣởng nhớ việc vào thành Gierusalem
vinh quang của chúa Giesu. Ngoài ra còn có một số ngày lễ khác nhƣ lễ Chúa
18
Nhật, Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống…
Kitô giáo ngày nay đối mặt với nhiều vấn đề độc đáo. Trong tất cả các tôn
truyền thống văn hóa Kitô giáo châu Âu, ngay cả rất nhiều trƣờng đại học nổi
tiếng với tƣ cách là trung tâm văn hóa tƣ tƣởng, lúc đầu cũng là do các giáo sỹ
truyền giáo hoặc các tìn đồ Kitô giáo đề xƣớng và ủng hộ nên mới đƣợc lập ra.
Bên cạnh đó do sự truyền giáo mạnh mẽ của các giáo sĩ dòng Tên [21, tr.397] ra
các khu vực châu Á, châu Phi ở thế kỷ XVI nên văn hóa Kitô giáo cũng đã ảnh
hƣởng và thâm nhập vào nhiều quốc gia và nhiều dân tộc ở hai khu vực này.
1.2 Khái lƣợc lịch sử truyền đạo Kitô vào Nhật Bản
Kitô giáo xuất hiện trên đất nƣớc mặt trời mọc vào thời điểm mà lịch sử
Nhật Bản gọi là sengoku jidai ( chiến quốc thời đại) hay giai đoạn xung đột
trong nƣớc. Tính trạng vô chình phủ tràn lan và trong nhiều năm đất nƣớc bị nội
chiến tàn phá. Có một điều đáng chú ý là tuy chinh chiến liên miên nhƣ vậy
nhƣng kinh tế và văn hóa trong giai đoạn này lại có nhiều khởi sắc. Năm 1549
những nhà truyền giáo dòng Tên đầu tiên là Francis Xavier (1506 – 1552) và
Cosme Torres (1510 - 70) đã đến Kagoshima và đây là mốc đánh dấu sự có mặt
của đạo Kitô trên xứ sở hoa anh đào. Phạm vi hoạt động chủ yếu của họ là ở
Kyushu (một hòn đảo xa nhất về phìa nam của Nhật Bản). Vài tuần sau khi đến
đây, Xavier đã đƣợc Shimazu Takahisa (lãnh chúa xứ Satsuma) [8, tr.25] tiếp đãi
nồng hậu và cho phép giảng đạo trong lãnh địa của ông. Trong thời gian này
Xavier đã rửa tội cho khoảng 100 ngƣời [8, tr.26]. Sau đó do mâu thuẫn và công
kìch các nhà sƣ Phật giáo trùng với sự kiện một chiếc tàu tiếp theo của ngƣời Bồ
Đào Nha đến và nhả neo ở hải cảng Hirado, hải cảng của kẻ thù của Takahisa
nên Takahisa đã trục xuất những nhà truyền đạo này do những toan tình thƣơng
mại không thành. Thiếu linh mục, những bất ổn về chình trị, sự thù địch của các
nhà sƣ, những cuộc bách hại địa phƣơng và đôi khi là sự sốt sắng thiếu khôn
ngoan của các thừa sai cũng nhƣ của những ngƣời trở lại đạo là những lý do
chình khiến cho Giáo hội chậm phát triển trong nhiều năm.
Năm 1600 khi Tokugawa Ieyasu thay thế Hideyoshi và trở thành tƣớng
20
quân của Nhật Bản, ông đã có thái độ khoan dung tƣơng tự với các nhà truyền
không mấy mặn mà với ngoại thƣơng. Nếu nhƣ cuộc tử đạo ở Nagasaki năm
1597 chỉ làm đổ máu ngƣời Kitô hữu Nhật Bản thí năm 1616 Hidetada đã thi
hành sắc lệnh chống Kitô giáo trong đó vừa trục xuất vừa xử trảm các linh mục
ngoại quốc. Năm 1618 có 68 ngƣời tử đạo [8, tr.201]. Đến năm 1619 con số này
là 90 nạn nhân. Bất chấp bách hại liên tục và đẫm máu, các thừa sai vẫn đem
đƣợc một số ngƣời trở lại đạo. Năm 1617 các thừa sai dòng Tên đã rửa tội đƣợc
cho 800 ngƣời, năm 1619 là 1800 và năm 1622 là khoảng 2000 ngƣời [8, tr.205].
Năm 1623 sau khi Hidetada từ chức tƣớng quân trên danh nghĩa, con trai
ông là Iemitsu lên kế nghiệp. Iemitsu đƣợc biết đến trong lịch sử Nhật Bản là
một vị tƣớng quân đã đóng cửa đất nƣớc đối với mọi ảnh hƣởng của ngoại quốc
và tiến hành những cuộc bách hại dữ dội nhất chống lại Kitô giáo. Nếu nhƣ dƣới
thời Ieyasu các nhà truyền giáo ngoại quốc bị trục xuất nhƣng không một linh
mục ngoại quốc nào bị xử tử. Hidetada tiến thêm một bƣớc là nhiều nhà truyền
giáo bị chém đầu hoặc thiêu sống nhƣng các hính phạt tra tấn vẫn chƣa đƣợc áp
dụng. Còn đến thời Iemitsu thí những ngƣời theo đạo Kitô cũng nhƣ các nhà
truyền giáo phải chịu những hính phạt tra tấn khủng khiếp nhất nhƣ dím trong
nƣớc lạnh hay thiêu sống. [8, tr.214] cho tới khi họ công khai chối bỏ đức tin
của mính hoặc mất mạng. Năm 1624 hơn 200 ngƣời theo đạo Kitô đã tử đạo.
Những năm 1627 - 1634 là giai đoạn thảm khốc nhất kể từ khi nổ ra cuộc bách
hại không chỉ về con số mà cả về mức độ tàn bạo của những hính phạt tra tấn.
Tình đến tháng 3-1623 vẫn còn 23 nhà truyền giáo dòng Tên, 1 nhà truyền giáo
dòng Augustino, 2 nhà truyền giáo dòng Đa Minh và 7 hoặc 8 nhà truyền giáo
dòng Phanxico tại Nhật Bản. Với những nỗ lực cuối cùng các nhà truyền giáo
cải trang thành các thƣơng gia bì mật đến Nhật Bản trên một chiếc tàu của Tây
Ban Nha. Tuy nhiên vào khoảng thời gian đó những lệnh nghiêm ngặt đƣợc
chình quyền ban ra tại Macao cấm bất cứ nhà truyền giáo nào đến Nhật Bản trên
các tàu của Bồ Đào Nha. Mặt khác tất cả các quan hệ mậu dịch giữa Manila và
Nhật Bản bị cắt đứt vào năm 1624. Do vậy các nỗ lực của 3 Hội Dòng nhằm
22
nghi ngờ chia rẽ nhƣ mỗi ngƣời dân buộc phải tố giác những ngƣời tin theo tôn
giáo bị cấm, và để có đƣợc sự hợp tác nhiệt tính hơn của mọi ngƣời, chình
quyền còn đƣa ra hính thức thƣởng tiền cho những ai tố giác các Kitô hữu.
Hậu quả tất yếu của các cuộc điều tra tôn giáo nói trên là hầu nhƣ không
một ngƣời theo đạo Kitô nào còn sót lại nào mà không bị phát hiện cho dù ngƣời
ấy đã cố che dấu đức tin của mính với một cái vỏ bề ngoài là bỏ đạo mà các tài
liệu của Nhật gọi là kakure kirisutan. Trên thực tế các sử liệu của Nhật Bản cho
thấy hàng ngàn ngƣời theo đạo Kitô bị bắt và các cuộc hành quyết tập thể diễn
ra ở nhiều tỉnh trong suốt nửa sau thế kỷ XVII.
Giữa thế kỷ XIX, mâu thuẫn sâu sắc giữa kinh tế tƣ bản chủ nghĩa với quan
hệ sản xuất phong kiến lỗi thời đã dẫn đến một thời kỳ sâu sắc. Những cuộc đấu
tranh của nhân dân nổ ra liên tiếp làm cho chế độ phong kiến Mạc Phủ phải trải
qua một thời kỳ khủng hoảng trầm trọng. Năm 1868 cuộc cách mạng dƣới sự
lãnh đạo của của Thiên hoàng Mutsuhito thắng lợi. Chế độ Tokugawa hoàn toàn
bị xóa bỏ và chình phủ của Thiên hoàng đƣợc thành lập mở đầu một kỷ nguyên
mới của Nhật Bản, kỷ nguyên Minh Trị Duy Tân. Đây là thời kỳ Nhật Bản bắt
đầu công cuộc hiện đại hóa và vƣơn đến vị thế cƣờng quốc trên thế giới. Các hiệp
ƣớc thƣơng mại đã chấm dứt tính trạng bế quan tỏa cảng của Nhật Bản, nhƣng
không tháo gỡ đƣợc lệnh cấm Kitô giáo. Tuy nhiên ví các nƣớc phƣơng Tây đều
theo Kitô giáo nên Nhật Bản không thể không xem xét đến một số điều khoản về
các vấn đề tôn giáo. Đồng thời sau khi phái bộ Iwakura đi tuần du ở Âu mỹ về,
chình phủ Minh Trị thấy rõ sự gắn bó của ngƣời Tây phƣơng với đối với đạo
Thiên chúa và muốn Tây phƣơng chấp nhận Nhật Bản nên đã cho triệt hồi lệnh
cấm Đạo vào năm 1873. Từ đó các nhà truyền đạo Kitô đã vào Nhật cuối thời
Tokugawa để giúp đỡ về giáo dục và y liệu mới có điều kiện để tìch cực truyền
đạo. Trên cơ sở đó Đạo Kitô đã có một vài đóng góp nhất định đặc biệt là vấn đề
giáo dục và các phong trào liên kết thƣơng mại.
Riêng trƣờng hợp đạo Tin lành thí có mặt ở Nhật muộn hơn so với các
24
25
những nhà truyền giáo Tin Lành cũng thành công bƣớc đầu với công việc của
mính ngay cả trong thời kỳ cấm đạo của chình quyền Minh Trị.
Sau lệnh dỡ bỏ việc cấm đạo (1873), các hoạt động của đạo Tin Lành mặc
nhiên đƣợc thừa nhận đã mở ra một giai đoạn phát triển mới mạnh mẽ hơn trƣớc.
Thật vậy, những nỗ lực hoạt động từ trƣớc đó cho đến lúc này (1873) của các nhà
truyền giáo Tin Lành ở Nhật Bản đã đạt đƣợc những thành quả nhất định. Từ đây,
Nhật Bản bƣớc vào giai đoạn sùng bái phƣơng Tây nhất là thập niên 80 của thế kỷ
XIX, xu hƣớng phƣơng Tây hoá trở nên thịnh hành đến mức thành trào lƣu xã hội.
Thập niên 90 của thế kỷ XIX chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa dân
tộc và cùng với đó là tƣ tƣởng bài ngoại cũng phát triển rất mạnh, bởi vậy, ảnh
hƣởng của việc truyền đạo đã giảm đến mức thấp nhất.
Tháng 8 năm 1945, nƣớc Nhật Bản bị kiệt quệ và tan nát ví chiến tranh đã
chấp nhận đầu hàng các cƣờng quốc Đồng Minh, và theo chỉ dụ của Thiên
Hoàng, nhân dân đã hạ vũ khì. Suốt hơn sáu năm sau khi đầu hàng, Nhật Bản đã
bị đặt dƣới sự kiểm soát của quân Đồng Minh, chủ yếu là Mỹ. Song song với
việc phục hồi kinh tế, Nhật Bản đã hết sức cố gắng để khôi phục vị trì ngoại giao
quốc tế của mính.
Khi cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc và cuộc chiếm đóng nƣớc Nhật
bắt đầu, các nhà truyền đạo ngoại quốc quay trở lại hoạt động. Các tìn đồ Kitô
Nhật phải vƣợt qua một thời kỳ khó khăn để hàn gắn các vết thƣơng chiến tranh
về thể chất cũng nhƣ tinh thần. Vào lúc nhiều ngƣời mất lòng tin vào nƣớc Nhật
và nhiệt tính hƣớng đến với nƣớc Mỹ, đạo Kitô đã gây đƣợc sự chú ý, nhƣng
những thành tìch lâu dài thực sự lại thuộc về các phong trào tìn ngƣỡng mới của
Nhật Bản nhƣ Soka Gakkai, đƣợc xây dựng trên truyền thống tìn ngƣỡng của
ngƣời Nhật.
Hiến pháp sau chiến tranh đã đảm bảo tự do tìn ngƣỡng và tách tôn giáo ra
khỏi nhà nƣớc. Nhiều nhóm Kitô giáo đã phản đối những biểu hiện của chình