mở đầu
1. Sự cần thiết của đề tài
Việt Nam và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21/ 03/1973.
Trong 30 năm qua, quan hệ kinh tế giữa hai nớc không ngừng phát triển trong đó
quan hệ thơng mại ngày càng đợc tăng cờng mạnh mẽ. Đặc biệt từ khi Liên Xô
và Đông Âu tan rã, Nhật Bản đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, có
vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam.
Quá trình phát triển thơng mại giữa hai nớc có thể chia làm ba giai đoạn ;
1973 - 1986, 1987 - 1992, 1993 cho đến nay với hai bớc ngoặt quyết định vào
năm 1987 và 1992. Trớc năm 1987, quan hệ thơng mại giữa hai nớc vẫn đợc duy
trì nhng nói chung không ổn định và còn ở mức độ thấp. Trong giai đoạn này,
buôn bán giữa hai nớc gia tăng từ năm 1973 đến năm 1978, sau đó giảm đi trong
những năm 1979 - 1982. Sau đó đến năm 1986, quan hệ thơng mại giữa Việt
Nam và Nhật Bản phát triển trở lại. Từ năm 1987, Việt Nam bớc vào một giai
đoạn mới với công cuộc đổi mới chuyển hớng sang nền kinh tế thị trờng và thực
hiện chính sách mở cửa. Đây là bớc ngoặt lớn của Việt Nam trong phát triển
kinh tế cả đối nội cũng nh cả đối ngoại. Quan hệ thơng mại giữa Việt Nam và
Nhật Bản cũng bớc vào một giai đoạn mới với hai đặc trng là sự tăng lên vững
chắc về khối lợng buôn bán và sự quan tâm ngày càng cao của các nhà kinh
doanh và các công ty Nhật Bản đối với thị trờng Việt Nam. Năm 1992 là năm
đầu tiên giá trị buôn bán giữa hai nớc đạt trên 1 tỷ USD. Từ năm 1992 cho dến
nay- những năm đầu tiên của thế kỷ thứ 21, quan hệ thơng mại giữa hai nớc liên
tục có sự phát triển khả quan mặc dù có sự suy giảm trong hai năm 1998 - 1999
do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á. Nguyên nhân cơ
bản nhất, quan trọng nhất thúc đẩy quan hệ thơng mại giữa hai nớc phát triển
ngày càng mạnh mẽ là hoàn cảnh môi trờng quốc tế và khu vực thuân lợi; công
cuộc đổi mới của Việt Nam với các chính sách kinh tế đối ngoại năng động, phù
hợp với xu thế phát triển thời đại và lợi ích của cả hai bên Nhật Bản - Việt
Nam ... Đơng nhiên, đó mới chỉ là những nguyên nhân có tính khách quan bên
ngoài đối với Nhật Bản. Điều cần lu ý là về phía chủ quan Nhật Bản: sự chuyển
hớng chiến lợc trong chính sách đối ngoại nói chung và chính sách kinh tế đối
- Nhật càng có điều kiện phát triển mạnh hơn nữa. Đơng nhiên để đạt đợc sự phát
triển nh vậy, về phía Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực thực hiện có hiệu
quả cao nhất các giải pháp cơ bản về phát triển ngoại thơng Việt Nam nói chung
và thơng mại Việt - Nhật nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu
ở Việt Nam từ trớc đến nay các công trình của một số các tác giả nghiên cứu
liên quan đến quan hệ thơng mại Việt Nam - Nhật Bản là :
-2-
- Đỗ Đức Định, Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản đang phát triển,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.
- Trần Anh Phơng, chơng 4: Quan hệ thơng mại Việt Nam - Nhật Bản
trong những năm 1990 trong cuốn sách: Quan hệ kinh tế Việt Nam-
Nhật Bản trong những năm 1990 và triển vọng ( Vũ Văn Hà chủ biên ),
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000.
- Ngô Xuân Bình - Hồ Việt Hạnh , Chơng 2 - mục 2.4. Quan hệ kinh tế
Nhật - Việt năm 2001 trong cuốn sách Nhật Bản năm đầu thế kỷ XXI
, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.
- Nguyễn Duy Dũng , Năm 2002: quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
tiếp tục phát triển ổn định , Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc
á , số 1(43) 2- 2003.
- Nguyễn Xuân Thiên, 20 năm quan hệ thơng mại Việt Nam Nhật Bản
, Tạp chí Con số và Sự kiện số 1/1995 v.v..
Các công trình trên đây đã nghiên cứu về quan hệ thơng mại Việt Nam - Nhật
Bản trong thời gian một số năm của thế kỷ 20 . Các công trình nói trên đã nghiên
cứu thực trạng quan hệ thơng mại Việt - Nhật , thuân lợi và khó khăn và có đa ra
những giải pháp để giải quyết những khó khăn, bất cập đó tuy nhiên các công
trình nói trên mới chỉ đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn trong khoảng thời
gian mà các tác giả nghiên cứu mà khoảng thời gian đó đã qua, mặt khác vấn đề
mà các tác giả nghiên cứu chỉ là một nội dung trong công trình mà các tác giả
nghiên cứu hoặc nêú có tách riêng thì mới chỉ dừng ở một bài báo, một chơng
Nam - Nhật Bản.
- Làm rõ những đặc điểm nổi bật của quan hệ thơng mại Việt Nam - Nhật
Bản, xu hớng vận động và phát triển.
- Đề xuất những giải pháp đối với Việt Nam để thúc đẩy và nâng cao hiệu
quả quan hệ thơng mại Việt Nam - Nhật Bản.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chơng:
Chơng 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ thơng mại Việt Nam -
Nhật Bản
Chơng 2 : Thực trạng quan hệ thơng mại Việt Nam - Nhật Bản
Chơng 3 : Những giải pháp nhằm tăng cờng và nâng cao hiệu quả quan hệ
thơng mại Việt Nam - Nhật Bản
-4-
Chơng 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ
thơng mại việt nam - nhật bản
1.1. Một số lý thuyết cơ bản về thơng mại quốc tế
1.1.1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Theo Adam Smith (1723-1790) - nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh cho
rằng Sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào số hàng hoá và dịch vụ có sẵn
hơn là sự phụ thuộc vào vàng .
Tại sao các nớc cần phải giao dịch buôn bán với nhau? Tại sao Việt Nam
(hay bất cứ một quốc gia nào khác) không bằng lòng với hàng hoá và dịch vụ sản
xuất tại nớc mình?
Trong cuốn sự giàu có của các quốc gia xuất bản năm 1776, Adam
Smith đã nghi ngờ về chủ nghĩa trọng thơng vì cho sự phồn vinh của một nớc phụ
thuộc vào châu báu mà nớc đó tích luỹ đợc. Thay vào đó, ông cho rằng sự giàu
có thực sự của một nớc là tổng số hàng hoá và dịch vụ có sẵn ở nớc đó. Ông cho
rằng những quốc gia khác nhau có thể sản xuất những loại hàng hoá khác nhau
Tuy nhiên, một nớc chuyên môn hoá vào những sản phẩm nào? Mặc dù Adam
Smith cho rằng thị trờng chính là nơi quyết định, nhng ông vẫn nghĩ rằng lợi thế
của một nớc có thể là lợi thế tự nhiên hay do nỗ lực của nớc đó. Lợi thế tự nhiên
liên quan đến các điều kiện khí hậu và tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên có thể đóng vai trò quyết định trong việc sản xuất có hiệu
quả rất nhiều sản phẩm nh càfê, chè, cao su, dừa..., các loại khoáng sản.
Lợi thế do nỗ lực là lợi thế có đợc do sự phát triển của kỹ thuật và sự lành nghề.
Ngày nay, ngời ta thờng buôn bán, trao đổi các loại hàng hoá đã đợc sản xuất
công phu hơn là các nông phẩm hay tài nguyên thiên nhiên nguyên khai hoặc sơ
chế.
Quy trình sản xuất những loại hàng hoá này phần lớn phụ thuộc vào lợi
thế do nỗ lực thờng do kỹ thuật chế biến, là khả năng sản xuất các loại sản
phẩm khác nhau, khác biệt với các thứ khác. Ví dụ, Đan Mạch sản xuất đĩa bạc
không phải vì nớc này có nguồn mỏ bạc dồi dào mà do họ có thể sản xuất đợc
những đĩa bạc thật đặc biệt. Lợi thế về kỹ thuật chế biến là khả năng chế tạo các
sản phẩm đồng nhất có hiệu quả hơn. Ví dụ, Nhật Bản là nớc phải nhập sắt và
than, là hai thành phần quan trọng và cần thiết cho quá trình sản xuất thép. Nhng
nhờ có đợc quy trình sản xuất thép tiên tiến nên tiết kiệm đợc nguyên liệu và lao
-6-
động đã làm cho các nhà sản xuất thép Nhật Bản rất thành công trong cạnh tranh
trên thị trờng.
Lợi thế tuyệt đối đề cập tới số lợng của một loại sản phẩm có thể đợc sản
xuất ra, sử dụng cùng một nguồn lực ở hai nớc khác nhau. Một nớc đợc coi là có
lợi thế tuyệt đối so với nớc kia trong việc sản xuất hàng hoá A khi cùng một
nguồn lực có thể sản xuất đợc nhiều sản phẩm A ở nớc thứ nhất hơn là nớc thứ
hai.
Giả sử Việt Nam có lợi thế tuyệt đối so với Hàn Quốc trong một loại hàng
hoá, trong khi Hàn Quốc lại có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam một loại hàng
hóa khác. Đó là trờng hợp lợi thế tuyệt đối tơng hỗ. Mỗi nớc đều có lợi thế tuyệt
đối trong sản xuất một loại sản phẩm. Trong trờng hợp nh thế, tổng sản phẩm
tạ lúa và 4m
2
vải, trên toàn thế giới sẽ có lợi ích do chuyên môn hoá. Trong trờng
hợp này có nhiều sự chuyển đổi nguồn lực sang sản xuất lúa ở Việt Nam và càng
có nhiều sự chuyển đổi nguồn lực sang sản xuất vải ở Hàn Quốc thì lợi ích càng
lớn.
Những lợi ích này của việc chuyên môn hoá sẽ khiến những lợi ích của
ngoại thơng trở thành hiện thực. Việt Nam sẽ sản xuất nhiều lúa gạo và Hàn
Quốc thì sản xuất nhiều vải hơn so với trớc khi hai nớc này còn ở tình trạng tự
cung tự cấp. Nh vậy, Việt Nam sẽ phải sản xuất nhiều lúa gạo và ít vải hơn so với
nhu cầu ngời tiêu dùng ở Việt Nam và Hàn Quốc sẽ sản xuất nhiều vải và ít lúa
gạo hơn so với nhu cầu của ngời tiêu dùng ở Hàn Quốc. Nếu ngời tiêu dùng ở cả
hai nớc có vải và lúa gạo theo một tỷ lệ mong muốn thì Hàn Quốc cần phải xuất
khẩu vải sang Việt Nam và nhập lúa gạo từ Việt Nam.
1.1.2 . Lý thuyết lợi thế so sánh
Lợi ích thơng mại vẫn diễn ra ở những nớc có lợi ích tuyệt đối về tất cả
các sản phẩm vì các nớc này cần phải hy sinh sản lợng kém hiệu quả để sản xuất
ra sản lợng có hiệu quả hơn. Hay nói cách khác những lợi ích do chuyên môn
hoá và ngoại thơng mang lại phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải lợi thế
tuyệt đối.
Khi mỗi nớc có lợi thế tuyệt đối so với nớc khác về một loại hàng hoá, lợi
ích của ngoại thơng là rõ ràng. Nhng điều gì sẽ xẩy ra nếu một nớc có thể sản
xuất có hiệu quả hơn nớc kia trong hầu hết các mặt hàng? Hoặc những nớc
-8-
không có lợi thế tuyệt đối nào cả, thì chỗ đứng của họ trong phân công lao động
quốc tế là ở đâu? hoạt động thơng mại diễn ra nh thế nào với những nớc này?
Trên thực tế đó là một câu hỏi mà David Ricardo từ hơn 170 năm trớc và
chính ông đã trả lời câu hỏi đó trong các tác phẩm với tiếng của mình Những
nguyên lý của kinh tế chính trị, 1817 trong tác phẩm này, David Ricardo đã đa
ra một lý thuyết tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thơng
Hàn Quốc
Tổng cộng
Có ngoại thơng (Việt Nam sản xuất lợng vải
cần thiết còn lại)
Tăng sản xuất lúa gạo
Việt Nam
Hàn Quốc
Tổng cộng
Việt Nam
100
3
4
50
50
vải
12,5
10
22,5
6,3
20
26,3
2,5
20
22,5
Hàn Quốc
100
6
5
50
50
có thể sử dụng để sản xuất 6,3 kiện vải (25,3/4). Hàn Quốc trong trờng hợp này
sử dụng toàn bộ nguồn lực của mình để sản xuất 20 kiện vải. Sản lợng lúa gạo
tổng cộng là 24,9 tấn, nhng sản lợng vải tăng lên từ 22,5 kiện lên 26,3 kiện.
Nếu ta tăng sản xuất lúa gạo tại Việt Nam, và vẫn giữ nguyên sản lợng vải
nh trớc khi có buôn bán giữa hai nớc, Hàn Quốc có thể sử dụng toàn bộ nguồn
lực của mình để sản xuất 20 kiện vải, Việt Nam có thể sản xuất 2,5 kiện vải còn
lại với 10 đơn vị nguồn lực (10/4); 90 đơn vị nguồn lực còn lại Việt Nam có thể
sản xuất 30 tấn lúa gạo (90/3) không cần phải hy sinh lợng vải có sẵn trớc khi có
ngoại thơng, lợng lúa gạo vẫn tăng lên từ 24,9 tấn lên 30 tấn.
Xét cho kỹ thì lý luận của David Ricardo chỉ là mở rộng nguyên tắc phân
công. Một cách khái quát, cho cả quốc gia cũng nh cá nhân, chuyên môn hoá
phải dựa theo khả năng.
Chúng ta thấy lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo đã đi xa hơn
quan điểm của Adam Smith về căn bản của mậu dịch quốc tế, khắc phục đợc
những hạn chế của lý thuyết thơng mại dựa trên lợi thế tuyệt đối của Adam
Smith.
1.1.3. Lý thuyết về giá trị quốc tế, mối tơng quan của cầu
Lý thuyết của David Ricardo mới chỉ đề cập đến yếu tố cung, cha chú ý
tới yếu tố cầu. Để bổ sung cho khiếm khuyết này, J.Stuart Mill đã bàn đến vấn
đề giá trị quốc tế hay tỷ lệ trao đổi giữa các sản phẩm. Ông là một trong những
nhà kinh tế học của thế kỷ XIX ủng hộ lợi ích của ngoại thơng. J.Stuart Mill cho
-11-
rằng sự mở rộng của ngoại thơng... đôi khi là một kiểu cách mạng công nghiệp
ở một nớc mà các nguồn lực của nó trớc đó cha đợc phát triển".
Thay vì so sánh phí tổn nhân công của quốc gia khi sản xuất ra một sản
phẩm ngang nhau, ông lại so sánh các sản phẩm sản xuất ra của hai quốc gia khi
sử dụng đầu vào nhân công ngang nhau.
Lý thuyết của S.Mill dựa trên năng xuất tơng đối của nhân công chứ
không phải phí tổn của nhân công nh D.Ricardo. Cấu trúc của S.Mill nh sau:
Bảng 4: Đầu vào và đầu ra hai sản phẩm ở hai quốc gia
>a
2
/b
2
, nghĩa là so với quốc gia II, tơng đối quốc gia I
có khả năng sản xuất A nhiều hơn B (hoặc có thể a
1
/a
2
>b
1
/b
2
) và ngợc lại b
2
/
b
1
>a
2
/a
1
thì quốc gia II sẽ xuất khẩu sản phẩm B và nhập khẩu sản phẩm A.
1.1.4. Quan điểm của Các Mác về ngoại thơng
Trong học thuyết của mình, Các Mác cha trình bày một cách hệ thống các
quan điểm về lý luận ngoại thơng. Tuy nhiên trong học thuyết kinh tế của
CácMác, nhất là trong bộ T bản trong khi phân tích về nền kinh tế hàng hoá
t bản chủ nghĩa, quan điểm của Các Mác về ngoại thơng đợc hình thành. Lý luận
về ngoại thơng của Các Mác có thể nói đợc tập trung ở những điểm sau đây:
-12-
quốc gia cũng nh giữa các công ty trên thế giới ngày càng phức tạp và đa dạng.
Đặc biệt là xu hớng tự do hoá thơng mại và đầu t của các quốc gia và các công ty
-13-
trong khu vực ngày càng mang tính quy định và bổ sung cho nhau nh một chính
thể thống nhất. Không phải ngẫu nhiên mà ngời ta thờng cho rằng các trung tâm
kinh tế buôn bán của thế giới nh Mỹ, Nhật Bản và EU đang dẫn dắt quá trình tự
do hoá và toàn cầu hoá hiện nay, đặc biệt trong việc chi phối Quỹ tiền tệ quốc tế(
IMF), Ngân hàng thế giới (WB), tổ chức thơng mại thế giới (WTO).
Thứ nhất, có thể nói xu thế toàn cầu hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại
của các nớc nhằm thích ứng với một môi trờng kinh tế quốc tế mới và đang thay
đổi. Dù biện minh dới hình thức nào và thay đổi hoạt động theo cách thức gì thì
mục tiêu cuối cùng của các quốc gia cũng nh các nhà kinh doanh cũng là lợi
nhuận, thị phần, và những ảnh hởng quốc tế ngày càng sâu rộng của mình. Để
đạt đợc những mục đích cần thiết này, các quốc gia phải bắt kịp, thích ứng, và
thậm chí phải đón đầu đợc với cả những triển vọng phát triển mới của nền kinh tế
thế giới.
Thứ hai, trong quá trình toàn cầu hoá, tiến bộ công nghệ nói chung, đặc
biệt là sự bùng nổ của cuộc cách mạng tin học trong những năm gần đây đã đẩy
nhanh quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tin học
trong nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là nhân tố nổi bật giúp cho việc điều hành
một cách dễ dàng các hoạt động kinh tế phân tán ở nhiều nơi khác nhau trên thế
giới bằng sử dụng rộng rãi các thiết bị tin học, nhờ đó các quốc gia phát triển và
các nhà kinh doanh không những có thể mở rộng các hoạt động kinh tế về quy
mô ra nớc ngoài mà còn có thể tăng cờng các hoạt động về chiều sâu, đổi mới về
phơng thức tổ chức và quản lý... Theo sự phát triển của mạng lới thông tin hiện
đại, sự trao đổi và thông tin lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng trở nên rõ ràng
và thuận tiện. Chính vì thế, hoạt động thơng mại và đầu t không những đã có thể
phát triển rộng khắp đến những khu vực và các nền kinh tế trên khắp thế giới mà
còn có thể tiến sâu hơn vào những vùng sâu, vùng xa và những nơi hẻo lánh mà
trớc đây không thể có điều kiện vơn tới đợc.
nhất.
Một trong những mốc đánh dấu tiến trình toàn cầu hoá kinh tế tăng nhanh là
sự luân chuyển nhanh chóng tiền vốn với quy mô ngày càng lớn. Nguồn vốn với
quy mô lớn với tốc độ luân chuyển nhanh đã trở thành một lĩnh vực mạo hiểm và
sôi động nhất của kinh tế thế giới hiện nay. Theo số liệu thống kê, mỗi ngày
mức giao dịch ngoại hối trên phạm vi toàn cầu đạt 1500 tỷ đô la Mỹ (USD), nếu
tính theo 250 ngày làm việc thì một năm mức giao dịch ngoại hối toàn cầu đạt
tớí 375.000 tỉ USD, trong đó, 98% chủ yếu dùng để mua bán có tính chất đầu t
với nhiều hình thức.
2
1
Võ Đại Lợc - Toàn cầu hoá. Những tác động và đối sách của Việt Nam, Kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng, số
1(22), 3-1999, trang 3.
2
Toàn cầu hoá kinh tế và đối sách của các nớc đang phát triển, Tạp chí tri thức thế giới, số 16,1999.
-15-
Toàn cầu hoá kinh tế đòi hỏi nguồn vốn (một yếu tố quan trọng của sản
xuất ) cũng phải đợc toàn cầu hoá. Lu động vốn còn là biện pháp hữu hiệu nhằm
vợt qua hàng rào thuế quan để chiếm lĩnh thị trờng các nớc. Tính đến cuối năm
1996, tổng giá trị vốn lu động trong thị trờng cổ phiếu thế giới là 20.200 tỉ USD,
trong đó tổng giá trị của 70 thị trờng cổ phiếu mới thành lập đã chiếm gần 1600
tỉ USD (khoảng 11% tổng số vốn). Nhờ có biện pháp áp dụng cao trong nghiệp
vụ tiền tệ mà tốc độ lu chuyển vốn toàn cầu đã đợc đẩy mạnh hơn bao giờ hết.
Từ năm 1980 đến nay, trong khi tốc độ tăng bình quân hàng năm của mậu dịch
thế giới là 5,5 - 6% thì lợng lu thông tiền vốn đã tăng bình quân lên 20%/năm.
Hiện nay, kim ngạch trao đổi ngoại tệ hàng ngày lên tới 1200 - 1300 tỉ USD.
Những con số đã chứng tỏ sức sống của toàn cầu hoá kinh tế, mặt khác cũng
phản ánh kinh tế đang mở rộng theo cơ cấu tiền tệ tăng lên. Chính vì thế những
rủi ro liên quan đến tiền tệ cũng ngày càng gia tăng đòi hỏi công tác quản lý và
giám sát thị trờng ngày càng phải chặt chẽ.
Đài Loan và Malaixia.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính và tiền tệ, nhiều nền kinh tế châu á đã lấy lại
niềm tin của các nhà đầu t trong đó, Nhật Bản là một trờng hợp điển hình.
Trong quý III năm1999, Nhật Bản đã thu hút hơn 10 tỉ USD đầu t nớc ngoài. Đây
đợc coi là một mức vốn đầu t cao nhất trong một quý kể từ sau chiến tranh thế
giới thứ hai. Đối với các nớc ASEAN sau khi giảm xuống mức thấp khoảng 17 tỉ
USD vào năm 1998, năm 1999, tổng số vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài vào các nớc
ASEAN đã tăng lên đáng kể. Theo dự báo của công ty t vấn quốc tế (PERG)
PERG dự tính, từ nay đến năm 2005, khu vực Đông Bắc á và ASEAN cần
khoảng 1500 tỉ USD đầu t cho phát triển cơ sở hạ tầng. PERG ớc tính, kế hoạch
của các nớc ASEAN về hệ thống đờng xuyên á, hệ thống viễn thông chung...
cần từ 200 tỉ đến 500 tỉ USD vốn đầu t. Và để thực hiện tầm nhìn 2020 đa các
nớc ASEAN trở thành các nớc công nghiệp hoá và phát triển đồng đều, Hiệp hội
các nớc này cần khoảng 1000 tỉ USD vốn đầu t, chủ yếu từ các nguồn vốn bên
ngoài.
Trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế, tốc độ tăng trởng của mậu dịch thế
giới cũng vợt ra xa tốc độ tăng trởng kinh tế. Theo các số liệu thống kê, trong
nhiều năm nay, tốc độ tăng trởng mậu dịch thế giới thờng cao hơn tốc độ tăng tr-
ởng kinh tế 1 đến 1,5 lần
Đây là kết quả của sự phân công lao động quốc tế không ngừng sâu sắc và
cũng là một trong những tiêu chí quan trọng của toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá cũng thúc đẩy quá trình hợp tác trong lĩnh vực kinh tế không
ngừng phát triển. Sự hợp tác này đợc mở rộng từ lĩnh vực mậu dịch hàng hoá
-17-
hữu hình và lĩnh vực mậu dịch dịch vụ vô hình. Đầu t quốc tế và thị trờng tiền tệ
quốc tế cũng phát triển với tốc độ ngày càng cao đòi hỏi phải có các văn bản quy
định, giám sát và điều hoà. Việc chuyển nhợng và bảo vệ bản quyền tri thức tiếp
tục phát triển, việc di chuyển sức lao động trên phạm vi thế giới đã đợc đa vào
nghị trình hợp tác toàn cầu. Có thể nói rằng các khâu trong hoạt động kinh tế đối
ngoại của các nớc, thậm chí việc định ra chính sách kinh tế trong nớc của mỗi n-
của những mặt tiêu cực sẽ bị hạn chế và ngợc lại.
Hiện nay, với một xuất phát điểm của nền kinh tế nớc ta còn thấp, còn một
bộ phận kinh tế cha thật sự thoát khỏi sản xuất hàng hoá nhỏ, các yếu tố đồng bộ
của một nền kinh tế thị trờng cha phát triển đầy đủ, thị trờng bất động sản, thị tr-
ờng tài chính, thị trờng lao động... cha hoàn thiện.
Để chuẩn bị đầy đủ hành trang cho cuộc hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu
quả, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách hành chính tơng đối
toàn diện để đáp ứng các yêu cầu toàn cầu hoá và hội nhập, đặc biệt là nâng cao
hiệu quả sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nớc... Trong đó, có một số
lĩnh vực đặc biệt cần đợc chú trọng trong quá trình cải cách nh: cải cách hệ
thống thuế, chính sách thơng mại, đầu t, các thủ tục thuế quan, tự do hoá lĩnh
vực dịch vụ, tài chính, bảo hiểm, hàng không, viễn thông, sở hữu trí tuệ... Nếu
không kịp thời cải cách và nâng cao năng lực cạnh tranh trên quy mô nền kinh tế
nói chung, cũng nh sản phẩm của từng doanh nghiệp nói riêng, của từng ngành,
hàng, dịch vụ... thì nớc ta không những không mở rộng đợc thị trờng mà còn có
thể dẫn đến nguy cơ bị thu hẹp thị trờng (kể cả trong nớc và nớc ngoài). Trong
bối cảnh năng động của tình hình kinh tế quốc tế hiện nay, dới sự chi phối của
môi trờng tự do buôn bán, tự do đầu t, nớc ta có thể sẽ biến thành thị trờng tiêu
thụ hàng hoá cho các hãng, các công ty và quốc gia bên ngoài. Hơn thế nữa, nếu
hàng sản xuất ra vừa đắt, vừa chất lợng thấp, không tiêu thụ đợc, đầu t không
đem lại hiệu quả mong muốn, lao động không có việc làm... thì hậu quả xã hội
sẽ rất nặng nề, thậm chí khó tránh khỏi khủng hoảng.
*Xu h ớng khu v ực hoá đ ợc đẩy mạnh
Một xu hớng kinh tế lớn trong nền kinh tế thế giới từ sau chiến tranh thế
giới thứ hai, đó là sự trỗi dậy và phát triển mạnh mẽ sự hợp tác và liên kết kinh tế
khu vực. Khái niệm khu vực hoá về mặt kinh tế đại thể đợc hiểu là một nhóm n-
ớc liên hợp với nhau trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi, các bên tự nguyện hạn chế
một phần quyền lợi kinh tế của mình, thậm chí nhợng bộ một phần chủ quyền
theo nguyên tắc đối đẳng; xây dựng cơ cấu chấp hành tơng ứng theo quy định
nghiêm ngặt, cùng nhau quy định điều kiện lu thông tự do của các yếu tố sản
ơng (APEC). Tính đến thời điểm năm 1999, APEC là một tổ chức hợp tác kinh tế
khu vực có quy mô lớn nhất thế giới với : dân số 2.165,5 triệu ngời (chiếm
khoảng 42,5% dân số toàn thế giới ); tổng sản phẩm quốc dân (GDP) 15.526,23
tỷ USD (chiếm khoảng 55,8% GDP của toàn thế giới) và kim ngạch xuất khẩu
-20-
2.255,6 tỷ USD (chiếm khoảng 43,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới ).
Với mục tiêu là tự do hoá đầu t và mậu dịch với nguyên tắc hiệp thơng nhất trí tự
nguyện, cân bằng lợi ích, không phân biệt đối xử và nhất trí cho rằng cần tăng c-
ờng hợp tác trong lĩnh vực tiền tệ quốc tế và khu vực để ngăn ngừa rủi ro và bảo
vệ sự ổn định của thị trờng. Chính vì thế, mô hình hợp tác kinh tế châu á về kinh
tế - kỹ thuật của APEC đã và đang cuốn hút sự chú ý của toàn thế giới. Thế kỷ
21 chắc chắn sẽ là thế kỷ phát triển đầy năng động của khu vực châu á - Thái
Bình Dơng và APEC là tổ chức hạt nhân.
Cùng với APEC, tổ chức kinh tế khu vực thứ hai có vai trò quan trọng và
ảnh hởng trực tiếp đến các quan hệ đối ngoại của Việt Nam và Nhật Bản là
ASEAN. ASEAN đợc thành lập vào ngày 8 tháng 8 năm 1967 chỉ có 5 nớc thành
viên Đông Nam á, hiện nay đã phát triển và mở rộng ra toàn bộ các nớc Đông
Nam á bao gồm 10 nớc, trong đó có Việt Nam. Ngay trong ngày đầu tiên thành
lập, ASEAN đã long trọng tuyên bố mục tiêu hàng đầu của Hiệp hội là thúc
đẩy sự tăng trởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực
thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng, hợp tác nhằm tăng cờng cơ
sở vật chất cho một cộng đồng các nớc Đông Nam á hoà bình và thịnh vợng.
Kể từ ngày đó đến nay, các nớc ASEAN luôn coi hợp tác kinh tế là một trong
những nội dung chủ yếu trong hoạt động của mình. Hiện nay, sự hợp tác kinh tế
trong ASEAN đợc đẩy mạnh trên những lĩnh vực chủ yếu nh: thơng mại, công
nghiệp, vận tải, thông tin, du lịch, tài chính - ngân hàng, nông - lâm - ng nghiệp,
năng lợng và khai thác khoáng sản. Những sự hợp tác này đợc thực hiện trên
nguyên tắc chung là bình đẳng và cùng có lợi.
Thơng mại là lĩnh vực hợp tác quan trọng của ASEAN đợc thực hiện theo h-
ớng chủ yếu là khuyến khích và tăng cờng buôn bán trong nội bộ các thành viên
0,3% diện tích toàn thế giới và lớn hơn diện tích Việt Nam (329.465 km
2
) chừng
15%. Dân số Nhật Bản theo thống kê năm 1996 là 125,9 triệu dân, chiếm gần
3% dân số toàn thế giới, đứng vào hàng thứ 6 trên thế giới (gần gấp 2 lần dân số
Việt Nam và dân số ở các nớc lớn ở Tây Âu nh Anh, Pháp, Tây Đức, Italia...)
Phần lớn đại đa số dân c (khoảng 90%) đều sống ở đồng bằng, chiếm 1/4
diện tích cả nớc, nên mật độ dân số còn cao hơn bất cứ nơi nào trên thế giới.
Trong đó, 49% dân số sống tập trung ở ba thành phố Tôkyô, Osaka, Nagoya và
các thành phố xung quanh đó. Đơng nhiên diện tích đất trồng hạn hẹp tức tỉ lệ
lao động so với đất đai cao, đã buộc ngời dân Nhật Bản, ngay từ thời tiền sử, đã
phải dốc sức vào việc cải tạo đất đai. Nhờ đó, tính cần cù của ngời dân Nhật Bản
ngày càng đợc hình thành và củng cố. Mặt khác, đất chật, nên sự tiếp xúc giữa
ngời với ngời càng thờng xuyên hơn, khiến cho việc phát triển mạng lới giao lu
có hiệu quả là điều đơng nhiên. Điều đó đã góp phần đáng kể vào khả năng đạt
-22-
đến sự nhất trí ý kiến của nhân dân, cũng nh việc phổ biến công nghệ nhanh
chóng trong nông nghiệp.
Về căn bản, khí hậu của Nhật Bản mang tính chất khí hậu Đại Tây Dơng,
song do quần đảo của Nhật Bản chạy dài từ Bắc xuống Nam nên khí hậu rất khác
nhau giữa hai miền Bắc, Nam và chia làm 4 mùa rõ rệt (tơng tự nh đặc điểm khí
hậu ở Việt Nam) , đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho cá và thực vật phát triển
phong phú, đa dạng.
Rừng núi chiếm tới 2/3 diện tích nớc Nhật, các thềm núi thờng có độ dốc
cao và đợc bao bọc bởi cây cối um tùm. Các đảo Nhật Bản là một phần của dãy
núi chạy dài từ Đông Nam á đến Alaska. Điều này đã tạo cho một nớc Nhật có
bờ biển dài (gồm 30000 km) nhiều đá và nhiều bến cảng nhỏ thuận lợi cho giao
thông trên mặt biển. Nó cũng tạo ra rất nhiều vùng núi có thung lũng, các con
sông chảy xiết và hồ nớc trong. Sông ngòi của Nhật Bản có ý nghĩa rất quan
trọng về thuỷ điện và thuỷ lợi
độ tăng tổng sản phẩm trong nớc trung bình hàng năm của Nhật Bản là 8,5%,
trong khi đó tốc độ tăng trởng của Anh là 2,4%, Mỹ là 2,9%, Pháp 4,6%; từ 1960
- 1969 Nhật: 10,8% , Anh 2,7%, Mỹ 4,8%, CHLB Đức 5,2%. So với năm 1950,
đến 1973 giá trị tổng sản phẩm trong nớc hàng năm tăng 20 lần, từ 20 tỉ USD lên
402 tỉ USD, vợt Anh, Pháp, CHLB Đức. Tốc độ phát triển trung bình hàng năm
thời kỳ 1950-1960 :15,9%; 1960 - 1969 :13,5%; giá trị tổng sản lợng công
nghiệp tăng từ 4,1 tỉ USD năm 1950 lên 56,4 tỉ USD năm 1969. Mặc dù từ sau
năm 1973, nền kinh tế Nhật đứng trớc những vấn đề gay gắt đó là cuộc khủng
hoảng kinh tế 1973-1975 chấm dứt thời kỳ phát triển nhanh và tơng đối ổn định
của nền kinh tế Nhật Bản, tôc độ tăng tổng sản phẩm kinh tế quốc dân hàng năm
thời kỳ 1974-1985 chỉ còn 3,8%. Những khó khăn nh vậy đối với nền kinh tế
Nhật Bản từ những năm 70 buộc chính phủ và giới kinh doanh Nhật phải tìm ra
và thực hiện sự thay đổi chiến lợc kinh tế thích hợp trong đó có đổi mới chiến lợc
kinh tế đối ngoại. Sự thay đổi này đã khắc phục những hậu quả của cuộc khủng
hoảng kinh tế, tạo ra sự tăng trởng kinh tế cao vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20,
tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân là 6,5%/năm. Nhng từ năm 1991 đến những
năm đầu của thế kỷ 21, nền kinh tế Nhật Bản đang ở trong cuộc khoảng kinh tế
sâu sắc, tốc độ tăng trởng kinh tế giảm sút, thâm hụt ngân sách tăng.
Nhật Bản là một quốc gia có tiềm lực về vốn và khoa học kỹ thuật
Vị trí của Nhật Bản trong nền kinh tế thế giới đã thay đổi do kết quả của sự
tăng trởng sản xuất và xuất khẩu trong những năm 60. Năm 1968, tổng sản phẩm
quốc dân của Nhật tính bằng đô la Mỹ đứng vào hàng thứ ba trên thế giới, chỉ
-24-
sau Mỹ và Liên Xô. Nh vậy nớc Nhật đã trở thành một cờng quốc về mặt tổng
sản phẩm quốc dân.
Bảng 5 : Tổng sản phẩm quốc dân của một số n ớc trên thế giới
(Đơn vị : tỉ đô la Mỹ)
Năm Mỹ Tây Đức Pháp Anh Italia Nhật
1960
1965
110
123
211
34
57
67
75
82
93
166
43
85
115
142
166
198
477
Nguồn : cuốn thống kê hàng năm của liên hiệp quốc.
Từ năm 1965 trở đi, Nhật Bản không còn phải giải quyết số tiền thiếu hụt trong
thanh toán quốc tế bằng những chính sách tiết kiệm chi tiêu, cắt giảm những yêu
cầu trong nớc và kìm hãm phát triển kinh doanh. Tình hình tốt đẹp này sở dĩ đã
đạt đợc tất nhiên là do sự phát triển kinh tế trong nớc, nhng đồng thời cũng là kết
quả của sức cạnh tranh của Nhật Bản trên trờng quốc tế, do tỷ giá hối đoái đồng
yên tiếp tục ở mức thấp 300 yên/đô la nh quy định từ năm 1949. Vì những lý do
này, Nhật Bản đã tích luỹ đợc khá nhiều vàng và ngoại tệ và từ địa vị một nớc
mắc nợ nớc ngoài chuyển thành một nớc có tiền cho vay kể từ năm 1967 trở đi.
Địa vị của Nhật Bản đã thay đổi hoàn toàn từ cuối những năm 60.
Sự biến đổi này khuyến khích Nhật Bản đầu t vốn ra nớc ngoài mà tổng
giá trị đã lên tới gần 1 tỉ đô la cho đến năm 1965. Từ năm 1965 cho đến năm
1970, số tiền đầu t ra nớc ngoài đã tăng lên 3,6 tỉ đô la và còn tiếp tục tăng mạnh