z
ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
X^]W
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Quan hệ thương mại Việt – Nhật từ
năm 1986 đến nay
Giáo viên hướng dẫn: Đặng Thị Lan
Sinh viên hướng dẫn: Bùi Quang Sắc
Lớp: A1 – CN9
Việt Nam đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa), mặc dù có những ảnh hưởng
của vấn đề chính trị mà quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản đã
có lúc phải tiến hành một cách không chính thức nhưng vẫn duy trì và có
xu hướng phát triển. Đặc biệt, ngày nay khi những cản trở về chính trị
không còn nữa thì quan hệ thương mại giữ
a hai nước càng có cơ hội phát
triển hơn bao giờ hết.
Với truyền thống dân tộc cùng với sự nhạy cảm trước xu thế của thời
đại trong những thập kỷ qua, là một quốc gia nghèo về tài nguyên thiên
nhiên này đã khẳng định vị trí của mình trước thế giới. Nhật Bản đã trở
thành một quốc gia với nền công nghiệp và kinh tế phát triển, có những giai
đoạn s
ự tăng trưởng kinh tế vượt mức tương đối. Từ năm 1999 đến nay
Nhật Bản tiếp tục giữ vị trí là nước có tiềm năng lớn thứ 2 trên thế giới về
kinh tế và tài chính.
Quan hệ thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam đã đạt được nhiều
thành tựu và có nhiều hứa hẹn phát triển trội đối với cả hai phía. Đẩy mạnh
quan h
ệ với Nhật Bản, Việt Nam có cơ hội tăng thêm vốn công nghệ và
kinh nghiệm quản lý, đồng thời Nhật Bản có thể tăng khối lượng hàng
nông, lâm , thủy sản và hàng nguyên liệu mua từ Việt Nam. Tiềm năng phát
triển kinh tế của cả hai nước là rất lớn. Vì vậy mà việc nghiên cứu quan hệ
thương mại Việt - Nhật để đề ra những biện pháp thúc đẩy quan hệ thươ
ng
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
5
mại giữa hai nước là vấn đề rất quan trọng và cần thiết trong xây dựng cũng
như thực hiện các chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
6CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ NHẬT BẢN
VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM- NHẬT BẢN
I. KHÁI QUÁT VỀ NHẬT BẢN
1.Vị trí địa lý
a. Diện tích
Quần đảo Nhật Bản nằm cách bờ đông của lục địa Châu á, trải dài
theo một hình vòng cung hẹp dài 3800km từ vĩ độ bắc 20
0
25
'
,
đến 45
0
33
’
.
Tổng diện tích của Nhật Bản là 337.815km
2
, lớn hơn Anh một chút nhưng
chỉ bằng 1/9 Ấn Độ và 1/25 Mỹ.
Nhật Bản bao gồm 4 đảo lớn: Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku
(xếp theo thứ tự đảo lớn nhất đến đảo bé nhất - nhiều dãy đảo và khoảng
3900 đảo nhỏ.
2. Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị Nhật Bản dựa trên quân chủ lập hiến, đứng đầu là
Nhật Hoàng. Thế như
ng thực tế Nhật Hoàng không có quyền lực gì với
chính phủ, người chỉ tham gia những hoạt động của nhà nước trong khuôn
khổ luật pháp quy định.
a. Lập pháp
Nền chính trị Nhật Bản dựa theo chế độ các Nghị viện. Nghị viện là
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là tổ chưc lập pháp duy nhất ở
Nhật Bản.
Nghị viện bao gồm: Hạ ngh
ị viện (512 ghế ), Thượng nghị viện (252
ghế). Hạ nghị viện có quyền đưa ra quyết định tín nhiệm hay không tín
nhiệm nội các, đây là quyền lực quan trọng nhất của Hạ nghị viện. Trong
khi đó Thượng nghị viện không có quền như vậy.
b. Hành pháp
Quyền hành pháp được giao cho nội các Chính phủ. Nội các Chính
phủ bao gồm Thủ tướng Chính phủ và không quá 20 Bộ trưởng chịu trách
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
8
nhiệm tập thể trước nghị viện. Thủ tướng là người được Nghị viện bổ
nhiệm và phải là thành viên nghị viện. Thủ tướng có quyền bổ nhiệm hay
bãi miễn quyền của các Bộ trưởng. Tất cả các Bộ trưởng phải là dân sự và
phần lớn trong số bộ phải là nghị viện. Nếu Hạ nghị viện thông qua quyết
định bất tín nhiệm chính phủ
thì Nội các phải từ chức trong vòng 10 ngày
Từ những năm 50 trở đi, mức sống của người dân Nhật Bản tăng lên
nhanh chóng. Với dân số 125 triệu người, khoảng 75% trong số hơn 40 triệu
gia đình ở Nhật thì 30,5 triệu gia đình có xe hơi riêng (1999). GDP của
Nhật năm 2001 là 2972,5 tỷ USD, du lịch ra nước ngoài của người dân Nhật
Bản trở thành biểu tượng của mức sống cao.
a. Những chính sách dẫn đến sự tăng trưởng kỳ diệu của nền kinh tế
Nhật Bản.
Phục hồi nền kinh tế thông qua việc đầu tư vào các ngành then chốt.
Người ta cho rằng nguyên nhân thành công trong việ
c phục hồi kinh tế của
Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai là việc Chính phủ Nhật Bản ưu
tiên đầu tư cho ngành năng lượng, đặc biệt là ngành than. Nhật Bản không
có dầu mỏ lại bị chiến tranh tàn phá nên các ngành công nghiệp thiếu ngoại
tệ để nhập vật tư nguyên liệu. Vì thế việc bảo đảm cho các ngành khôi phục
sản xuất dựa vào khai thác than trong nước là đi
ều không thể thiếu được.
Công việc này được tiến hành một cách thuận lợi nhờ có sự trợ giúp của
Chính phủ về tiền vốn. Có thể đây chính là động lực cho sự khôi phục các
ngành công nghiệp chế tạo khác.
b. Nhập công nghệ từ nước ngoài.
Sau chiến tranh, điều không thể thiếu đối với sự phát triển của ngành
công nghiệp ở Nhật Bản chính là việc tích c
ực nhập khẩu kỹ thuật, công
nghệ đặc biệt trong lĩnh vực luyện kim ô tô, máy tính, các nước tiên tiến
cũng tích cực cung cấp kỹ thuật cho Nhật. Giới công nghiệp Nhật Bản bằng
kỹ thuật công nghiệp nhập từ các công ty Âu Mỹ đã sản xuất và bán hàng
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
động bằng việc nới lỏng các quy chế. Mục đích của việc nới lỏng quy chế
này là thông qua việc thay đổi các luật lệ của nền kinh tế Nhật Bản để thực
sự tạo ra một cơ cấu mới của nền kinh tế đó.
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
11
Việc diễn ra cạnh tranh gay gắt ở trong nước có sự nới lỏng quy chế
có vẻ là một diễn tập cho một cuộc cạnh tranh với nước ngoài, thúc đẩy các
hãng phát triển năng lực của chính mình.
Hướng đi của nền công nghiệp Nhật Bản từ sau năm 1990 kinh tế
Nhật Bản có sự thay đổi về cơ cấu. Đến năm 1980 kinh tế Nhật Bản đã hoàn
toàn đạ
t tới sự lý tưởng của một xã hội công nghiệp, kết quả là đồng yên đã
lên giá, các ngành công nghiệp không có khả năng cạnh tranh tương đối đã
quyết định ngừng hoạt động và chuyển sang khu vực đang phát triển ở Châu
á. Họ nhận rằng trung tâm công nghiệp không còn ở Nhật nữa mà là khu
vực Châu á.
e. Những thành tựu của nền kinh tế Nhật Bản.
Công nghiệp đứng thứ hai trên thế gi
ới. Trong các ngành công nghiệp
hiện đại, Nhật hầu như có mặt ở tất cả các lĩnh vực mà điều kiện thiên nhiên
không ưu đãi, Nhật có sản lượng công nghiệp đứng thứ ba trên thế giới sau
Mỹ và Liên xô cũ. Trong ngành luyện kim Nhật đứng đầu về sản xuất thép,
thứ nhì về sản lượng nhôm, đồng kẽm. Nhật cũng đứng thứ nhì thế giới về
các ngành hoá d
ầu và cao su tổng hợp, thứ ba về xi măng. Công nghiệp cơ
khí là ngành quan trọng nhất trong nền kinh tế Nhật Bản. Sản phẩm của
ngành này rất đa dạng, quan trọng hơn là cả mặt hàng tàu biển, ô tô và thiết
bị điện tử. Một lĩnh vực mũi nhọn khác của nền công nghiệp Nhật Bản là
mọi người được hiến pháp bảo đảm. Ở Nhật Bản ngày nay, đạo Phật chiếm
ưu thế với khoảng 92 triệu tín đồ. Trong số các tôn giáo còn lại, đạo hồi có
khoảng 155.000 tín đồ bao gồm cả những người cư trú tạm thời trên đất
nước.
Đạo gốc của Nhật Bản là Thần đạo, có nguồn gốc từ thuyết vật linh
thiêng của người Nh
ật cổ. Thần đạo phát triển thành tôn giáo của cộng đồng
với những miếu thờ gia thần và các vị thần hộ mệnh của địa phương. Người
ta cũng thờ các vị anh hùng và thủ lĩnh xuất chúng của cộng đồng qua nhiều
thế hệ và thờ cúng hương hồn tổ tiên.
b. Giáo dục
Hệ thống giáo dục được phân thành 5 giai đoạn: vườn trẻ (từ 1 đế
n 3
năm), tiểu học (6 năm), trung học bậc thấp (3 năm) và trung học bậc cao (3
năm), đại học (thông thường là 4 năm). Còn có các trường cao đẳng với các
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
13
khoá học 2 hoặc 3 năm. Ngoài ra còn nhiều trường học mở các khoá nâng
cao sau đại học.
Giáo dục phổ cập miễn phí cho các em từ 6-15 tuổi. Tuy vậy tuyệt
đại đa số học sinh học hết trường trung học bậc thấp đều tiếp tục học lên và
trong thực tế các trường trung học bậc cao hiện đã trở thành bộ phận cơ bản
của hệ thống giáo dục trẻ em.
1. Nhật Bản trong tương lai
50 năm sau chiến tranh thế giới thứ II xã hội Nhật Bản đã hoàn toàn
tăng trưởng cao về kinh tế, trong nước có mạng lưới vận chuyển hiện đại,
tin. Nhóm công ty nhỏ nắm kỹ thuật tiên tiế
n sáng tạo ra công ty mới, hàng
hoá dịch vụ mới, cơ cấu theo kiểu mạng giúp cho mọi ý kiến có thể truyền
đạt nhanh chóng chứ không có cơ cấu kim tự tháp khổng lồ. Kết quả ngành
công nghiệp Nhật Bản có thể sản xuất các loại hàng hoá, dịch vụ có chất
lượng cao, chi phí thấp, phục hồi khả năng cạnh tranh quốc tế.
Hiện nay, “chế độ phát triển các công ty nhỏ nắm kỹ thu
ật tiên tiến”
đã được thiết lập để thực hiện tốt việc huy động vốn giúp các công ty vừa
và nhỏ có thể triển khai công việc, đồng thời đang nghiên cứu theo hướng
nới lỏng hàng loạt qui chế đang kìm hãm hoạt động tự do trên mọi mặt của
xã hội Nhật Bản. Nới lỏng qui chế, hình thành nên một xã hội mới trong
thời kỳ tiếp theo của Nhật Bả
n.
Sự vận động của xã hội Nhật Bản đến nay đã tạo điều kiện thuận lợi
để chuyển hướng cơ cấu công nghiệp trong thế kỷ 21. Một trong số những
ngành nghề mới là sản xuất hàng hoá mới, dịch vụ mới đem lại cuộc sống
thảnh thơi, mạng lưới vận tải hiện đại, đời sống ă
n uống chuyển hướng
quốc tế hoá, xu hướng giải trí, tất cả những nhân tố này đã thúc đẩy phương
pháp ngành nghề mới, tạo ta nhu cầu mới. Có nhu cầu, sẽ có cơ hội sản sinh
ra và phát triển đa dạng hoá ngành nghề mới.
Việc xây dựng một Nhật Bản mới dựa vào hệ thống thông tin sẽ thực
sự xảy ra vào thế kỷ 21. Sự thay đổi trong 50 năm sau chiế
n tranh thế giới
thứ II sau khúc dạo đầu hướng tới một xã hội mới tiếp theo của Nhật Bản.
Nền kinh tế công nghiệp và xã hội Nhật Bản đang thay đổi.
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
ắng
Nga trong chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905) ảnh hưởng của Nhật gia tăng
mạnh mẽ đối với các quốc gia nhược tiểu ở Châu á. Phong trào Đông du do
Phan Bội Châu đề xướng bắt đầu. Số học sinh du học sinh viên Việt Nam
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
16
lên đến 200 người (1908) trong đó 4 người được chính phủ Nhật đài thọ
hoàn toàn, nhưng về sau do muốn duy trì quan hệ tốt với Pháp. Chính phủ
Nhật đã trục xuất các du học sinh yêu nước Việt Nam. Quan hệ buôn bán
giữa Nhật Bản và Đông Dương thuộc pháp tăng lên trong những năm 1930
-1942. Nếu năm 1930 tỷ lệ buôn bán của Nhật với Đông Dương chỉ chiếm
khoảng 1,3% thì đến năm 1942 đ
ã tăng vượt lên 13,5%.
Từ năm 1943 trở đi hoạt động thương mại Việt Nam - Nhật Bản giảm
hẳn. Nguyên nhân do tình hình chính trị thế giới lúc đó đang có biến động
mạnh mẽ, thế lực phát xít đang yếu dần và tan rã. Thêm vào đó tháng 8 năm
1945 cuộc cách mạng đánh đuổi thực dân Pháp và phát xít Nhật thành công,
chính quyền thuộc về tay nhân dân Việt Nam, Phát xít Nhật đã đầu hàng và
rời khỏi Vi
ệt Nam. Sự ra đi này đồng nghĩa với sự chấm dứt thời kỳ hoàng
kim của quan hệ thương mại Việt - Nhật kiểu thuộc địa. Mặc dù phát xít
Nhật bị bại trận, nhưng các nhà tư bản lớn không dễ gì rời bỏ một thị trường
rất tiềm năng cho sự phát triển của nền kinh tế Nhật và có lợi cho họ. Vì
vậy quan hệ thươ
ng mại Việt – Nhật giai đoạn này đã có lúc không bình
đẳng, nhưng vẫn thể hiện nhu cầu buôn bán của hai nước.
Trong giai đoạn 1945 -1975: quan hệ Việt Nam và Nhật Bản rất phức
tạp và tế nhị do hoàn cảnh lịch sử, Việt Nam bị chia làm hai miền theo hai
đã bước sang một giai đoạn đầy triển vọng với sự giúp đỡ của hai chính
phủ. Chính vì vậy kim ngạch buôn bán Việt - Nhật năm 1974 tăng vọt lên
bằng 454,3% so với năm 1973, năm 1975 tăng 185,7% so với nă
m 1974
“nguồn thống kê của Bộ Tài Chính Nhật”.
Giai đoạn 1976-1985, Việt Nam bước vào thời kỳ khắc phục hậu quả
chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quan hệ chính trị của cả hai nước
đã được cải thiện tạo đà cho quan hệ thương mại phát triển, quan hệ thương
mại Việt - Nhật giai đoạn này tuy gặp thuận lợi hơn nhưng lại ph
ải gánh vác
trọng trách nặng nề phục vụ sự phát triển kinh tế của Việt Nam, nên giá trị
buôn bán giai đoạn này phát triển không nhiều song không còn lý do gì
ngăn cản hai nước tiến tới thiết lập quan hệ hợp tác kinh tế với nhau một
việc mà lẽ ra họ phải làm từ lâu.
2. Tầm quan trọng của việc đẩy mạnh mối quan hệ thương mại với Việt
Nam nhìn từ góc độ Nh
ật Bản
Như chúng ta đã biết sự phát triển kinh tế là mục tiêu lớn nhất của
Nhật Bản sau chiến tranh được mọi người dân đồng ý. Những mục tiêu này
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
18
không thể đạt được nếu không có được sự đóng góp của các nước Đông
Nam á trong đó có Việt Nam. Việt Nam là một trong những nước nắm
huyết mạch của Nhật Bản với thế giới bên ngoài (con đường này đi qua
Malaca, qua các nước Indonêxia, Malaisia, Singapore và Việt Nam …). Mặt
khác, Việt Nam là một nước giàu tài nguyên khoáng sản, có nguồn nhân
công dồi dào. Trong khi Nhật Bản có nền kinh tế phát triển nhưng lại phụ
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
19
Quốc và các nước Châu á - Thái Bình Dương, trong đó có Nhật Bản đã tạo
ra môi trường quốc tế và khu vực thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá của Việt Nam.
Là nước đi sau trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, Việt
Nam có lợi thế là có thể học tập kinh nghiệm của các nước đi trước và đặc
biệt là của Nhật Bản.
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
20
CHƯƠNG II
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN GIAI
ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY
I. NHỮNG NHÂN TỐ KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN THÚC ĐẨY
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – NHẬT BẢN 1. Nhân tố khách quan
Năm 1989 một sự kiện lịch sử rất lớn đã xảy ra đó là: Bức tường
Berlin bị phá vỡ, toàn nước Đức được thống nhất. Sự kiện này đã đánh dấu
Về phía Việt Nam
:
Việt Nam vẫn là một nước nghèo nàn lạc hậu vẫn bị cô lập và bao
vây về kinh tế. Giai đoạn này tình hình quốc tế đã có những thay đổi, nhân
tố này đòi hỏi Việt Nam phải có sự chuyển hướng chiến lược thiết lập nền
hoà bình ổn định khu vực. Mở hướng quan hệ kinh tế với các nước Đông
Nam Á, Châu Á Thái Bình Dương thực hiện phương châm “Việt Nam
muốn làm b
ạn với tất cả các nước vì hoà bình, độc lập và hợp tác phát
triển”.
Để thực hiện đường lối đó, chính phủ Việt Nam đã ban hành chính
sách cải tổ cơ cấu và mở cửa kinh tế vào năm 1986. Việt Nam bắt đầu thực
hiện sự chuyển hướng của mình với ba nội dung chính:
(1) Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nướ
c theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
(2) Từ bỏ mô hình công nghiệp hoá cũ, chuyển hướng cơ cấu ngành và điều
chỉnh cơ cấu đầu tư. Ưu tiên trọng tâm cho ngành sản xuất lương thực
thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.
(3) Mở cửa nền kinh tế đa phương hoá quan hệ thương mại và đầu tư, đa
dạng hoá các hoạt động kinh tế
đối ngoại, tự do hoá thương mại.
Việt Nam chuyển hướng phát triển kinh tế nhằm thu hút vốn kỹ thuật
tiên tiến của các nước nhằm thoát ra khỏi tình trạng cô lập và lạc hậu. Với
chính sách đổi mới đó tháng 12 năm 1987 Việt Nam đã ban hành luật đầu
tư. Sau đó cùng với chính sách tự do hoá thương mại và đẩy mạnh xuất
khẩu bộ mặt nền kinh tế Việt Nam đượ
c thay đổi cũng nhờ luật đầu tư nước
ngoài.
một nấc thang mới. Nét nổi bật trong quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật
Bản là sự tăng nhanh chóng các quan hệ buôn bán mậu dịch. Điều này được
thể hiện rất rõ ở kim ngạch buôn bán hai nướ
c ngày một tăng.
1. Sự tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam và Nhật Bản
Từ năm 1986 đến nay, ngay sau khi Việt Nam thực hiện chính sách
đổi mới nền kinh tế chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường và thực hiện
chính sách mở cửa, đây là bước ngoặt lớn của Việt Nam trong quá trình
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
23
phát triển kinh tế cả đối nội cũng như đối ngoại. Quan hệ thương mại giữa
Việt Nam - Nhật Bản cũng bước vào một giai đoạn mới với sự tăng lên
vững chắc về khối lượng buôn bán và sự quan tâm ngày càng cao của các
nhà kinh doanh và các công ty Nhật Bản đối với thị trường Việt Nam. Do
vậy năm 1988 là năm đầu tiên Việt Nam xuất khẩu dầu thô mà lại xu
ất sang
Nhật.
Tiếp đến tháng 10/1990 lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ giữa hai
nước có chiều hướng tốt đẹp bằng chuyến thăm của Ngoại trưởng kiêm Phó
thủ tướng Nguyễn Cơ Thạch đã sang thăm Nhật Bản. Chuyến thăm Nhật
Bản lần này của Ngoại trưởng Việt Nam đã mở ra một thời kỳ mới trong
quan hệ Việt – Nhậ
t. Đến tháng 6/1991 Ngoại trưởng Makayama sang thăm
nước ta. Những bước tiến này của chính phủ hai nước là động lực thúc đẩy
quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước phát triển và có những bước chuyển
biến rõ rệt cả về thương mại lẫn đầu tư.
Quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam á cũng được cải
Đơn vị tính: Triệu USD
Năm Xuất
khẩu
Nhập khẩu Tổng kim
ngạch xuất
nhập khẩu
Tỷ lệ so với
năm trước
(%)
Cán cân
mậu dịch
1986 82,9 189,2 272,1 -106,3
1987 143,5 178,8 322,3 118,4 -35,3
1990 595,0 214,0 809,0 381
1991 662,0 207,0 869,0 317,8 455,0
1992 870,0 451,0 1321,0 152,0 419,0
1993 1069,0 639,0 1708,0 129,2 430,0
1994 1350,7 643,6 1994,3 116,7 707,1
1995 1716,0 921,0 2637,0 132,2 795,0
1996 2020,0 1140,0 3160,0 119,8 880,0
1997 1614,6 1425,7 3040,3 103,2 188,9
1998 1481,0 1469,0 2950,0 97,0 12,0
1999 1786,0 1476,0 3262,0 110,0 310,0
2000 2621,0 2250,0 4871,0 149,3 371,0
2001 2509,0 2215,0 4724,0 96,98 294,0
2002 2438,0 2509,0 4947,0 104,7 -71
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản năm 1996
tăng 136%, cán cân thương mại Việt – Nhật năm 1996 vẫn nghiêng về phía
Việt Nam và năm 1996 Việt Nam đã xuất siêu sang Nhật Bản với trị giá 9,5
tỷ Yên, chiếm 27,8% kim ngạch xuất nhập khẩu Việt – Nhật năm 1996. Bắt
đầu từ năm 1988 tỷ lệ này càng giảm dần tốc độ tăng củ
a kim ngạch nhập
Quan hệ thương mại Việt - Nhật từ năm 1986 đến nay
Bùi Quang Sắc; A1-CN9- Đại Học Ngoại Thương
26
khẩu luôn cao hơn kim ngạch xuất khẩu. Nguyên nhân là do bắt đầu từ thời
gian này Việt Nam bắt đầu trú trọng vào nhập máy móc thiết bị hiện đại để
phục vụ công cuộc hiện đại hoá đất nước.
Nhật Bản là một trong những bạn hàng lớn của Việt Nam trong nhiều
năm. Từ vị trí thứ tư Nhật Bản vươn lên đứng thứ hai vào năm 1985 sau
khối SEV vớ
i kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mất đi thị trường
truyền thống, Singapore và Nhật Bản đã vượt hàng thứ nhất và thứ hai. Tới
năm 1994 Nhật Bản đẩy Singapore lùi lại phía sau và ngoi lên đứng đầu
trong số các nước có quan hệ thương mại với Việt Nam. Năm 1990 tổng
kim ngạch buôn bán hai chiều đạt 809 triệu USD. Các năm sau đều tăng
liên tục, cho đến năm 2002 (8 tháng đầu nă
m) tổng kim ngạch buôn bán hai
chiều đã đạt 3.759 triệu USD. (xem bảng 1).
Nhịp độ tăng trưởng của quan hệ thương mại Việt – Nhật còn thể
hiện ở tỷ trọng của kim ngạch xuất nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu chiếm
trong tổng kim ngạch ngoại thương Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu Việt Nam - Nhật Bản tăng nhanh, từ năm 1991 đế
n nay cho thấy kim
ngạch xuất nhập khẩu năm sau luôn cao hơn năm trước trừ năm (1996-
: So sánh cán cân mậu dịch giữa Việt Nam - Nhật Bản và của Việt
Nam nói chung từ năm 1991 đến nay
Đơn vị tính: Triệu USD
Việt Nam – Nhật Bản Việt Nam nói chung
Năm
XK NK
Cán cân
mậu dịch
XK NK
Cán cân
mậu dịch
1991 662,0 207,0 455,0 2087,1 2388,0 -300,8
1992 870,0 451,0 419,0 2580,7 2540,0 40,7
1993 1069,0 639,0 430,0 2985,2 3924,0 -938,8
1994 1350,7 643,6 707,1 4054,3 5826,0 -1771,7
1995 1716,0 921,0 795,0 5448,9 7500,0 -2051,1
1996 2020,0 1140,0 880,0 7255,9 11144,0 -3888,1
1997 1614,6 1425,7 188,9 9185,0 11200,0 -2015,0
1998 1481,0 1469,0 12,0 9323,0 11494,0 -2171,0
1999 1786,0 1476,0 310,0 11520,0 11622,0 -102,0
2000 2621,0 2250,0 371,0 1448,0 15635,0 -1187,0