Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản (Thời kỳ 1990 – 2008) - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

Ngược dòng lịch sử chúng ta có thể thấy rằng Việt Nam và Nhật Bản vốn có quan
hệ thương mại từ hàng trăm năm nay. Ngay từ thế kỷ thứ XVI đã có những thương gia
Nhật Bản đến kinh doanh ở Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, quan hệ giữa hai
nước cũng có nhiều thăng trầm nhưng quan hệ giữa hai nước vẫn được duy trì. Và kể từ
khi quan hệ ngoại giao chính thức giữa Việt Nam và Nhật Bản được thiết lập vào tháng
9 năm 1973 thì quan hệ thương mại giữa hai nước có điều kiện phát triển mạnh. Năm
1986, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa thị trường trong nước, phát triển
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng tạo động lực cho quan hệ
thương mại song phương phát triển mạnh hơn nữa. Đặc biệt, từ đầu thập kỷ 90 của thế
kỷ XX đến nay, quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản đã đạt được nhiều thành tựu
rất đáng khích lệ. Nhật Bản luôn là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của
Việt Nam trong những năm gần đây với tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm
khoảng 1/5 tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam. Tuy nhiên, trong quan hệ ngoại
thương giữa hai nước vẫn còn khá nhiều hạn chế bất cập đòi hỏi sự cố gắng chung của
cả hai nước để khắc phục nhằm đáp ứng những đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế
khu vực đã và đang diễn ra mạnh mẽ.
Một trong những điểm sáng của quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong năm 2008 là
hai bên đã chính thức ký Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) - thỏa thuận song phương
mang tính toàn diện về kinh tế, thương mại và đầu tư. Trải qua 9 phiên đàm phán bắt đầu
từ tháng 1 năm 2007, hai nước đã hoàn tất hiệp định EPA - cơ sở pháp lý góp phần thúc
đẩy mạnh mẽ đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam, đồng thời mở rộng quan hệ thương mại
song phương.. Hy vọng rằng với EPA này quan hệ thương mại giữa hai nước sẽ ngày
càng phát triển mạnh mẽ, đạt kim ngạch mậu dịch song phương 18 tỷ USD vào năm
2010 theo dự báo của các cơ quan kinh tế thương mại hai nước.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới và hiện nay là nước nhập khẩu

triển mối quan hệ thương mại giữa hai nước trong tương lai hơn nữa hay không? Việt
Nam cần phải làm gì để tăng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản? Làm thế
nào để đạt mục tiêu 15 tỷ USD kim ngạch thương mại song phương?...
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “
!"# $#%&'()*+,--./0..12” là nội dung nghiên cứu chính của
luận văn.
3456#7,89:3#4;<4=>#735#7
?#4@456#7A"@#?/#4B&=#
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
,8,8CDEFGHG%F !8
,8,8,8 IJ F !
8  !
 ! là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ v.v
giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá
cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng
(barter). Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ...
cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào
đó.
K8  !DL
Thương mại giữa hai chủ thể luật quốc tế được gọi là thương mại song phương,
còn nếu có nhiều chủ thể luật quốc tế tham gia thì được gọi là thương mại đa phương.
,8,808 #MNEJCO !DL

Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Ngày nay, toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một đặc
trưng của sự phát triển trên thế giới. Tất cả các quốc gia, dù ở trình độ phát triển nào
cũng không thể ở ngoài xu thế khách quan này, bởi mỗi nước muốn phát triển kinh tế,
muốn bảo toàn các lợi ích của mình đều phải tham gia vào xu thế chung của thời đại.

Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam), hai đồng bằng lớn (Bắc Bộ và Nam Bộ). Việt Nam
có đường biên giới đất liền dài 4.510 km, đường bờ biển dài 3.260 km, và có ba mặt
Đông, Nam, Tây Nam trông ra biển. Đây là điều kiện địa lý thuận lợi giúp Việt Nam trở
thành đầu mối giao thông quan trọng từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương.
Mặc dù thuộc vùng nhiệt đới nhưng Việt Nam lại có hai vùng khí hậu gắn với hai
vùng địa hình khác nhau. Với một nền nhiệt độ cao, lượng mưa nhiều đã tạo ra một hệ
thực vật phong phú với trên 800 loài cây gỗ (đinh, lim, sến, táu…), quần thể động vật đa
dạng lên tới 200 loài thú, 100 loài lưỡng cư, trên 150 loài bò sát, 1.000 loài lưỡng biển
và 200 loài nước ngọt.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Việt Nam là một trong những quốc gia có biển và nguồn nước mặn phong phú nên
nguồn lợi thủy sản dồi dào, gồm thủy sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt. Việt Nam có
tới 6.845 loại động vật biển, với nhiều loại đặc sản và quý hiếm như: tôm, mực, cá voi,
cá heo. Biển Việt Nam còn có tiềm năng khai thác muối phục vụ sinh hoạt, công nghiệp
và xuất khẩu. Với khoảng 1,2 triệu ha mặt nước, trên 600 ngàn ha sông suối, trên 300
ngàn ha hồ chứa… phân bố đều ở các vùng, Việt Nam còn có tiềm năng phát triển và
khai thác thủy sản nước lợ, nước ngọt.
Ngoài những tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, Việt Nam còn có nguồn tài
nguyên khoáng sản đa dạng như: than (trữ lượng khoảng trên 6 tỉ tấn), dầu khí (trữ lượng
dầu mỏ khoảng 3 – 4 tỷ thùng và khí đốt khoảng 50 – 70 mét khối), kim loại màu (nhôm,
đồng, vàng, thiếc…), kim loại đen (sắt, măng gan, titan)… Hiện nay, Việt Nam chỉ mới
khai thác và chế biến khoáng sản ở mức độ thấp, các khoáng sản xuất khẩu chỉ ở dạng sơ
chế, dầu chỉ là dầu thô. Đây là điều kiện thuận lợi trước mắt giúp phát huy hiệu quả kinh
tế cao mà cần ít vốn đầu tư. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có các mỏ nhỏ rải rác trên cả
nước, rất thuận tiện cho việc khai thác và phát triển kinh tế giữa các vùng.
Hàng nghìn con sông lớn, nhỏ trải dài theo lãnh thổ, cứ khoảng 20 km lại có một
cửa sông nên hệ thống giao thông đường thủy của Việt Nam khá thuận lợi. Ngoài ra,
cùng với nhiều hải cảng lớn: Hải Phòng, Nghi Sơn, Đà Nẵng, Cam Ranh, Vũng Tàu…

2
hiện tại. Dân số
đông, trẻ thì nhu cầu tiêu dùng cao, là một điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hóa
và phát triển kinh tế của Nhật Bản. Bởi vậy, có tới 338 công ty Nhật Bản trên tổng số
652 công ty xếp Việt Nam đứng vào hàng thứ 4 trong các đối tác quan trọng nhất mà họ
sẽ đầu tư trong 10 năm đầu thế kỷ XXI. Điều này thể hiện sức hấp dẫn của thị trường
Việt Nam – một đất nước đóng vai trò quan trọng về kinh tế và chính trị ở khu vực Đông
Nam Á trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản.
[83DJEL! P\FC%*OE"# 
Sự hội nhập ngày càng sâu của Việt Nam vào khu vực và quốc tế (gia nhập
ASEAN, AFTA, WTO…) khiến quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước trong
khu vực và trên thế giới ngày càng phát triển. Nếu năm 1986 Việt Nam có quan hệ xuất
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhập khẩu với 43 quốc gia, năm 1995 là 100 quốc gia, năm 2000 là 192 quốc gia thì
hiện nay Việt Nam đã có quan hệ thương mại với khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Ngoài ra, Việt Nam đã ký kết 86 hiệp định thương mại song phương, 46 hiệp định
khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia và
vùng lãnh thổ.
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu bình quân từ năm 1986 đến năm
2005 là 20,7 tỷ USD/1 năm (gấp 7 lần so với năm 1985). Kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam tăng mỗi năm trung bình trên 20%, có năm tăng 30%. Năm 1990, kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam chỉ đạt 2,4 tỷ USD thì năm 2003 con số này là 20,176 tỷ USD, tăng
39% so với kim ngạch xuất khẩu năm 2000. Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu đạt 25 tỷ
USD, gấp 8 lần so với năm 1990. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt 32,4 tỷ USD, tăng
gần 40 lần so với năm 1986. Tính đến hết tháng 11 tháng năm 2008 Việt Nam xuất khẩu
sang Nhật Bản: 7,896 tỷ USD; nhập khẩu từ Nhật Bản: 7,611 tỷ USD (nguồn: Bộ Công
thương Việt Nam)
Tốc độ tăng bình quân của kim ngạch nhập khẩu trong 20 năm đổi mới (1986 –

nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và ngày 14 tháng 11
năm 1998 Việt Nam được chính thức công nhân là thành viên của APEC. Tháng 6 năm
1996, Việt Nam cũng đã tham gia Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM) với tư cách là
thành viên sáng lập. Những thành quả trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế của
Việt Nam đã tạo ra những tiền đề quan trọng cho sự phát triển hơn nữa của quan hệ
thương mại Việt Nam – Nhật Bản.
,80808*RSF*$TUCFDJEL!#%
&'
8*RS
Nhật Bản là quần đảo hình cánh cung, ôm lấy lục địa châu Á với diện tích khoảng
380.000 km
2
, chiều dài đất nước khoảng 3.500 km. Do được hình thành từ hàng ngàn
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hòn đảo lớn nhỏ trong đó gồm 4 hòn đảo chính là Hokkaido, Honshu, Kyushyu, và
Shikoku, nên quốc đảo này không có đường biên giới chung với quốc gia nào. Vì vậy,
trong lịch sử, trước năm 1945, quốc gia này chưa từng bao giờ bị một quốc gia khác
chiếm đóng. Điều này giúp hình thành nên một quốc đảo có sự đồng nhất về dân tộc, về
ngôn ngữ, về tôn giáo, về kinh tế, và cả sự đồng bộ về giáo dục.
Với hơn 90% dân số thuộc dân tộc Yamato (người Nhật) nên hầu hết mọi người
đều có thể giao tiếp với nhau bằng tiếng Nhật chuẩn được dạy trong trường học. Sự
đồng bộ giáo dục trong chương trình và chất lượng giảng dạy cũng được thực hiện trên
khắp mọi miền đất nước. Bởi thế, Nhật Bản có một nguồn lao động có trình độ giáo dục
tương đối cao và được đào tạo tốt về kỹ năng lao động, tạo điều kiện thuận lợi phát triển
kinh tế, xã hội, tránh được các mâu thuẫn về sắc tộc. Tất cả những sự đồng nhất kể trên
tạo nên ý thức đoàn kết trong công việc, tinh thần tập thể, có tính kỷ luật cao và ham học
hỏi của người Nhật.
Do quần đảo Nhật Bản nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương nên 3/4 lãnh

6,6%, đứng thứ 3 sau Mỹ và Đức. Năm 1997, xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ chiếm
27,8% và nhập khẩu chiếm 22,3%. Bởi vậy, thặng dư thương mại của Nhật với Mỹ là
5.020 tỷ yên, khoảng 41,5 tỷ USD, chiếm 50% tổng thặng dư thương mại của Nhật đối
với các bạn hàng. Nhật Bản là nước xuất siêu hàng đầu thế giới. Năm 2004, Nhật Bản
xuất siêu với kim ngạch 12 ngàn tỷ yên (khoảng 112,3 tỷ USD).
Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản đạt 61,1 ngàn tỷ yên (khoảng 582,6
tỷ USD), tăng 12,2% so với năm 2003. Đến năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của Nhật
Bản đạt 598,2 tỷ USD, tăng 5,9% so với năm 2004. Vốn đầu tư trực tiếp năm 2005 Nhật
thu hút được vào trong nước đạt 30,1 tỷ USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước.
Đồng thời vốn đầu tư trực tiếp của Nhật ra nước ngoài đạt 45,5 tỷ USD, tăng 46,8%, cao
nhất kể từ năm 1990. Năm 2003, Nhật Bản có 88 doanh nghiệp trong số 500 doanh
nghiệp hàng đầu thế giới.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
8#*L]^_*`%!LJYaFJD'b Fc
 Gd*`%L
 #*L]^_*`%JYa
Nước Nhật là nước có kỹ thuật chế tạo đứng hàng đầu thế giới. Nhật Bản đã có ưu
thế tương đối trong lĩnh vực công nghệ cao như: vi điện tử, chất bán dẫn, vi tính, người
máy công nghiệp… Còn trong một số ngành truyền thống như đóng tàu vận chuyển khí
thiên nhiên hoá lỏng, Nhật Bản gần như chiếm lĩnh toàn bộ thị trường thế giới. Quốc gia
này sở hữu hơn 50% số robot cho công nghiệp sản xuất trên toàn thế giới.
Tỷ trọng kinh phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D) chiếm trong GDP cũng thể
hiện tầm quan trọng của khoa học trong phát triển kinh tế. Năm 1990, chi cho R&D của
Nhật Bản chiếm tới 3% GDP, lên tới 12.100 tỷ yên, cao hơn cả Đức, Anh, Mỹ, Pháp. Từ
đó, tỉ trọng kinh phí cho R&D chiếm trong GDP của Nhật luôn cao nhất trên thế giới.
Năm 1996, tỷ trọng này ở Nhật là 2,96%, cao nhất trong số các quốc gia phát triển.
Trong khi đó, tỷ trọng này ở Mỹ chỉ là 2,55%, Đức là 2,28%, Pháp là 2,34%, Anh là
2,05%. Năm tài chính 1998, tỉ trọng này là 3% GDP, tương đương là 14,8 tỉ yên. Năm

làm lạnh các kho hàng và điều hoà không khí, năng lượng địa nhiệt nằm sâu dưới những
hòn đảo núi lửa.
3JD'b Fc Gd*`%L
Kể từ khi thời đại công nghiệp hoá mới bắt đầu, việc bảo đảm cung cấp một nguồn
năng lượng ổn định luôn luôn là một thách thức đối với Nhật Bản. Ngày nay, thách thức
này càng lớn hơn vì Nhật Bản cần thực hiện cam kết sẽ giảm lượng khí thải “nhà kính”
xuống 6% vào năm 2010, thấp hơn mức năm 1990. Các nhà khoa học của Nhật Bản đã
nghiên cứu thành công và đưa những kỹ thuật mới vào áp dụng trong cuộc sống, để sử
dụng tiết kiệm năng lượng hơn. Đó là những sản phẩm như: vật liệu làm tường nhà và
cửa sổ có hai lớp kính giúp ngăn hơi nóng và khí lạnh tràn vào trong nhà; bóng điện
huỳnh quang – tuổi thọ gấp 6 lần và chỉ tiêu hao 1/4 năng lượng điện so với bóng điện
thông thường với độ sáng tương tự; động cơ chạy bằng bộ đổi dòng điện một chiều ra
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
điện xoay chiều trong quạt gió và những máy móc công nghiệp khác – chỉ tiêu tốn 50%
điện năng…
Nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ngành chế tạo ô tô của Nhật Bản đã
chiếm ưu thế lớn trên thị trường quốc tế. Cùng với công nghệ sử dụng có hiệu quả năng
lượng, Nhật Bản đã cho ra đời “ô tô lai ghép” kết hợp giữa máy chạy xăng và động cơ
điện. Phương tiện cá nhân này có thể chạy một quãng đường dài 35 km mà chỉ tiêu tốn 1
lít xăng, tiết kiệm khoảng 2,5 lần so với loại xe thông thường. Nhật Bản đã chế tạo các
phương tiện giao thông công cộng không gây độc hại, thân thiện với môi trường và tiết
kiệm năng lượng. Đó là tàu điện sử dụng động cơ tuyến tính Maglev được nâng bằng
nam châm với điện dẫn thường. Loại phương tiện này không có bánh xe, tiếng ồn nhỏ,
chi phí vận hành thấp vì nó hoàn toàn tự động, không cần người điều khiển. Hãng
Toyota cũng đã chế tạo ra xe buýt lai tạo, chạy bằng cả pin nhiên liệu và ắc quy điện.
Loại xe này rất ít tiếng ồn và không hề có khói thải, chỉ thải ra nước, thường ở dạng hơi.
Nhật Bản hiện đang là nước dẫn đầu thế giới về tạo năng lượng xanh cho tương lai.
Tháng 10 năm 2003, công ty TNHH JROL của Nhật Bản đã thiết kế thành công tụ điện

nơi tranh giành ảnh hưởng của các thế lực chính trị. Khu vực này cũng nằm trên con
đường chiến lược vận tải biển của Nhật nên từ lâu đã chịu sự tác động của Nhật Bản.
Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Nhật Bản đã từng chiếm đóng Đông Nam Á
bằng sức mạnh quân sự, tiến hành bóc lột thuộc địa ở khu vực này. Chiến tranh kết thúc,
Nhật Bản là nước bại trận đã phải rời bỏ “sân sau” của mình và rút quân về nước. Nhưng
đây là một khu vực gắn liền với lợi ích an ninh và kinh tế của Nhật Bản nên người Nhật
luôn muốn duy trì sự ổn định tại đây. Bởi vậy, sau chiến tranh, Nhật Bản đã trở lại khu
vực Đông Nam Á bằng con đường “ngoại giao kinh tế” và kiên trì thực hiện chính sách
này trong một thời gian dài. Mối quan hệ giữa Nhật Bản và ASEAN đã được tiếp tục
nhưng gặp rất nhiều trở ngại. Chỉ đến khi, Thủ tướng Nhật Fukuda công bố chính sách
đối ngoại với Đông Nam Á của Nhật Bản tại Manila năm 1977 thì quan hệ Nhật Bản –
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ASEAN mới trở nên tốt đẹp hơn. Chính sách đối ngoại trên được biết đến như là học
thuyết Fukuda, gồm ba nội dung chính:
“Thứ nhất, Nhật Bản, một quốc gia yêu cầu hòa bình, không chấp nhận vai trò siêu
cường quân sự và dựa trên cơ sở đó, quyết tâm đóng góp cho hòa bình và thịnh vượng
của Đông Nam Á, và của cả cộng đồng thế giới.
Thứ hai, Nhật Bản với tư cách là một người bạn thực sự của các nước Đông Nam
Á sẽ làm hết sức mình để củng cố mối quan hệ tin cậy lẫn nhau và dựa trên sự hiểu biết
từ trái tim đến trái tim với các nước này, mở rộng sự hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế,
chính trị và cả trong các lĩnh vực văn hóa và xã hội.
Thứ ba, Nhật Bản sẽ là một đối tác bình đẳng với ASEAN và các nước thành viên
của họ và hợp tác tích cực với các nước này phù hợp với khả năng của mình nhằm củng
cố sự đoàn kết các mối quan hệ đặc biệt của nước này, cùng với các quốc gia khác bên
ngoài khu vực, xây dựng một quan hệ hiểu biết lẫn nhau với các quốc gia Đông Dương
và như vậy sẽ đóng góp vào việc thiết lập hòa bình và thịnh vượng trong toàn khu vực
Đông Nam Á”.
Trong lịch sử, đây là lần đầu tiên chính sách đối ngoại với Đông Nam Á của Nhật

Malaixia 793 1.573 1.216 1.265 1.479 1.337
Thái Lan 1.315 1.850 1.222 1.285 1.469 1.422
Philippin 363 667 948 997 1.106 995
Xingapo 1.547 2.158 1.930 1.854 2.244 1.786
Việt Nam 31 86 174 185 213 216
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 4, 2003, Trung tâm Nghiên cứu
Nhật Bản, tr.22.
Năm 1995, xuất khẩu của Nhật Bản sang ASEAN đạt 79,9 tỷ USD và nhập khẩu
về 42,5 tỷ USD, chiếm tương ứng 18% tổng kim ngạch xuất khẩu và 14% tổng kim
ngạch nhập khẩu của nước này. Trong danh sách các nước nhập khẩu lớn nhất từ
ASEAN, Nhật Bản đứng thứ 3, chỉ sau Mỹ và EU. Tính đến năm 1996, xuất khẩu của
Nhật Bản vào khu vực này đã tăng liên tục 14 năm liền và nhập khẩu tăng 9 năm liền.
Kể từ năm 1997, do tác động của khủng hoảng tài chính nên quan hệ thương mại song
phương có chiều hướng chững lại. Năm 1998, kim ngạch thương mại song phương
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ASEAN – Nhật đạt gần 84 tỷ USD, chiếm 14% tổng kim ngạch thương mại của
ASEAN. Và nếu tính chung trong giai đoạn 1998 – 2006, kim ngạch thương mại song
phương trung bình hàng năm tăng 15%. Nhật Bản thường nhập khoảng 16% dầu mỏ,
30% đồng, 35% bô xít, 12% kẽm, 37% gỗ, 100% thiếc và cao su tự nhiên từ khu vực
này. Những con số trên phản ánh sự gần gũi và hỗ trợ mật thiết lẫn nhau giữa các nền
kinh tế ASEAN và Nhật Bản, cũng như mối quan hệ đối tác quan trọng giữa hai bên.
Nhật Bản đã trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của các nước Đông Nam Á.
Và nếu khu vực mậu dịch tự do (FTA) giữa hai bên trở thành hiện thực trong năm 2020,
thì xuất khẩu của Nhật Bản sang ASEAN mỗi năm có thể lên tới 67 tỷ USD, tức là gấp
1,5 lần so với hiện nay.
Việt Nam là một nước thành viên của ASEAN, hơn nữa lại là nước nằm trong
nhóm CLMV (Cawmpuchia, Lào, Mianma, Việt Nam) được nhận những ưu đãi hơn so
với các nước ASEAN khác trong chính sách kinh tế đối ngoại của Nhật Bản. Chính vì

tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng FDI đạt 9.037,8 triệu USD. Tuy Nhật chỉ
đứng thứ 4 trong số các nước và vùng lãnh thổ có dự án FDI làm ăn tại nước ta, nhưng
lại là nước có vị trí hàng đầu trong thực hiện dự án và giải ngân vốn đầu tư. Trong cuộc
thăm dò năm 2007 của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), Việt Nam đứng
thứ 3 sau Trung Quốc và Ấn Độ trong danh sách điểm đến ưa chuộng tại châu Á của các
nhà đầu tư Nhật Bản.
Ngoài lợi thế về nguồn vốn đầu tư, Nhật Bản còn có các công nghệ tiên tiến hiện
đại có thể đáp ứng cho nhu cầu của Việt Nam. Hiện tại, công nghệ của Việt Nam ở mức
thấp so với khu vực như Thái Lan, Xingapo,... Nếu so với mức trung bình của thế giới
thì hệ thống thiết bị kỹ thuật ở đa số các doanh nghiệp lạc hậu hơn từ 2 – 3 thế hệ. Tỷ lệ
công nghệ thấp của Việt Nam còn quá cao trong khi tỷ lệ công nghệ cao, hiện đại lại
thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khối ASEAN. Do vậy, muốn đạt được mục
tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 thì Việt Nam cần tăng cường hợp tác
hơn nữa với các quốc gia, nhất là những quốc gia phát triển có vốn và công nghệ hiện
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đại như Nhật Bản. Nếu Việt Nam nhập khẩu được các dây chuyền công nghệ cao và tiếp
thu kinh nghiệp quản lý của Nhật Bản thì có thể nâng cao năng suất, chất lượng của sản
phẩm, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm đó so với các sản phẩm cùng loại khác của
nước ngoài. Kết hợp cùng với việc sử dụng hiệu quả các lợi thế so sánh của Việt Nam
như lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công thấp hơn số với một nước trong khu vực,
nguồn thủy hải sản phong phú, tài nguyên khoáng sản đa dạng… thì sẽ có thêm nhiều
sản phẩm của Việt Nam có mặt tại thị trường Nhật Bản.
Nhật Bản là một trong những quốc gia nhập khẩu nông phẩm thuần lớn nhất thế
giới. Phần của sản xuất nông nghiệp trong tổng sản phẩm nội địa giảm mạnh, từ 9,0%
năm 1960 xuống còn 1,8% năm 1990. Đồng thời, nhập khẩu nông phẩm của Nhật Bản
tiếp tục tăng tới 30 lần xét về giá trị trong khoảng thời gian trên, đạt 26 tỷ USD, chiếm
11,1% trong tổng giá trị nhập khẩu vào năm 1990. Cũng tương tự như nông nghiệp, sản
lượng của ngành ngư nghiệp Nhật Bản ngày càng giảm sút. Hàng năm, để đáp ứng được

nước.
,8m8JYaO !"# /#%&'
Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới và hiện nay là nước nhập khẩu
hàng hoá lớn thứ hai của Việt Nam sau Hoa Kỳ. Liên tục trong vòng 11 năm từ 1991 đến
2001, Nhật Bản luôn là quốc gia nhập khẩu hàng hoá lớn nhất của Việt Nam. Hàng năm
Nhật Bản nhập khẩu khối lượng hàng hoá trị giá 330 – 400 tỷ USD, năm 2003 trị giá
nhập khẩu đạt 381,2 tỷ USD. Trong đó nhập từ Việt Nam khoảng 2,3 – 2,9 tỷ USD,
chiếm khoảng 13 – 16% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Năm 2004,
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt khoảng 3,79 tỷ USD, tăng 16,6%
so với năm 2003 và nhập khẩu từ Nhật Bản đạt khoảng 3,12 tỷ USD. Năm 2005, kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt khoảng 4,56 tỷ USD, tăng 20,3% so
với năm 2004.Trong đó, nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản đạt khoảng 3,6 tỷ USD,
tăng 15,3% so với 2004. Năm 2006 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản
đạt 5,2 tỷ đô la tăng trên 18,6% so với năm 2005. Năm 2007 kim ngạch xuất khẩu Việt
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nam sang Nhật Bản đạt 5,7% tăng 9,6 % so vơi năm 2006. Năm 2008 kim ngạch xuất
khẩu Việt Nam sang Nhật Bản đạt 7,5 tỷ USD tăng 31,6% so với năm 2007. Thị trường
này hiện chiếm khoảng 11,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.Quan hệ thương
mại Việt - Nhật đang phát triển với tốc độ cao. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
Nhật Bản thời gian gần đây luôn tăng trung bình từ 15 - 20% so với năm trước. Các mặt
hàng nhập khẩu chủ yếu từ Việt Nam là dầu thô, hàng hải sản, hàng dệt may, thủ công
mỹ nghệ, gạo, than… Ngược lại, Nhật Bản xuất khẩu sang nước ta các mặt hàng như:
máy tính và linh kiện điện tử, ô tô các loại, xe máy, xăng dầu… Cơ cấu các mặt hàng
xuất, nhập khẩu giữa hai nước thay đổi theo từng năm, góp phần tác động tới kim ngạch
xuất nhập khẩu. Năm 2000, kim ngạch thương mại song phương đạt 4,5 tỷ USD, năm
2006 đã tăng lên 9,9 tỉ USD năm 2007 tăng lên 12,2 tỷ USD. Kim ngạch thương mại năm
2008 của 2 nước đạt 17.3 tỷ USD, cao hơn 2,3 tỷ USD so với mục tiêu hai bên đặt ra cho
năm 2010. Điều đáng chú ý là cán cân thương mại hơi nghiêng về Việt Nam.

hai nước. Số mặt hàng Nhật Bản xuất khẩu sang Việt Nam năm 2005 gấp khoảng ba lần
số mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản. Tuy nhiên Việt Nam vẫn chỉ là bạn
hàng nhỏ bé trên thị trường Nhật Bản rộng lớn, đầy tiềm năng. Ngoài ra còn tồn tại
không ít các yếu tố cản trở sự phát triển về quan hệ mậu dịch giữa hai nước. Bởi vậy,
xuất hiện câu hỏi: “Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản thời gian qua đã phát triển
như thế nào? Sự phát triển đó diễn ra nhờ những nhân tố gì? Liệu có thể phát triển mối
quan hệ thương mại giữa hai nước trong tương lai hơn nữa hay không? Việt Nam cần
phải làm gì để tăng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản?...
Tóm lại, qua những điều đã được trình bày trong chương này, chúng ta có thể
khẳng định rằng sự phát triển của quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản là hoàn
toàn phù hợp với lý luận về thương mại quốc tế, có tiềm năng to lớn để phát triển trên cơ
sở tận dụng những lợi thế (cả tuyệt đối lẫn tương đối) về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội của mỗi quốc gia, và được thúc đẩy mạnh mẽ bởi bối cảnh quốc tế mới cũng như
những chủ trương chính sách của mỗi quốc gia. Vậy thì thực trạng quan hệ thương mại
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Việt Nam – Nhật Bản đã diễn ra như thế nào? Vấn đề này sẽ được đề cập đến trong
chương 2.
3456#7084:3oA#7?#4@456#7A
"@#?/#4B&=#p#>,--.;##>0..q
08,8#MRQO !"# /#%&'
08,8,89RZYP !
Nhật Bản là một trong những bạn hàng thương mại quan trọng của Việt Nam. Kim
ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Nhật Bản luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam (với tất cả các nước trên thế giới). Năm
1990, kim ngạch thương mại song phương chỉ đạt 509,3 triệu USD, chiếm khoảng 10%
trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam thì năm 1997 đã tăng lên 3.184,7 triệu
USD, chiếm hơn 15% trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam. Giá trị kim
ngạch thương mại tăng dần qua từng năm và tăng gấp hơn 6 lần trong vòng 8 năm. Năm

Trích đoạn Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu củaViệt Nam từ Nhật Bản Sự phát triển của quan hệ thương mại Việt Nam –Nhật Bản chưa thực sự
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status