Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay” - Pdf 76

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
------------------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN
GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
Giáo viên hướng dẫn: THẠC SĨ ĐẶNG THỊ LAN
Sinh viên thực hiện: BÙI QUANG SẮC
Lớp: A1-CN9
Hà Nội - 2003
QUAN H TH NG M I VI T NAM - NH T B NỆ ƯƠ Ạ Ệ Ậ Ả ................................................................................1
H N i - 2003à ộ ....................................................................................................................................... 1
L I NÓI UỜ ĐẦ .............................................................................................................................................. 3
CH NG IƯƠ ................................................................................................................................................ 5
I. KHÁI QUÁT V NH T B NỀ Ậ Ả .................................................................................................................... 5
II. L CH S PHÁT TRI N VÀ T M QUAN TR NG C A VI C M R NG QUAN H TH NG M I Ị Ử Ể Ầ Ọ Ủ Ệ Ở Ộ Ệ ƯƠ Ạ
VI T NAM - NH T B NỆ Ậ Ả .......................................................................................................................... 14
CH NG IIƯƠ ............................................................................................................................................. 20
I. NH NG NHÂN T KHÁCH QUAN VÀ CH QUAN THÚC Y QUAN H TH NG M I VI T NAMỮ Ố Ủ ĐẨ Ệ ƯƠ Ạ Ệ
– NH T B N Ậ Ả .......................................................................................................................................... 20
Nh p kh uậ ẩ ................................................................................................................................................ 24
T l so v i n m tr c (%)ỷ ệ ớ ă ướ ...................................................................................................................... 24
Cán cân m u d chậ ị ..................................................................................................................................... 24
STT........................................................................................................................................................... 44
Lo i khácạ .................................................................................................................................................. 44
STT........................................................................................................................................................... 45
Tên h ngà ................................................................................................................................................... 45
III. ÁNH GIÁ TH C TR NG C A M I QUAN H TH NG M I Đ Ự Ạ Ủ Ố Ệ ƯƠ Ạ ......................................................47
CH NG IIIƯƠ ............................................................................................................................................ 53

Việt - Nhật để đề ra những biện pháp thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai
nước là vấn đề rất quan trọng và cần thiết trong xây dựng cũng như thực
hiện các chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất của Việt Nam. Trước một đối tác có
vị trí và tiềm lực kinh và có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế
không những nước ta mà cả các nước trên thế giới, các hoạt động đối ngoại
Việt Nam - Nhật Bản hết sức có ý nghĩa. Quan hệ giữa Nhật Bản và Việt
Nam đã - đang và sẽ tiếp tục được củng cố với quan tâm ở mức cao nhất để
phục vụ cho công cuộc xây dựng và đổi mới của đất nước ta.
Là một sinh viên khoa “Kinh Tế Ngoại Thương” của trường Đại Học
Ngoại Thương nhận thức được tầm quan trọng của Nhật Bản đối với nền
ngoại thương của các nước Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Sau một thời gian tìm hiểu em quyết định chọn đề tài “Quan Hệ Thương
Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay” cho khoá luận tốt
nghiệp của mình. Là một sinh viên chưa có kinh nghiệm thực tế, trình độ lý
luận chưa sâu nên khoá luận không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy em rất
mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và bạn bè để em hoàn thành
tốt khóa luận này.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Thạc sĩ Đặng
Thị Lan cùng với các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế Ngoại thương trường
Đại Học Ngoại Thưong.
Hà nội, tháng 5 năm 2003
Bùi Quang Sắc
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ NHẬT BẢN
VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM- NHẬT BẢN
I. KHÁI QUÁT VỀ NHẬT BẢN
1.Vị trí địa lý
a. Diện tích
Quần đảo Nhật Bản nằm cách bờ đông của lục địa Châu á, trải dài

Alaska. Điều này tạo cho nước Nhật một bờ biển dài nhiều núi đá với nhiều
hải cảng nhỏ nhưng tuyệt vời. Nó cũng tạo ra rất nhiều vùng núi có thung
lũng, các con sông chảy xiết và các hồ nước trong. Theo điều tra của viện
địa lý thuộc bộ xây dựng của Nhật Bản năm 1972, núi chiếm khoảng 71%
tổng diện tích Nhật Bản. Hơn 532 ngọn núi trong số này cao hơn 200 m so
với mực nước biển trong đó Phú Sĩ là cao nhất tới 3776 m.
2. Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị Nhật Bản dựa trên quân chủ lập hiến, đứng đầu là
Nhật Hoàng. Thế nhưng thực tế Nhật Hoàng không có quyền lực gì với
chính phủ, người chỉ tham gia những hoạt động của nhà nước trong khuôn
khổ luật pháp quy định.
a. Lập pháp
Nền chính trị Nhật Bản dựa theo chế độ các Nghị viện. Nghị viện là
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là tổ chưc lập pháp duy nhất ở Nhật
Bản.
Nghị viện bao gồm: Hạ nghị viện (512 ghế ), Thượng nghị viện (252
ghế). Hạ nghị viện có quyền đưa ra quyết định tín nhiệm hay không tín
nhiệm nội các, đây là quyền lực quan trọng nhất của Hạ nghị viện. Trong khi
đó Thượng nghị viện không có quền như vậy.
b. Hành pháp
Quyền hành pháp được giao cho nội các Chính phủ. Nội các Chính
phủ bao gồm Thủ tướng Chính phủ và không quá 20 Bộ trưởng chịu trách
nhiệm tập thể trước nghị viện. Thủ tướng là người được Nghị viện bổ nhiệm
và phải là thành viên nghị viện. Thủ tướng có quyền bổ nhiệm hay bãi miễn
quyền của các Bộ trưởng. Tất cả các Bộ trưởng phải là dân sự và phần lớn
trong số bộ phải là nghị viện. Nếu Hạ nghị viện thông qua quyết định bất tín
nhiệm chính phủ thì Nội các phải từ chức trong vòng 10 ngày trừ khi Hạ
nghị viện giải tán.
c. Toà án
Ngành toà án hoàn toàn độc lập với các cơ quan hành pháp và lập

có dầu mỏ lại bị chiến tranh tàn phá nên các ngành công nghiệp thiếu ngoại
tệ để nhập vật tư nguyên liệu. Vì thế việc bảo đảm cho các ngành khôi phục
sản xuất dựa vào khai thác than trong nước là điều không thể thiếu được.
Công việc này được tiến hành một cách thuận lợi nhờ có sự trợ giúp của
Chính phủ về tiền vốn. Có thể đây chính là động lực cho sự khôi phục các
ngành công nghiệp chế tạo khác.
b. Nhập công nghệ từ nước ngoài.
Sau chiến tranh, điều không thể thiếu đối với sự phát triển của ngành
công nghiệp ở Nhật Bản chính là việc tích cực nhập khẩu kỹ thuật, công
nghệ đặc biệt trong lĩnh vực luyện kim ô tô, máy tính, các nước tiên tiến
cũng tích cực cung cấp kỹ thuật cho Nhật. Giới công nghiệp Nhật Bản bằng
kỹ thuật công nghiệp nhập từ các công ty Âu Mỹ đã sản xuất và bán hàng
loạt sản phẩm công nghiệp ra thị trường Nhật Bản, rồi phát triển đến giai
đoạn xuất khẩu những sản phẩm dư thừa ra thị trường nước ngoài.
c. Chính sách phát triển các ngành công nghiệp .
Chính phủ Nhật Bản tiến hành bảo hộ các ngành công nghiệp thông
qua thuế nhập khẩu cao, hạn chế số lượng nhập khẩu, quy về đầu tư, đồng
thời cũng chọn những ngành cần phải ưu tiên đầu tư phát triển mạnh mang
tính chiến lược trợ giúp một số vốn, hỗ trợ các ngành công nghiệp phát triển.
Mặt khác, khi thấy một số ngành công nghiệp nào đó đã qua thời kỳ cực
thịnh thì Chính phủ sẽ trợ cấp tiền thúc đẩy việc loại bỏ thiết bị cũ và tiến tới
chuyển đổi ngành nghề. Tiêu biểu cho cách làm thứ nhất là công nghiệp máy
tính, còn cách thứ hai là ngành công nghiệp dệt. Cả hai ngành này đều là
những thực tế thành công đáng tham khảo trong việc nuôi dưỡng, phát triển
cơ cấu ngành dưới sự chỉ đạo sát sao của chính phủ.
d. Nét đặc trưng của kinh tế Nhật Bản từ những năm 80 đến những năm
90 sự tăng trưởng cao khác thường của nền kinh tế và tiếp đó là sự suy thoái
kéo dài do sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng.
Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra các biện pháp kích thích tăng trưởng
bằng cách hạ lãi suất, coi đó là phương pháp để thoát ra khỏi cuộc khủng

được duy trì và phát triển như công nghiệp dệt, sợi bông tơ tằm. Nhật Bản có
ngành nông nghiệp thâm canh, có hiệu quả cao tuy chưa đáp ứng được nhu
cầu trong nước.
Trong một thời gian dài, Nhật đã duy trì được vị trí của mình như nền
kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Theo báo cáo các tài khoản quốc gia năm
1992 của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và những thống kê
của Cục kế hoạch kinh tế, tổng sản phẩm quốc dân của Nhật năm 2001 là
2972,5 tỷ USD, đứng thứ hai sau Mỹ (5400tỷ USD). Tổng sản phẩm quốc
dân tính theo đầu người của Nhật Bản đứng thứ ba trong số 24 nước thành
viên OECD năm 1988 và1989, nhưng năm 1990 tụt xuống vị trí thứ 7. Tuy
nhiên Nhật Bản vẫn tiếp tục có tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người
cao nhất trong số các nước thuộc nhóm bảy nước công nghiệp phát triển
(G7) từ năm 1986. Về tài sản thuần ở nước ngoài, Nhật Bản đứng thứ nhất
vào năm 1985. Nhật Bản đã bị Đức vượt qua vào cuối năm 1990, song đã
giành được vị trí của mình vào cuối năm 1991 với 383 tỷ USD.
5. Văn hoá - giáo dục
a. Văn hóa
Tôn giáo: nói đến tôn giáo phải nói đến quyền tự do tín ngưỡng của
mọi người được hiến pháp bảo đảm. Ở Nhật Bản ngày nay, đạo Phật chiếm
ưu thế với khoảng 92 triệu tín đồ. Trong số các tôn giáo còn lại, đạo hồi có
khoảng 155.000 tín đồ bao gồm cả những người cư trú tạm thời trên đất
nước.
Đạo gốc của Nhật Bản là Thần đạo, có nguồn gốc từ thuyết vật linh
thiêng của người Nhật cổ. Thần đạo phát triển thành tôn giáo của cộng đồng
với những miếu thờ gia thần và các vị thần hộ mệnh của địa phương. Người
ta cũng thờ các vị anh hùng và thủ lĩnh xuất chúng của cộng đồng qua nhiều
thế hệ và thờ cúng hương hồn tổ tiên.
b. Giáo dục
Hệ thống giáo dục được phân thành 5 giai đoạn: vườn trẻ (từ 1 đến 3
năm), tiểu học (6 năm), trung học bậc thấp (3 năm) và trung học bậc cao (3

tiếp tục phát triển vào những năm 90. Nguồn động lực cho sự đi lên đó chính
là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực mới có sử dụng kỹ thuật thông tin.
Nhóm công ty nhỏ nắm kỹ thuật tiên tiến sáng tạo ra công ty mới, hàng hoá
dịch vụ mới, cơ cấu theo kiểu mạng giúp cho mọi ý kiến có thể truyền đạt
nhanh chóng chứ không có cơ cấu kim tự tháp khổng lồ. Kết quả ngành công
nghiệp Nhật Bản có thể sản xuất các loại hàng hoá, dịch vụ có chất lượng
cao, chi phí thấp, phục hồi khả năng cạnh tranh quốc tế.
Hiện nay, “chế độ phát triển các công ty nhỏ nắm kỹ thuật tiên tiến”
đã được thiết lập để thực hiện tốt việc huy động vốn giúp các công ty vừa và
nhỏ có thể triển khai công việc, đồng thời đang nghiên cứu theo hướng nới
lỏng hàng loạt qui chế đang kìm hãm hoạt động tự do trên mọi mặt của xã
hội Nhật Bản. Nới lỏng qui chế, hình thành nên một xã hội mới trong thời kỳ
tiếp theo của Nhật Bản.
Sự vận động của xã hội Nhật Bản đến nay đã tạo điều kiện thuận lợi
để chuyển hướng cơ cấu công nghiệp trong thế kỷ 21. Một trong số những
ngành nghề mới là sản xuất hàng hoá mới, dịch vụ mới đem lại cuộc sống
thảnh thơi, mạng lưới vận tải hiện đại, đời sống ăn uống chuyển hướng quốc
tế hoá, xu hướng giải trí, tất cả những nhân tố này đã thúc đẩy phương pháp
ngành nghề mới, tạo ta nhu cầu mới. Có nhu cầu, sẽ có cơ hội sản sinh ra và
phát triển đa dạng hoá ngành nghề mới.
Việc xây dựng một Nhật Bản mới dựa vào hệ thống thông tin sẽ thực
sự xảy ra vào thế kỷ 21. Sự thay đổi trong 50 năm sau chiến tranh thế giới
thứ II sau khúc dạo đầu hướng tới một xã hội mới tiếp theo của Nhật Bản.
Nền kinh tế công nghiệp và xã hội Nhật Bản đang thay đổi.
II. L CH S PH T TRI N V T M QUAN TR NG C A VI CỊ Ử Á Ể À Ầ Ọ Ủ Ệ
M R NG QUAN H TH NG M I VI T NAM - NH T B NỞ Ộ Ệ ƯƠ Ạ Ệ Ậ Ả
1. Lịch sử phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản
Lịch sử quan hệ thương mại Việt – Nhật bắt đầu từ khá sớm. Vào thế
kỷ 16 và nửa đầu thế kỷ 17 trong số 543 giấp phép mà chính quyền
Tokugawa cấp cho thuyền Nhật Bản đi buôn bán với các nước có 331 giấy

hẳn. Nguyên nhân do tình hình chính trị thế giới lúc đó đang có biến động
mạnh mẽ, thế lực phát xít đang yếu dần và tan rã. Thêm vào đó tháng 8 năm
1945 cuộc cách mạng đánh đuổi thực dân Pháp và phát xít Nhật thành công,
chính quyền thuộc về tay nhân dân Việt Nam, Phát xít Nhật đã đầu hàng và
rời khỏi Việt Nam. Sự ra đi này đồng nghĩa với sự chấm dứt thời kỳ hoàng
kim của quan hệ thương mại Việt - Nhật kiểu thuộc địa. Mặc dù phát xít
Nhật bị bại trận, nhưng các nhà tư bản lớn không dễ gì rời bỏ một thị trường
rất tiềm năng cho sự phát triển của nền kinh tế Nhật và có lợi cho họ. Vì vậy
quan hệ thương mại Việt – Nhật giai đoạn này đã có lúc không bình đẳng,
nhưng vẫn thể hiện nhu cầu buôn bán của hai nước.
Trong giai đoạn 1945 -1975: quan hệ Việt Nam và Nhật Bản rất phức
tạp và tế nhị do hoàn cảnh lịch sử, Việt Nam bị chia làm hai miền theo hai
chế độ chính trị khác nhau. Miền bắc hoàn toàn giải phóng, miền nam đang
chịu sự thống trị của Mỹ kéo dài tới 30-4-1975. Thời kỳ này quan Việt -
Nhật luôn tuân thủ một cách nghiêm ngặt với chính sách của Mỹ, thiết lập
quan hệ với chính quyền Sài Gòn ở Miền Nam, không quan hệ với chính
phủ cộng hoà ở miền Bắc. Nhưng trên thực tế Nhật Bản vẫn duy trì mối
quan hệ không chính thức về mặt kinh tế với miền Bắc Việt Nam . Năm
1955 “Hội mậu dịch Nhật - Việt” tổ chức thương mại phi chính phủ của
Nhật ra đời nhằm xúc tiến mậu dịch với Việt Nam dân chủ cộng hoà. Điều
này thể hiện sự chủ động của Nhật trong quan hệ buôn bán với Việt Nam.
Đây là một bước tiến quan trọng của phía Nhật trong việc thúc đẩy quan hệ
thương mại Việt – Nhật phát triển theo chiều hướng tích cực. Do hoàn cảnh
lịch sử trong những năm này quan hệ buôn bán của Nhật với hai nửa riêng
biệt của Việt Nam nhưng vẫn diễn ra đều đặn cho dù rất nhiều khó khăn nảy
sinh. Tuy kim ngạch buôn bán giữa hai chiều còn nhỏ bé nhưng thể hiện sự
cố gắng của các tổ chức kinh tế trong giai đoạn này. Trong vòng 20 năm
tổng giá trị xuất nhập khẩu Việt – Nhật đạt 112,1 tỷ Yên trong đó nhập khẩu
đạt 52 tỷ, xuất khẩu đạt 60,1 tỷ. Việt Nam xuất siêu sang Nhật là 8,1 tỷ Yên,
tốc độ tăng trưởng nói chung là chậm và thất thường. Ngày 21 tháng 9 năm

của Việt Nam chưa được khai thác hoặc đã được khai thác nhưng còn trữ
lượng rất lớn đang được chờ khai thác.
Việt Nam còn nhiều sản phẩm để phát triển công nghiệp khai mỏ,
công nghiệp, ngư nghiệp và một số nghành trọng điểm. Việt Nam cũng là
một nơi hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Nhật do còn nhiều tài nguyên thiên
nhiên, trong đó có các mỏ dầu đang khai thác, nền nông nghiệp và công
nghiệp của Việt Nam còn nhiều khả năng phát triển trong tương lai.
3. Tầm quan trọng của việc đẩy mạnh mối quan hệ thương mại với Nhật
Bản nhìn từ góc độ Việt Nam
Việt Nam là một nước nghèo trong khu vực và trên thế giới, đang thực
hiện chính sách mở cửa nền kinh tế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, những
chiến lược phát triển công nghiệp và hạ tầng cơ sở lớn là những nhiệm vụ
kinh tế nặng nề mà Việt Nam giải quyết.
Khác với các nước công nghiệp đi trước - NIC Đông Nam á và các
nước ASEAN, sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Việt Nam
diễn ra trong bối cảnh quốc tế vừa thuận lợi và không thuận lợi. Chiến tranh
lạnh chấm dứt trên phạm vi toàn cầu, hoà bình được tái lập ở Đông Nam á
và quá trình hội nhập ở vùng này cũng như quan hệ được cải thiện ở Trung
Quốc và các nước Châu á - Thái Bình Dương, trong đó có Nhật Bản đã tạo
ra môi trường quốc tế và khu vực thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá của Việt Nam.
Là nước đi sau trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, Việt
Nam có lợi thế là có thể học tập kinh nghiệm của các nước đi trước và đặc
biệt là của Nhật Bản.

CHƯƠNG II
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN GIAI
ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY
I. NH NG NHÂN T KHÁCH QUAN VÀ CH QUANỮ Ố Ủ
THÚC Y QUAN H TH NG M I VI T NAM –ĐẨ Ệ ƯƠ Ạ Ệ

bạn với tất cả các nước vì hoà bình, độc lập và hợp tác phát triển”.
Để thực hiện đường lối đó, chính phủ Việt Nam đã ban hành chính
sách cải tổ cơ cấu và mở cửa kinh tế vào năm 1986. Việt Nam bắt đầu thực
hiện sự chuyển hướng của mình với ba nội dung chính:
(1) Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
(2) Từ bỏ mô hình công nghiệp hoá cũ, chuyển hướng cơ cấu ngành và điều
chỉnh cơ cấu đầu tư. Ưu tiên trọng tâm cho ngành sản xuất lương thực
thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.
(3) Mở cửa nền kinh tế đa phương hoá quan hệ thương mại và đầu tư, đa
dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại, tự do hoá thương mại.
Việt Nam chuyển hướng phát triển kinh tế nhằm thu hút vốn kỹ thuật
tiên tiến của các nước nhằm thoát ra khỏi tình trạng cô lập và lạc hậu. Với
chính sách đổi mới đó tháng 12 năm 1987 Việt Nam đã ban hành luật đầu tư.
Sau đó cùng với chính sách tự do hoá thương mại và đẩy mạnh xuất khẩu bộ
mặt nền kinh tế Việt Nam được thay đổi cũng nhờ luật đầu tư nước ngoài.
Về phía Nhật Bản
Nhật Bản bước vào thập kỷ 90 đã tích cực điều chỉnh các chính sách
đối ngoại của mình nhằm tăng cường ảnh hưởng kinh tế và chính trị của
mình trên trường quốc tế. Có thể nói trọng tâm chính sách đối ngoại của
Nhật hiện nay là Châu á Thái Bình Dương và coi Đông Nam á có vị trí đặc
biệt. Hơn nữa Nhật Bản lại có mối quan tâm lâu dài, tầm nhìn xa rộng trong
quan hệ với Việt Nam, nước đông dân thứ hai ở Nam á nơi có nguồn tài
nguyên thiên nhiên và lao động dồi dào, đồng thời là một thị trường đầy hứa
hẹn cho việc tiêu thụ các sản phẩm của Nhật. Việt Nam còn là nơi hấp dẫn
về đầu tư khu vực trong tương lai, Nhật Bản cũng coi Việt Nam là một nhân
tố quan trọng đối với hoà bình và ổn định trong khu vực Đông Nam á. Nhật
Bản càng trở nên quan trọng hơn và có vai trò to lớn trong nền ngoại thương
Việt Nam nhất là sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Xã Hội Chủ Nghĩa
và Đông Âu. Sau sự kiện này Nhật Bản đã trở thành bạn hàng lớn nhất của

Ngày 22/7/1992 Việt Nam đã ký hiệp ước Bali mở đầu cho quá trình hội
nhập của Việt Nam vào khu vực Đông Nam á và trở thành quan sát viên của
ASEAN. Khu vực và thế giới ngày càng ủng hộ quan hệ thương mại Việt –
Nhật. Các nước ASEAN giờ đây là những người bạn của Việt Nam, nhân tố
này tạo tiền đề cho Nhật Bản mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với Việt Nam.
Tháng 11/1992 chính phủ Nhật Bản đã quyết định viện trợ trở lại cho
Việt Nam kết thúc 14 năm gián đoạn (1978-1992). Tiếp sau là viện trợ
ODA, chính phủ Nhật tuyên bố huỷ bỏ qui chế “hạn chế xuất khẩu một số
mặt hàng kỹ thuật cao, hàng chiến lược sang các nước XHCN trong đó có
Việt Nam”. Từ đây Việt Nam sẽ được nhập những máy móc, các thiết bị
hiện đại từ Nhật để phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam. Nhìn chung những năm gần đây từ (1986-2002) kim ngạch buôn bán
giữa hai nước tiếp tục tăng trưởng khá ổn định về cả xuất khẩu và nhập khẩu
(xem bảng 1)
Bảng 1: Giá trị xuất nhập khẩu Việt Nam và Nhật Bản giai đoạn 1986 đến
nay:
Đơn vị tính: Triệu USD
Năm Xuất
khẩu
Nhập
khẩu
Tổng kim
ngạch xuất
nhập khẩu
Tỷ lệ so
với năm
trước (%)
Cán cân
mậu
dịch

trong việc sử dụng ngôn ngữ để giao dịch. Cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt
Nam và Nhật Bản năm 2002 cũng không có nhiều thay đổi so với năm trước
đó. Mặt hàng chính Việt Nam xuất sang Nhật Bản vẫn là: hải sản, dệt may,
dầu thô, dây điện và dây cáp điện. Nhóm hàng này chiếm gần 60% giá trị
xuất khẩu chung vào thị trường này. Nét mới của năm 2002 trong xuất khẩu
sang Nhật Bản là một số mặt hàng Việt Nam có rất nhiều khả năng như hạt
tiêu, đường, đã bắt đầu có mặt trên thị trường Nhật Bản. Dù khối lượng mặt
hàng này còn khá nhỏ bé, song nếu có được chỗ đứng ổn định và tăng
trưởng khá thì đây sẽ là một tín hiệu tốt đẹp cho xuất khẩu của Việt Nam.
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản năm 1996
tăng 136%, cán cân thương mại Việt – Nhật năm 1996 vẫn nghiêng về phía
Việt Nam và năm 1996 Việt Nam đã xuất siêu sang Nhật Bản với trị giá 9,5
tỷ Yên, chiếm 27,8% kim ngạch xuất nhập khẩu Việt – Nhật năm 1996. Bắt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status