MỤC LỤC
Giai đoạn 1950 - 1954:....................................................................................................................4
Giai đoạn từ 1954 -1964...................................................................................................................4
Giai đoạn từ 1965 - 1975..............................................................................................................5
Giai đoạn từ 1976 - 1978 .............................................................................................................6
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Giai đoạn 1950 - 1954:....................................................................................................................4
Giai đoạn từ 1954 -1964...................................................................................................................4
Giai đoạn từ 1965 - 1975..............................................................................................................5
Giai đoạn từ 1976 - 1978 .............................................................................................................6
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam - Trung Quốc là hai nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông “.
Quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hoá, thương mại giữa hai nước đã hình thành từ lâu là
một tất yếu khách quan. Đối với nhân dân hai nước, quan hệ láng giềng, quan hệ giao
lưu văn hoá và thương mại đã trở thành một quan hệ truyền thống bền vững. Những
biến động chính trị xã hội trong lịch sử có những lúc thăng trầm nhưng chưa bao giờ
làm triệt tiêu được mối quan hệ giữa nhân dân hai nước. Chính vì vậy, quan hệ hai nước
đã trở lại bình thường hoá vào cuối năm 1991. Từ đó đến nay, quan hệ giữa hai nước
nói chung và trên lĩnh vực thương mại nói riêng đã phát triển ngày càng mạnh, ngày
càng bền vững và “đang trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại
của Việt Nam.”
Bước vào thế kỷ XXI, công cuộc đổi mới và cải cách ở cả hai nước Việt Nam –
Trung Quốc đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới . Vì vậy, việc củng cố và
tăng cường mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng - hai nước theo
phương châm 16 chữ vàng: “Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu
Dài, Hướng tới tương lai ” không những đáp ứng nguyện vọng và lợi ích cơ bản lâu dài
của nhân dân hai nước mà còn phù hợp vơí xu thế hoà bình và phát triển khu vực cũng
như trên thế giới .
Năm 2003, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc đạt 4, 540 tỷ
USD và Trung Quốc đã trở thành bạn hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam. Con số
này sẽ tăng nhanh trong năm 2004 và dự kiến sẽ đạt 5 tỷ USD vào năm 2005 và
gia trong quá trình lịch sử.
Trong giai đoạn từ đầu thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX quan hệ kinh tế giữa hai nước có
những đặc điểm nổi bật sau đây:
- Ngay từ xa xưa quan hệ kinh tế thương mại đã vượt ra khỏi biên giới một quốc gia,
việc buôn bán từ nước ngoài thường mang về lợi nhuận cao hơn, hơn nữa thông qua
hoạt động buôn bán qua biên giới làm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của bộ máy quân chủ
của hai nước.
1 - Chính sách xuyên suốt trong lịch sử các vương triều Việt Nam là độc lập tự chủ,
luôn áp dụng nguyên tắc “hoà hiếu với phương Bắc “, nới lỏng, cho tự do buôn bán,
trao đổi hàng hoá, miễn là tôn trọng, thực hiện đúng pháp luật Việt Nam .- Quan hệ
kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc trong suốt hơn 20 thế kỷ không phải diễn ra
bình lặng, mà quan hệ kinh tế ấy có những biến động thăng trầm phụ thuộc vào quan
hệ chính trị giữa hai quốc gia.
2 - Mặc dù cả hai nước phong kiến Việt Nam và Trung Quốc trong nhiều thời gian dài
thực hiện chính sách “ Bế quan, toả cảng “ song các hoạt động kinh tế, nhất là hoạt
3
động trao đổi buôn bán ở vùng biên giới Việt - Trung vẫn diễn ra, vượt khỏi sự cấm
đoán của triều đình trung ương .
3 - Trong quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc suốt hơn 20 thế kỷ, thì phần ưu thế,
thường thuộc về các thương nhân Trung Quốc hơn là thương nhân Việt Nam. Điều
này cho thấy khả năng vươn xa của và việc tổ chức buôn bán của thương nhân Việt
Nam còn có nhiều hạn chế .
1.1.1. Giai đoạn sau khi hai nước giành được độc lập
Từ khi hai nước giành được độc lập cho đến những năm 80 của thế kỷ 20 , quan
hệ kinh tế giữa hai nước được chia ra làm 4 giai đoạn chính sau đây:
Giai đoạn 1950 - 1954:
Sau chiến thắng lợi của chiến dịch biên giới 1950, các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn,
Lạng Sơn được giải phóng đã tạo điều kiện cho giao lưu buôn bán trao đổi hàng hoá của
nhân dân hai bên biên giới. Tháng 9/1951 Chính phủ hai nước Việt - Trung đã ký các
hiệp định về mậu dịch, Hiệp định về tiền tệ và Hợp đồng xuất nhập khẩu. Đồng thời
Chính Phủ Việt Nam và Chính Phủ Trung Quốc vẫn phát triển tốt đẹp. Việt Nam tiếp
tục củng cố thêm một bước các tổ chức ngoại thương của mình, hoàn chỉnh các chính
sách chế độ về mậu dịch đối ngoại, đồng thời tăng cường sự hợp tác giúp đỡ của phía
Trung Quốc nhằm khắc phục những khó khăn trong thời chiến .
Hàng năm Chính phủ phê duyệt cho Bộ ngoại thương được phép cử đoàn đại diện tham
dự Hội chợ Quảng Châu Trung Quốc, để giao dịch với các công ty Trung Quốc và các
thương nhân của các nước khác, nghiên cứu các kinh nghiệm làm ăn và chuẩn bị hàng
xuất khẩu. Tháng 7/1965 Chính phủ Việt Nam ký với Trung Quốc Nghị định thư về việc
chuyển tải hàng xuất khẩu của Việt Nam trong thời chiến qua các cảng của Trung Quốc.
Chính Phủ ta đã đề nghị với Chính Phủ Trung Quốc cho phép thành lập một số trạm tiếp
nhận và điều chuyển hàng viện trợ của các nước và hàng xuất khẩu của Việt Nam trên
đất Trung Quốc ( ở Mãn Châu Lý, Nam Ninh, Côn Minh, Hoàng Phố, Trạm Giang). Từ
1967 đến 1975 Chính phủ ta và Trung Quốc lần lượt ký các Hiệp định, Nghị định thư và
thư trao đổi về việc Chính phủ Trung Quốc viện trợ không hoàn lại, viện trợ bệnh viện,
lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng cho Việt Nam; viện trợ kinh tế và quân sự,
viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam; cung cấp vật tư, cung cấp thiết bị lẻ cho đài
phát thanh. Có thể nói rằng hoạt động xuất nhập khẩu trong thời kỳ này tập trung chủ
yếu vào việc vận chuyển hàng viện trợ từ Trung Quốc và các nước anh em khác phục vụ
cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam.
5
Giai đoạn từ 1976 - 1978
Sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ cao cả là giải phóng miền Nam, Việt Nam đã tiến hành
tổng tuyển cử trong cả nước bầu ra Quốc hội của cả nước Việt Nam thống nhất. Cũng
trong thời gian đó cuộc “ đại cách mạng văn hoá vô sản “ kết thúc, Trung Quốc thực sự
bước vào thời kỳ cải cách mở cửa. Trong giai đoạn này Việt Nam và Trung Quốc tiếp
tục ký các Hiệp định trao đổi hàng hoá và thanh toán.
Mặc dù mậu dịch biên giới Việt - Trung có nhiều lợi thế đối với nhân dân vùng biên của
hai nước, không thị trường nào có thể so sánh được, đó là thị trường gần, vị trí núi liền
núi, sông liền sông, nhân dân hai nước có quan hệ truyền thống lâu đời, hàng hoá hai
bên bổ sung cho nhau. Nhưng từ năm 1978 trở về trước buôn bán qua biên giới Việt -
càng mở rộng, ngoài những mặt hàng xuất khẩu truyền thống như dầu thô, cao su, hải
sản... hai bên đã bổ sung một số mặt hàng có thế mạnh khác. Trong những năm gần
đây, Việt Nam đã đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm đã qua chế biến như sản phẩm cà
phê hoà tan, hạt điều đã qua chế biến, dầu ăn và một số hàng tiểu thủ công nghiệp và
hàng tiêu dùng khác cũng đã và đang dần chiếm được thị trưởng ở Trung Quốc. Về phía
Trung Quốc áp dụng chính sách mậu dịch biên giới, hỗ trợ và đặc biệt ưu đãi cho
thương mại biên giới nhằm khai thác triệt để thị trường các nước láng giềng cho tiêu thu
hàng hoá tiêu dùng của Trung Quốc. Cũng do thành công trong phương thức buôn bán
biên mậu biên giới, trong những năm qua, hàng hoá của Trung Quốc đã chiếm được thị
trường của Việt Nam. Có thể nói, ở đâu cũng có hàng hoá của Trung Quốc.
Qua nghiên cứu lịch sử quan hệ giữa hai nước nói chung và quan hệ kinh tế - thương
mại nói riêng cho thấy rằng, sự ổn định về an ninh, chính trị là một nhân tố hết sức quan
trọng trong quan hệ nhiều mặt giữa hai nước. Như đã biết, Trung Quốc là một quốc gia
đông dân nhất thế giới, có nhiều nét tương đồng về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội với
Việt Nam. Bản thân nền kinh tế Việt Nam ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trước đây đã
có sự giúp đỡ của Trung Quốc. Chính vì vậy, mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại
giữa hai nước nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, đồng thời tạo sự ổn định về quan hệ
chính trị giữa hai nước là vấn đề hết sức cần thiết.
1.2. PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ - THƯƠNG MẠI VIỆT - TRUNG LÀ
MỘT XU THẾ TẤT YẾU
1.2.1. Vài nét về tình hình quốc tế và khu vực
7
Tình hình khu vực cũng như quốc tế vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 có
những thay đổi cực kỳ sâu sắc. Sự tan rã của Liên Xô vào tháng 9/1991 đã đánh dấu sự
kết thúc thời kỳ chiến tranh lạnh. Từ đây thế giới bước vào một thời kỳ mới. Các nước
lớn đều tiến hành điều chỉnh chiến lược toàn cầu và chính sách đối ngoại của mình. Hoà
bình và phát triển đã trở thành trào lưu chính của thời đại. Trên thế giới, các nước dù
lớn hay nhỏ đều tranh thủ môi trường quốc tế hoà bình để tập trung lực lượng cho
nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế của nước mình.
Tình hình quốc tế trên đây đã có những tác động mạnh mẽ đến tình hình khu vực châu
quan hệ giao lưu văn hoá, thông thương kinh tế, buôn bán và giúp đỡ lẫn nhau cuộc đấu
tranh cách mạng giữ nước của mỗi bên. Nhân dân các dân tộc thiểu số sống hai bên biên
giới từ bao đời nay đã hình thành quan hệ thân tộc. Mối giao hoà láng giềng thân thiện
đó đã tạo nên tình cảm gắn bó “ Tắm chung một dòng sông”, “ Nghe chung tiếng gà gáy
“, “gặp nhau như anh em một nhà”.
Thứ ba, về thể chế chính trị, Việt Nam và Trung Quốc có thể chế chính trị giống nhau,
đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo, trung thành với Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, không chấp
nhận đa nguyên, đa đảng. Hai nước đều kiên trì xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ
nhân dân và chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Đặc biệt trong hoàn cảnh CNXH tạm thời đang
trong giai đoạn khó khăn, Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã
và đang gánh vác trọng trách bảo vệ vai trò lãnh đạo bền vững của Đảng Cộng Sản và
sức sống mạnh mẽ của CNXH .
Thứ tư, về kinh tế, Hai nước Việt - Trung đều có tiềm năng to lớn trong nhiều lĩnh vực
hợp tác kinh tế, mậu dịch và đầu tư vì lợi ích chung và lợi ích riêng của mỗi bên. Hai
nước đã có chung đường biên giới trên bộ, trên biển là điều kiện thuận lợi cho hai bên
thông thương mậu dịch, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. Trung Quốc là thị trường
rộng lớn, đầy tiềm năng, có sức tiêu thụ lớn của của một thị trường trên 1,2 tỷ dân. Việt
Nam là quốc gia thuộc hàng trung bình trên thế giới, sấp xỉ 80 triệu dân, tài nguyên
thiên nhiên nhiên phong phú, nguyên liệu sản xuất dồi dào. Đó là những yếu tố bổ sung,
hỗ trợ cho nhau vì chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước và tiến trình tham gia hợp
tác, hội nhập kinh tế khu vực, toàn cầu.
Trong bối cảnh chung của tình hình Quốc tế và khu vực nêu trên, tình hình riêng của
Việt Nam và Trung Quốc cũng có những thay đổi theo chiều hướng thuận lợi.
9
Về phía Việt Nam, trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình quốc tế và khu vực, Đại hội
đảng VI Đảng Cộng Sản Việt Nam họp tháng 12 năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới.
Một thành tựu về đổi mới tư duy của Đại hội Đảng VI là đã rút ra 4 bài học cơ bản có ý
nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội và bảo vệ tổ quốc,
trong đó bài học thứ 3 là “ Phải kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại
trong điều kiện mới “. Cũng trong Đại hội Đảng VI, Đảng ta xác định “ Việt Nam sẵn
1.3.1. Những Hiệp định và các cặp cửa khẩu biên giới được mở là cơ sở pháp lý tạo
thuận lợi cho quan hệ kinh tế, thương mại phát triển.
Với quyết tâm xây dựng mối quan hệ kinh tế lâu dài, bền vững, từ tháng 11 năm 1991
đến nay, Chính phủ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Hoà
Nhân Dân Trung Quốc đã cùng nhau ký kết nhiều Hiệp định kinh tế thương mại quan
trọng như: Hiệp định thương mại giữa hai nước, Hiệp định tạm thời giải quyết công việc
vùng biên giới( hai hiệp định này được ký tại Bắc Kinh trong chuyến đi thăm chính
thức Trung Quốc lần thứ nhất của Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt
ngày 5 tháng 11 năm 1991); Hiệp định hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc( ký tại
Hà Nội nhân dịp Phó thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham sang
thăm Việt Nam, tháng 2 năm 1992); Hiệp định về hợp tác kinh tế kỹ thuật; Hiệp định về
hợp tác khoa học kỹ thuật được ký tại Hà Nội nhân dịp Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng
sang thăm chính thức Việt Nam đầu tháng 12 năm 1992; Hiệp định về thanh toán và hợp
tác giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng nhân dân Trung Quốc được ký
vào ngày 26 thán 5 năm 1993 tại Bắc Kinh; Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và
Chính phủ Trung Quốc về hàng hoá quá cảnh vào ngày 9 tháng 4 năm 1994 tại Hà Nội;
Hiệp định về thành lập Uỷ ban hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam - Trung Quốc;
Hiệp định về bảo đảm chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu; Hiệp định về vận tải đường
bộ, bộ ba Hiệp định này được ký ngày 19 tháng 11 năm 1994 tại Hà Nội nhân chuyến đi
thăm chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch nước Cộng Hoà Nhân Dân
Trung Quốc Giang Trạch Dân; Hiệp định về mua bán hàng hoá ở vùng biên giới giữa
Chính phủ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng Hoà
Nhân Dân Trung Quốc ký ngày 7 tháng 11 năm 1998 tại Bắc Kinh; Hiệp định về biên
giới đường bộ được ký kết ngày 23 tháng 2 năm 1999 nhân dịp Thủ tướng Chu Dung
Cơ sang thăm Việt Nam .
Với chủ trương hoà bình, ổn định cùng phát triển đặc biệt là phát triển kinh tế thương
mại, hai bên quyết định mở 21 cặp cửa khẩu đó là: Đồng Đăng - Bằng Tường, Hữu
11
Nghị - Hữu Nghị Quan, Móng Cái - Đông Hưng, Lào Cai - Hà Khẩu, Tà Lùng - Thuỷ
Khẩu, Ma Lu Thàng - Kim Thuỷ Hà và Thanh Thuỷ - Thiên Bảo là các cửa khẩu Quốc
Nhìn chung trong giai đoạn đầu sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ, Nhà nước ta
chưa ban hành đầy đủ chính sách khung về buôn bán qua biên giới nên chưa có cơ chế,
chính sách cụ thể để quản lý điều hành hoạt động xuất nhập khẩu ở các cửa khẩu biên
giới. Trong điều kiện như vậy, hoạt động giao lưu kinh tế thương mại qua biên giới Việt
- Trung ta còn chịu thua thiệt hơn so với Trung Quốc.
Để đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế đối ngoại nói chung và phát triển quan
hệ kinh tế - thương mại với Trung Quốc nói riêng, ngày 15/12/1995, Chính phủ đã ban
hành nghị định số 89/NĐ về bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép chuyến đối với hoạt động xuất
nhập khẩu, các doanh nghiệp được tự do kinh doanh xuất nhập khẩu theo phạm vi ngành
hàng trong giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do Bộ Thương Mại cấp. Quyết định
này tuy đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu nhưng chưa thực
sự khuyến khích được các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu.
Đứng trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, năm 1997 Chính phủ đã ban
hành luật thương mại và hàng loạt các văn bản pháp qui khác nhằm điều chỉnh cơ chế
quản lý hoạt động kinh tế, đặc biệt là kinh tế đối ngoại. Trong đó nghị định số 57/NĐ-
TTg của Chính phủ ban hành năm 1997 đã khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham
gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, tháo gỡ mọi trở ngại pháp lý đối với hoạt động xuất
nhập khẩu, từ thời điểm này các thành phần kinh tế đều được tham gia vào hoạt động
xuất nhập khẩu, đồng thời, Nhà nước đã ban hành các chính sách ưu đãi đặc biệt đối
xuất khẩu và hạn chế dần nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng, những mặt hàng mà trong
nước đã sản xuất được. Có thể nói, đây là bước đột phá có tính chất quyết định trong
chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của nhà nước ta.
Cùng với sự cải cách mạnh mẽ trong cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại, Chính phủ đã ban
hành một số chính sách ưu đãi đối với khu vực kinh tế cửa khẩu biên giới. Đặc biệt, các
quyết định 53/QĐ-TTg ngày 19/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với
khu kinh tế cửa khẩu; Quyết định 186/2001/QĐ-TTg ngày 7/12/2001 về phát triển kinh
tế-xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi biên giới phía Bắc thời kỳ 2001 - 2005 là
những cơ sở tiền đề quan trọng cho việc phát triển quan hệ kinh tế thương mại Việt -
Trung. Theo nội dung của quyết định 53/2001/QĐ-TTg của Chính phủ, nhà nước đặc
biệt ưu đãi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực cửa khẩu bằng nguồn vốn vay ưu đãi
láng giềng với các nước xung quanh .
Trong quan hệ buôn bán với các nước láng giềng, đặc biệt là với Việt Nam, Trung Quốc
xây dựng chiến lược biên mậu biên giới, đồng thời tiến hành hai hình thức buôn bán
14
chính ngạch và biên mậu, áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế, nhằm phát huy mọi lợi
thế về địa lý để phát triển kinh tế vùng biên giới. Với chính sách thương mại trên, vào
đầu những năm 1990, Trung Quốc bắt đầu có sự thay đổi về chính sách đối ngoại với
Việt Nam. Tiếp theo sự tăng cường về quan hệ chính trị, Trung Quốc bắt đầu coi trọng
hợp tác kinh tế và thương mại với Việt Nam, nhất là sau khi Việt Nam ra nhập ASEAN
thì Trung Quốc coi Việt Nam là đối tác quan trọng trong khu vực. Với chiến lược lâu
dài, Trung Quốc không muốn Việt Nam mạnh lên, nhưng trước xu hướng phát triển
của thế giới đã buộc Trung Quốc phải suy xét, tính toán vừa khai thác được thị trường
Việt Nam, vừa thông qua thị trường việt Nam để thâm nhập vào các thị trường khác
trong ASEAN nhất là Lào và Campuchia.
Tóm lại, Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống chính sách điều hành hoạt động kinh tế
thương mại với Việt Nam theo các định hướng cơ bản sau:
− Triệt để áp dụng hình thức buôn bán biên mậu, Chính phủ Trung Quốc dành nhiều
ưu đãi về thuế quan cho các Tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam. Hàng hoá
của các doanh nghiệp mậu dịch tiểu ngạch biên giới được miễn 50 % thuế nhập khẩu
và thuế giá trị gia tăng; hàng hoá của cư dân biên giới nhập khẩu qua biên giới.
− Xây dựng hoàn chỉnh chiến lược khai thác kinh tế Vịnh Bắc Bộ với dự kiến xây
dựng vòng cung kinh tế kết nối Dương Phố - Khâm Châu( Quảng Tây) với Hải
Phòng( Việt Nam ). Trung Quốc xây dựng mạng lưới giao thông đường sắt, đường
bộ kết nối toàn khu vực, tăng cường thăm dò, khai thác Vịnh Bắc Bộ.
− Trung Quốc chủ trương sử dụng thị trường Việt Nam để bổ sung cho Tây Nam,
đồng thời sử dụng“ chính sách biên giới mềm“ để kìm hãm kinh tế Việt Nam với
các nội dung như sau:
+ Lợi dụng biên giới trên bộ, trên biển để xuất hàng tồn kho, hàng kém phẩm chất vào
Việt Nam, đồng thời thu hút nguyên liệu, khoáng sản, lương thực, thực phẩm.
+ Một mặt Trung Quốc khuyến khích, tạo mọi điều kiện để xuất khẩu hàng hoá (chủ
- Quy định giảm thuế nhập khẩu mậu dịch tiểu ngạch biên giới.
- Miễn đối ngạch xuất khẩu và giấy phép .
- Quy định miễn thuế xuất nhập khẩu trong điều khoản hợp tác kinh tế kỹ thuật.
Những quy định và chính sách tạo thuận lợi nói trên đã thúc đẩy sự phát triển trung tâm
mậu dịch Pò Chài - Quảng Tây, làm cho Pò Chài trở thành một trong những điểm thực
hiện chính sách biên mậu thành công nhất của Trung Quốc .
16
1.3.4. Chính sách về phát triển mậu dịch biên giới tỉnh Vân Nam.
Nhằm quán triệt Thông tư quy định bổ sung và phát triển hơn nữa mậu dịch biên giới
của Bộ mậu dịch và hợp tác kinh tế đối ngoại và Tổng cục Hải quan, đồng thời củng cố
và phát triển hơn nữa mối quan hệ hợp tác mậu dịch kinh tế với Việt Nam, Chính quyền
nhân dân Tỉnh Vân Nam và các ngành hữu quan đã quán triệt và thực hiện thông tư nói
trên với các nội dung chủ yếu sau đây:
- Về quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu: Cục biên mậu tỉnh chịu trách nhiệm phân phối
hạn ngạch xuất khẩu đối với những hàng hoá nhà nước quản lý trọng điểm, Cục biên
mậu tỉnh chịu trách nhiệm phân phối hạn ngạch xuất khẩu cho doanh nghiệp biên
mậu trong hạn ngạch xuất khẩu mà Bộ Mậu dịch hợp tác đối ngoại cấp, Hải quan
cửa khẩu căn cứ giấy phép để làm thủ tục kiểm tra. Nhà nước quản lý hạn ngạch
nhập khẩu hàng hoá sản xuất từ các nước láng giềng, Cục biên mậu tỉnh tiến hành
phân phối hạn ngạch nhập khẩu trên cơ sở hạn lượng đã được Bộ mậu dịch và kinh
tế đối ngoại cấp cho cả năm, Hải quan căn cứ giấy phép để kiểm tra hang nhập khẩu
tại cửa khẩu.
Về quản lý dự án hợp tác kinh tế kỹ thuật đối ngoại: Doanh nghiệp tiến hành hợp
tác kinh tế kỹ thuật như công trình bao thầu, hợp tác lao động, tư vấn thiết kế ... và ký
hợp đồng đối ngoại phải báo cáo Cục biên mậu tỉnh để xin giấy phép phê duyệt. Hàng
hoá do các nước láng giềng sản xuất được mang về theo hạng mục hợp tác kinh tế kỹ
thuật với các nước láng giềng, ngoài xe ôtô và linh kiện thì doanh nghiệp được nhập
khẩu theo hạng mục, không phải xin giấy phép. Hàng hoá thuộc diện quản lý chính
ngạch nhập khẩu theo dự án kinh tế kỹ thuật với 3 nước Việt Nam, Mianma, Lào do Vụ
mậu dịch và hợp tác kinh tế đối ngoại phê duyệt .
biên giới và khai khống trị giá hàng xuất khẩu của một số doanh nghiệp xuất khẩu nhằm
gian lận trong việc hưởng chế độ hoàn thuế VAT đang diễn ra với tính chất hết sức
nghiêm trọng. Nếu tính đầy đủ các con số này thì tình hình buôn bán hai chiều sẽ tăng
lên, đồng thời con số nhập siêu của Việt Nam vào các năm 2009, 2010 cũng lớn hơn so
với số liệu thống kê .
19
Bảng 1 : Kim ngạch XNK hàng hoá hai chiều
Việt Nam - Trung Quốc Thời kỳ 1999 - 2010
Đơn vị : Triệu USD
Năm Tổng kim ngạch Việt Nam xuất Việt Nam nhập
1999 37,7 19,3 18,4
2000 127,4 95,6 31,8
2001 221,3 135,8 85,5
2002 439,9 295,7 144,2
2003 691,6 361,9 329,7
2004 669,2 340,2 329,0
2005 878,5 471,1 404,4
2006 989,4 478,9 510,5
2007 1.542,3 858,9 683,4
2008 2.957,0 1.534,0 1.423,0
2009 3.047,221 1.418,092 1.629,129
2010 3.654,275 1.495,485 2.158,790
(Nguồn:Vụ Châu Á- Thái Bình Dương, Bộ Công Thương)
Nhìn chung trong một thời gian khá dài 1999-2010, kim ngạch xuất nhập khẩu
giữa Việt Nam và Trung Quốc khá cân bằng, kim ngạch tăng đều qua các năm và chỉ
giảm nhẹ vào năm 2005. Sự biến động này có thể chấp nhận được do những dao động
của thị trường qua hàng năm . Năm 2007, Việt Nam giảm nhập thiết bị cho các nhà máy
đường, xi măng, nhất là đối với các thiết bị của nhà máy xi măng lò đứng đã làm giảm
kim ngạch nhập khẩu, trong khi đó số lượng hàng xuất khẩu không giảm đã dẫn đến
hiện tượng xuất siêu khá cao đạt 11,2 triệu USD năm 2006, năm 2007 là 66,7 triệu
hàng như sản phẩm nhựa giầy dép, hàng dệt may, máy tính và linh kiện, dây cáp điện,
cao su, đường tinh cùng một số mặt hàng thực phẩm khác dã thâm nhập được vào thị
trường Trung Quốc nhưng với số lượng không còn rất khiêm tốn. Theo số liệu thống kê
của Tổng cục Hải quan, trong 2 năm 2009 và 2010 ( Bảng 2 ) cho thấy, trị giá mặt hàng
dệt may xuất khẩu sang Trung Quốc là 34,8 triệu USD, chiếm 1,19% Tổng kim ngạch
hàng xuất khẩu; mặt hàng giầy dép các loại là 12,39 triệu USD, chiếm 0,42% trong tổng
kim ngạch xuất khẩu.
21
Bảng 2 : Một số mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc trong 2 năm
(2009-2010).
STT Tên hàng Tên đơn vị Lượng Trị giá (USD)
1 Cà phê Tấn 15.319 6.527.400
2 Cao su Tấn 256.868 139.886.124
3 Chè Tấn 923 1.432.229
4 Dầu ăn Tấn 26.517 8.684.757
5 Dầu thô Tấn 6.613.963 1.206.235.328
6 Dây điện và dây cáp điện USD 739.266
7 Đồ chơi trẻ em USD 37.014
8 Đường tinh Tấn 86.678 25.691.988
9 Gạo Tấn 11.368 2.225.554
10 Giày dép các loại USD 12.349.157
11 Hải sản USD 435.391.121
12 Hàng dệt may USD 34.851.236
13 Rau quả USD 264.330.461
14 Thủ công mỹ nghệ USD 6.413.467
15 Hạt điều Tấn 22.688 68.838.410
16 Hạt tiêu Tấn 7.504 11.779.411
17 Lạc nhân Tấn 2.248 1.168.352
18 Máy tính và linh kiện USD 27.171.638
19 Sản phẩm gỗ USD 19.689.651
phát triển của nước ta trong thời kỳ qua.
Đối với nhóm hàng tiêu dùng nhập khẩu, các sản phẩm của Trung Quốc đang
cạnh tranh rất mạnh với hàng sản xuất trong nước do hàng Trung Quốc có mẫu mã đẹp,
đa dạng về chủng loại, tuy có chất lượng không cao, chủ yếu là hàng địa phương nhưng
giá rẻ, khá phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của thị trường Việt Nam . Trước thực tế đó
đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm
trong nước, hạ giá thành để tăng tính cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại trên thị
trường nội địa và khẳng định sản phẩm của mình trên thị trường khu vực cũng như
Quốc tế.
23
Bảng 3 : Một số mặt hàng chủ yếu Việt nam nhập khẩu từ Trung Quốc trong 2 năm
(2008 - 2009)
STT Tên hàng Tên đơn vị Lượng Trị giá ( USD)
1 Chất dẻo nguyên liệu Tấn 19.815 15.471.206
2 Clinker Tấn 19.690 383.484
3 Linh kiện điện tử và Vi tính USD 64.227.418
4 Máy móc thiết bị, phụ tùng USD 567.277.230
5 NVL dệt may da USD 202.060.525
6 Ôtô dạng CKD,SKD Bộ 96 742.160
7 Ôtô nguyên chiếc Chiếc 673 8.299.078
8 Phân bón các loại Tấn 810.109 120.011.236
9 Sắt thép các loại Tấn 548.668 123.801.744
10 Tân dược USD 12.524.006
11 Xăng dầu các loại USD 3.038.758 705.099.337
12 Xe máy dạng CKD,IKD Bộ 632.204 121.890.246
Tổng 3.787.920.368
Nguồn: Bộ Công Thương – Vụ Châu Á-TBD
II. Nhận xét đánh giá chung về quan hệ Việt nam - Trung Quốc
1. Kết quả và thuận lợi.
Giao lưu kinh tế, thương mại trên biên giới Việt - Trung đã có sự tác
cả nước nói chung, đời sống đồng bào các dân tộc được cải thiện, cơ sở hạ tầng
phát triển, dân trí được nâng cao, góp phần xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng
cách phát triển giữa miền núi với miền đồng bằng…
Tuy nhiên cùng với sự phát triển quan hệ giao lưu, buôn bán kinh doanh xuất
nhập khẩu và đầu tư giữa hai nước, tình hình buôn lậu và gian lận thương mại ở tuyến
biên giới phía Bắc ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Do đặc điểm địa lý vừa có
đường biên giới đất liền kéo dài vừa có vùng lãnh hải tiếp giáp rộng lớn, ngoài các cửa
khẩu quốc tế còn có hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch và hàng trăm đường đi lối lại dọc
tuyến biên giới, thuận tiện cho việc mang vác, vận chuyển hàng hoá nhập lậu qua biên
giới làm cho tình hình quản lý an ninh khu vực biên giới, kiểm soát chống buôn lậu hết
sức khó khăn, phức tạp.
Hàng lậu từ Trung Quốc luồn lách qua các đường tiểu ngạch biên giới vào các
tỉnh biên giới rồi được vận chuyển trên đủ loại phương tiện từ xe máy, ôtô, tầu hoả, tàu,
thuyền trên sông, trên biển đổ về các tụ điểm chứa chấp tiêu thụ là trung tâm các tỉnh,
thành phố. Cơ chế thị trường tự phân chia lợi ích theo từng cung đoạn, hình thành
25