Chơng i
cơ sở lý luận chung về quan hệ thơng mại
Việt nam- Hoa kỳ
I. những xu hớng kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay
1. xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới
Ngày nay, nền kinh tế thế giới là một chỉnh thể thống nhất, nó là một
thể hữu cơ của nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Sự thống nhất của
nền kinh tế quốc gia thành một nền kinh tế thế giới thống nhất đó cũng phù
hợp với sự phát triển của quá trình phân công lao động vợt ra khỏi biên giới
của các quốc gia. Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ trên toàn thế giới đã thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế diễn
ra càng mạnh mẽ hơn. Quá trình phân công lao động quốc tế là nguồn gốc của
sự hình thành các mối quan hệ thơng mại quốc tế và nguồn gốc của toàn cầu
hoá. Trong lịch sử kinh tế thế giới cho tới tận bây giờ đã chứng minh rằng,
không một quốc gia nào hiện đang có nền kinh tế hoàn toàn không có quan hệ
với bên ngoài. Các quốc gia muốn phát triển thì nhất định phải tham gia vào
quá trình phân công lao động quốc tế. Quá trình này là một quy luật không thể
phủ định nó đợc.
Dới xu thế này, biên giới kinh tế của các quốc gia sẽ càng giảm do hàng
rào thuế quan và phi thuế quan sẽ bị bãi bỏ dần, một nền kinh tế toàn cầu
không biên giới sẽ xuất hiện, các mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền
kinh tế quốc gia sẽ phát triển, các thể chế kinh tế toàn cầu sẽ hình thành vv.
Trong điều kiện đó , một nền kinh tế muốn không lệ thuộc vào bên ngoài,
muốn đảm bảo lấy các nhu cầu thiết yếu, chắc chắn là sẽ không có chỗ đứng
chân. Một nền kinh tế phát triển hiệu quả sẽ phải là một nền kinh tế gồm
những ngành có lợi thế cạnh tranh cao và đơng nhiên là phải tuỳ thuộc vào thị
trờng thế giới.
1
Trong điều kiên đó, mô hình phát triển kinh tế theo hớng hội nhập nền
kinh tế quốc tế đang xuất hiện. Mô hình này khác hẳn với mô hình kinh tế h-
ớng nội: một bên lấy thị trờng toàn cầu trong đó thị trờng quốc gia làm căn cứ
tranh của mình. Đối với nớc ta, để phát triển đợc thì không có con đờng nào
khác là phải tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, lợi ích từ quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế đợc chứng minh từ những thành tựu mà nền
kinh tế nớc ta đạt đợc trong giai đoạn vừa qua- từ sau quá trình đổi mới
2. Xu thế hoà bình hợp tác và phát triển.
Xu thế đã trở thành xu thế chính thay cho sự đối đầu giữa các siêu cờng
quốc, sự xung đột, chạy đua vũ trang giữa hai hệ thống xã hội đối lập. Các
hình thức chủ nghĩa thực dân cũ và mới, các cuộc chiến tranh xâm lợc đã bị
lên án khắp nơi. Trên toàn thế giới, các nớc hiện giờ đang lỗ lực tập trung để
phát triển kinh tế. Đây là một điều kiện rất quan trọng để giúp cho các quốc
gia có thể mở cửa đất nớc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế phát triển trong
xu thế hoà bình hợp tác đang thay thế cho mô hình kinh tế phát triển trong
tình trạng đối đầu và chiến tranh lạnh. Một nền kinh tế đợc xây dựng trong
điều kiện luôn phải ứng phó với các cuộc chiến tranh lạnh dù là đã khác hoàn
toàn với nền kinh tế phát triển trong xu thế hoà bình hợp tác. một nền kinh tế
có tính chất chiến tranh cho nên tính hiệu quả không cao, chi phí cao, một bên
thực thi chính sách hợp tác, hội nhập quốc tế sâu rộng, lấy việc tăng hiệu quả
kinh tế, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế là quốc sách hàng đầu.
Đây là một thuận lợi lớn cho nớc ta, với xu thế này khi tham gia vào
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia sẽ dẹp vấn đề quan điểm đờng
lối, hệ tởng sang một bên trong một chừng mực nào đó và cùng nhau quan tâm
đến hợp tác về kinh tế. Nớc ta là một nớc đi lên con đờng xây dựng chủ
nghĩa xã hội, mặc dù chủ nghĩa xã hội là tốt đẹp tuy nhiên trên thế giới những
nớc đi theo con đờng này vẫn còn rất ít và trên thế giới thì hầu hết các nớc
phát triển lại đi theo con đờng t bản chủ nghĩa. Trong quá trình hợp tác với các
nớc này tuy nhiên do xu thế của thời đại này các nớc đều tập trung vào phát
triển kinh tế cho nên vấn đề này có thể đợc xoa dịu và đây là một điều kiện
3
thuận lợi cho chúng ta có thể đẩy mạnh quá trình hội nhập, tác dụng các hỗ trợ
từ các nớc lớn nhằm tạo động lực cho sự phát triển kinh tế quốc gia
nh lợi nhuận của hãng Itel, Mircosoft của Hoa kỳ đã đạt đợc mức lợi nhuận
24% trên doanh thu kéo dài trong nhiều năm trong khi đó lợi nhuận của những
ngành công nghiệp nặng trớc kia chỉ chiếm 10% doanh thu .
Nhờ cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, những nớc nghèo nh n-
ớc ta có thể tìm đợc cơ hội để phát triển, nếu tạo đợc nhân lực chất lợng cao,
tiếp cận đợc trình độ khoa học công nghệ hiện đại. Bên cạnh đó thời gian để
tiến hành công nghiệp hoá đợc rút ngắn. nếu ở thế kỷ 18, một nớc muốn công
nghiệp hoá phải mất khoảng 100 năm, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 thì phải
mất khoảng 50- 60 năm, trong những thập kỷ 70 là khoảng 20-30 năm, đến
cuối thế kỷ 20 thì quãng đờng này còn có thể rút ngắn hơn na. Do vậy, chúng
ta phải có những chiến lợc đi tắt đón đầu, có những thay đổi nhìn nhận lại về
xu hớng xuất hiện kinh tế tri thớc trong giai đoạn hiện nay. Những quan niệm
về quan niệm về mục tiêu, phơng tiện, phạm vi của công nghiệp hoá cần phải
có những thay đổi đòi hỏi cho phù hợp. Quan điểm công nghiệp hoá hiện đại
hoá của Đảng ta đó là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động
sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động
thủ công là chuyển sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển
của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã
hội cao. Quan niệm này trong điều kiện của nền kinh tế tri thức cần có sự thay
đổi bổ sung hoặc làm rõ thêm, ít nhất là về mục tiêu của ngành công nghiệp
hoá. Theo cách hiểu của quan niệm trong điều kiện của nền kinh tế tri thức
cần có sự thay đổi bổ sung hoặc làm rõ thêm, theo cách hiểu của quan niệm
trên thì năng suất lao động cao có nghĩa là nhàn nhiều, tốt, rẻ hơn một cách
định lợng thì rõ ràng là không đủ, ở đây có vấn đề thay đổi về chất hoặc về ph-
ơng tiện để tiến hành công nghiệp hoá cũng cần bổ sung vấn đề coi trí tuệ là
nhân tố tăng trởng kinh tế.
4. Xu hớng xuất hiện vòng cung châu á- thái bình dơng
5
Khu vực Châu á - Thái bình dơng là một khu vực gồm nhiều quốc gia
b.Vai trò và nhiệm vụ của thơng mại quốc tế
Đảng và nhà nớc ta chủ trơng mở rộng và phát triển quan hệ đối ngoại và
kinh tế đối ngoại, trong đó một lĩnh vực cực kỳ quan trọng là thơng mại hàng
hoá và dịch vụ với nớc ngoài. Đó là chủ trơng hoàn toàn đúng đắn và phù hợp
với thời đại, với xu thế phát triển của nhiều nớc trên thế giới trong những năm
gần đây. Thơng mại hàng hoá và dịch vụ với nớc ngoài không thể là quan hệ
ban phát cho không, không phải chỉ có nhập mà phải có xuất, phải cân đối đợc
xuất nhập và tiến tới xuất siêu ngày càng lớn. Tất cả các mối quan hệ đó muốn
lâu bền phải dựa trên các quy luật kinh tế và phải đợc giải quyết thông qua các
quan hệ Thơng mại buôn bán, trao đổi và kinh doanh vì mục tiêu kinh tế, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, vì dân giầu nớc mạnh và công bằng văn
minh..
Nói đến thơng mại quốc tế không thể không nói đến kinh doanh xuất nhập
khẩu hàng hoá vì dịch vụ và đây là nội dung quan trọng và cốt lõi của quá
trình kinh doanh thơng mại quốc tế. Kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá và
dịch vụ với nớc ngoài đòi hỏi phải đầu t trí lực, sức lực, tiền của, quan hệ và
phơng pháp quản lý để thu đợc kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu. Do
đó, thơng mại quốc tế trang bị những kiến thức cần thiết và lý thuyết thơng
mại quốc tế, thị trờng, hình thức giao dịch hợp đồng, thanh toán, quản lý xuất
nhập khẩu, hiệu quả kinh doanh Th ơng mại quốc tế là lĩnh vực và là ngành
phân phối lu thông hàng hoá và dịch vụ với nớc ngoài. Đây là lĩnh vực kinh
doanh hàng hoá thuộc hai khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng, chắp nối
sản xuất và tiêu dùng của nớc ta với sản xuất và tiêu dùng của nớc ngoài, nếu
làm tốt sẽ ảnh hởng rất lớn đến sản xuất và đời sống. Nếu xem xét quá trình
tái sản xuất theo nghĩa liên tục không ngừng và theo ý nghĩa kinh tế mở thì hai
khâu phối và lu thông hàng hoá dịch vụ là những khâu đột phá đầu tiên của
7
tiến trình sản xuất. Nền sản xuất phát triển cao hay thấp, nhanh hay chậm phụ
thuộc một phần rất lớn vào chúng.
Thơng mại quốc tế giới thiệu, thúc đẩy khai thác tiềm năng và thế mạnh
Quan hệ thơng mại quốc tế nằm trong nội dung của quan hệ kinh tế
quốc tế rất rộng lớn và đa dạng gồm có: quan hệ trong lĩnh vực ngoại th-
ơng( quan hệ thơng mại quốc tế) quan hệ trong lĩnh vực dịch vụ nh du lịch
quốc tế, giao thông vận tải quốc tế, bảo hiểm quốc tế, quan hệ trong lĩnh vực
tài chính, quan hệ trong lĩnh vực đầu t quốc tế, quan hệ trong lĩnh vực chuyển
giao công nghệ. Có thể hiểu quan hệ thơng mại quốc tế là quan hệ kinh tế mua
bán, trao đổi hàng hoá của một nớc với nớc các quốc gia khác trên thế giới
bao gồm cả hàng hoá hu hình và hàng hoá vô hình.
Quan hệ thơng mại quốc tế là các mối quan hệ thoả thuận, tự nguyện
giữa các quốc gia. Nó diễn ra theo yêu cầu của các quy luật kinh tế nh : Quy
luật giá trị, Quy luật cạnh tranh, thêm vào đó, quan hệ thơng mại quốc tế còn
chịu sự tác động của hệ thống quan lý khác nhau của các chính sách pháp luật,
thể chế của từng quốc gia cũng nh các điều ớc quốc tế.
ở phần trên chúng ta nghiên cứu những xu hớng chung của nền kinh tế
thế giới, đến phần này, qua nghiên cứu những lý thuyết cơ bản về thơng mại
quốc tế nhằm giải thích bản chất của các hoạt động thơng mại quốc tế cũng
nh giải thích bản chất của quan hệ thơng mại Việt nam Hoa kỳ.
Các lý thuyết thơng mại quốc tế xuất hiện vào thế kỷ 15 và đợc phát
triển liên tục qua mấy năm nay. Theo tiến trình phát triển các lý thuyết khác
nhau về thơng maị quốc tế đã phản ánh từng nấc thang vận động t duy loài ng-
ời trong buôn bán quốc tế. Việc hiểu rõ các lý thuyết này sẽ tạo điều kiện cho
các công ty và các chính phủ xác định tốt hơn vị trí và quyền lơị của mình
trong buôn bán quốc tế, do đó các học thuyết có nhiệm vụ giải đáp những vấn
đề cơ bản.
2. Lý thuyết trọng thơng
9
Chủ nghĩa trong thơng xuất hiện từ giữa thế kỷ 15- 16 ở Châu âu
( mạnh nhất là Anh và Pháp) và thịnh hành vào cuối thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ
18, các nhà học giả tiêu biểu của chủ nghĩa trọng thơng là JeanBolin, Colber
ngời pháp và ThomasMun và Josias Child của Anh. T tởng cơ bản chủ nghĩa
đề cao nền kinh tế tự cung tự cấp. Vai trò của nhà nớc với t cách là chủ thể
điều chỉnh quan hệ kinh tế từ nớc này sang nớc khác đã đợc coi trọng. Tuy
vậy, lý luận về thơng mại quốc tế còn đơn giản, ít tính chất lý luận, thờng dợc
nêu lên dới hình thức những lợi khuyên thực tiễn về chính sách kinh tế, lập
luận mang tính chất kinh nghiệm cha thể giải thích đợc bản chất của thơng
mại quốc tế
3.Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A.Smith
Lý thuyết này xuất hiện vào đầu thế kỷ 18 cùng thời kỳ nổ ra 3 cuộc
cách mạng công nghiệp, cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp xây dựng trên cơ
sở lý thuyết về buôn bán tự do đợc phát triển vào thời kỳ này năm 1776 trong
tác phẩm sự giầu có của các dân tộc. Asmith đã bác bỏ quan niệm coi vàng
đồng nghĩa với của cải và đa ra quan điểm các nớc thu đợc lợi ích lớn nhất khi
tham gia trao đổi các loại hàng hóa có thể sản xuất với hiệu quả tối đa, ông
cho rằng các loại chi phí sản xuất sẽ là căn cứ cho biét từng nớc hoặc buôn
bán nên sản xuất mặt hàng gì
Theo quan điểm về lợi thế tuyệt đối, một nớc chỉ sản xuất các loại hàng
hoá cho phép sử dụng tốt nhất các nguồn tài nguyên của nó. Các nguồn lực đó
là đội ngũ lao động có tay nghề và đợc đào tạo thích hợp, nguồn vốn , tiến bộ
công nghệ hoặc thậm chí cả truyền thống kinh doanh.
Giả sử thế giới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai mặt
hàng giống nhau. Quốc gia thứ nhất có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất hàng
hoá X và quốc gia thứ hai có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất hàng hoá Y. Nếu
mỗi quốc gia tiến hành chuyên môn hoá trong việc sản xuất một mặt hàng mà
họ có lợi thế tuyệt đối, sau đó trao đổi, thì cả hai quốc gia sẽ đều thu đợc lợi
ích. Trong quá trình này, các nguồn lực sản xuất cả thế giới sẽ tăng. Sự gia
11
tăng các sản phẩm của toàn thế giới là nhờ vào chuyên môn hóa sản xuất và sẽ
đợc phân bổ giữa hai quốc gia theo tỷ lệ trao đổi thông qua ngoại thơng.
Nh vậy, trong khi những ngời theo chủ nghĩa trọng thơng cho rằng
trong thơng mại quốc tế chỉ có một số quốc gia có lợi, còn một số khác bị
so sánh ở mỗi quốc gia, mà các lợi thế so sánh đó có thể đợc thể hiện bằng các
chi phí cơ hội khác nhau của mỗi quốc gia, do đó lợi ích của thơng mại quốc
tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau của mỗi quốc gia. Chi phí của th-
ơng mại quốc tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau về chi phí cơ hội của
mỗi quốc gia. Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí tơng đối để làm ra các sản
phẩm hàng hoá khác nhau của mỗi quốc gia hay là nói cách khác khi các chi
phí cơ hội ở tất cả các quốc gia đều giống nhau thì không có lợi thế so sánh và
cũng không có khả năng nảy sinh các lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và
thơng mại quốc tế. Quy luật này đợc nhiều nhà kinh tế khác tiếp tục phát triển,
hoàn thiện trở thành một quy luật chi phối động thái phát triển của thơng mại
quốc tế.
3. Lý thuyết về nguồn lực và thơng mại của Hecksher Ohlin
Chúng ta đã thấy rằng lợi thế so sánh là nguồn gốc chính của những lợi
ích của thơng mại quốc tế, những lợi thế so sánh do đâu mà có? Vì sao các n-
ớc khác nhau lại có chi phí cơ hội khác nhau? Lý thuyết so sánh của D.Rcardo
đã không giải thích đợc những vấn đề trên đây. Để khắc phục hạn chế này, hai
nhà kinh tế thuỷ điển là Eli Hecksher và B. Ohlin trong tác phẩm th ơng mại
liên khu vực và quốc tế xuất bản năm 1933 đã phát triển lý thuyết lợi thế so
sánh của D. Ricardo thêm một bớc bằng việc đa ra mô hình H-O để trình bày
lý thuyết u đãi về nguồn lực sản xuất vốn có. Lý thuyết này đã giải thích hiện
tợng thơng mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi nớc, mỗi
quốc gia đều hớng đến chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử
dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nớc đó là thuận lợi nhất. Nói cách khác,
theo lý thuyết H-O một số nớc này có lợi thế so sánh hơn trong việc sản xuất
và xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sản xuất những
13
sản phẩm đó sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà một số nớc đó đợc u đãi hơn so
với một số nớc khác. chính sự u đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản
xuất này ( bao gồm vốn , lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu ) đã khiến
một số nớc đó có chi phí cơ hội thấp hơn ( so với việc sản xuất các sản phẩm
.1. Lịch sử quan hệ VN - HK
15
a. Trớc năm 1975.
Thời kỳ trớc năm 1975 Hoa kỳ đã có mối quan hệ với chính quyền Sài
Gòn cũ, kim ngạch buôn bán không lớn, chủ yếu là hàng hoá nhập khẩu bằng
viện trợ của Hoa kỳ để phục vụ cuộc chiến tranh xâm lợc . Về xuất khẩu sang
Hoa kỳ có một số mặt hàng nh gỗ, cao su, hải sản với số lợng không đáng
kể.
Từ tháng 5 năm 1994, Hoa kỳ thực thi lệnh cấm vận chống miền Bắc nớc
ta và khi Việt nam trong tất cả các lĩnh vực thơng mại tài chính tín dụng, ngân
hàng, đồng thời Hoa kỳ áp dụng chế tài khống chế các nớc đồng minh và các
tổ chức quốc tế nhằm ngăn cản, thao túng các mối quan hệ kinh tế thơng mại
Việt nam.
Mặc dù bị Hoa kỳ cấm vận, song thông qua con đờng trực tiếp hoặc gián
tiếp Việt nam vẫn có mối quan hệ kinh tế và viện trợ phát triển với nhiều nớc,
nhiều tổ chức và tổ chức phi chính phủ, trong đó có Hoa kỳ, nhiều công ty
Hoa kỳ gián tiếp cũng có mặt hàng hoá xuất khẩu vào nớc ta.
b. Những năm trớc 90.
Theo số liệu thống kê của Việt nam, xuất khẩu sang Hoa kỳ thời kỳ
1986- 1990 hầu nh không có gì về nhập khẩu, mặc dù bị cấm vận chặt chẽ
song hàng nhập khẩu từ Hoa kỳ trong giai đoạn 1986 1990 đạt giá trị 5 triệu
USD
c. Những năm đầu thập kỷ 90.
Bớc sang thập kỷ 90 quan hệ ngoai giao cũng nh quan hệ thơng mại giữa
hai nớc Việt nam Hoa kỳ có những bớc tiến đáng kể, nỗ lực hớng tới các
mối quan hệ hữu nghị hợp tác, bình đẳng cùng có lợi vì lợi ích của mỗi nớc,
khu vực và thế giới.
Nếu theo số liệu thống kê của Việt nam, xuất khẩu sang thị trờng Hoa kỳ
thời kỳ 1986- 1990 hầu nh không có gì, nhng bắt đầu từ đâu những năm 1990,
Việt nam đã xuất khẩu đợc lợng trị giá khoảng 5.000 USD, tăng lên 9.000
Hoa kỳ là một quốc gia giàu với diện tích 9,2 triệu km, dân số 262
triệu ngời, đủ các dân tộc và màu da. Hiện nay nền kinh tế Hoa kỳ là một
trong những nền kinh tế mạnh và hiện đại nhất thế giới. GDP của Mỹ năm
1999 là 9200 tỷ USD chiếm 20% tổng GDP của thế giới. Trong những năm
gần đây kinh tế Hoa kỳ có tốc độ tăng trởng khá cao và liên tục 4% năm 1999,
năm 2000 là 5% trong khi thị trờng Nhật bản và Châu Âu thì tăng trởng chậm.
Tất cả những điều đó cho thấy rằng nhu cầu tiêu dùng của ngời Mỹ vẫn sẽ tiếp
tục tăng cao, mặc dù trớc đây họ vốn đã là một thị trờng tiêu thụ khổng lồ.
Năm 2000, nhập khẩu của Hoa kỳ đã đạt tới con số 1.220 tỷ USD, trong khi
đó nhập siêu lên đến 267 tỷ USD. Có nhiều nhà phân tích đã cho rằng, nền
kinh tế Hoa kỳ là một nền kinh tế đang thách thức với lý luận chu kỳ kinh tế
truyền thống và ký luận kinh tế học phơng Tây. Ví dụ nh tỷ lệ lạm phát thấp
và tỷ lệ thất nghiệp thấp không cùng tồn tại lâu dài. Nhng kinh tế Hoa kỳ lại
đang trong tình trạng tỷ lệ lạm phát thấp và tỷ lệ thất nghiệp thấp. Do nền kinh
tế Hoa kỳ đạt kỷ lục 102 tháng liên tiếp giữ đợc phát triển, nó đã cải biến mối
quan hệ tăng tốc độ kinh tế, thất nghiệp, lam phát. Do đó, kinh tế Hoa kỳ tràn
đầy sức sống, nó thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển lành mạnh. Hầu nh hai
phần ba tổng sản lợng kinh tế của đất nớc bao gồm hàng hoá và dịch vụ là do
cá nhân mua cho việc sử dụng các nhân. Một phần ba còn lại là do Chính phủ
và các doanh nghiệp mua. Do tỷ lệ này đôi khi nền kinh tế Hoa kỳ có đặc trng
nh là - nền kinh tế tiêu dùng. Với sức mua nh vậy, thị trờng Mỹ có thể hiện
tiêu thụ nhiều sản phẩm với khối lợng lớn, đặc biệt đã nhiều năm nay, Trung
quốc và các nớc Nam Mỹ là những bạn hàng quan trọng của Hoa kỳ trong
việc cung cấp cho nớc này những sản phẩm sử dụng nhiều lao động và các sản
phẩm kỹ thuật cao, những dịch vụ với công nghệ tiên tiến để thu lợi lớn thì các
sản phẩm trên đợc khuyến khích nhập tối đa. Nh vậy, Hoa kỳ là miền đất hứa
đối với các sản phẩm của Việt nam, các sản phẩm có lợi thế nhờ nguồn lực lao
động rẻ. Chúng ta có thể thu đợc lợi ích rất lớn từ thị trờng này, tuy nhiên
chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn đó là phải cạnh tranh với những đối thủ
cũng có những lợi thế nh ta, ví dụ nh Trung quốc, chúng ta đi sau Trung quốc
Ngọc trai
19
19
Rau quả
5
Kính
3.5
Ngũ cốc và chế phẩm từ ngũ cốc
14
Sắt thép và sản phẩm từ sắt thép
23
Hạt có dầu
0.9
Đồng và sản phẩm từ đồng
4
Dỗu động thực vật 1.5 Dụng cụ và sản phẩm nhỏ tứ kim
loại
4
Đồ uống có cồn và không cồn 6 Lò phản ứng hạt nhân nồi hơi, máy
móc thiết bị
143
Thuốc lá 1.6 Máy móc thiết bị điện tử 122
Nhiên liệu, dầu mỡ 77 Phơng tiện vận tải 114
Hoá chất vô cơ 6 Thiết bị quang học 9
Hoá chất hữu cơ 19 Đồ chơi, dụng cụ thể thao 26
Dợc phẩm 6 Đồ dùng bằng gỗ 16
Phân bón 1.5 Nhôm 14
Nhựa 14 Nicken 7
Hoá phẩmkhác 6 Sứ 1.5
Cao su 8 Giày dép 3
sách tơng lai của Hoa kỳ trong khu vực Châu á Thái Bình Dơng) vì thế Hoa
kỳ không thể không chú ý
Đối với Hoa kỳ, Châu á có ý nghĩa then chốt đối với đời sống kinh tế
cũng nh đối với cuộc sống hàng ngaỳ của ngơì dân Hoa kỳ. Đó cũng là vùng
đất béo bở nhất xét từ góc độ bảo đảm việc làm và xuất khẩu của ngời dân
Mỹ. Hoa kỳ đã từ lâu quan tâm đến khu vực Đông Nam á, bởi vì 80% thiếu
hụt từ ngoại thơng của Hoa kỳ lại thuộc về 9 nớc ở khu vực Đông Nam á và
Đông á để tạo thế đối trọng với Trung Quốc và Nhật bản, cho phép Hoa kỳ có
thể kiểm soát hiệu quả tiềm lực quân sự của hai nớc này và kinh tế cuả cả khối
cũng nh vị thế của Việt nam trên thị trờng quốc tế cũng không nằm ngoài tính
toán chiến lợc của Việt nam trong việc mở rộng quan hệ thơng mại với Hoa
kỳ.
Trong bối cảnh đó, vị trí địa lý KT- CT của Việt nam đang đợc các nớc
lớn và trung tâm kinh tế thế giới ngày càng coi trọng và dần dần trở thành
21
khâu quan trọng trong chiến lợc của các trung tâm này. Quan hệ thơng mại
Việt nam đang nằm trong chiến lợc thâm nhập vào thị trờng mới nổi lên của
Hoa kỳ ở khu vực này song một nớc Việt nam đổi mới mở cửa đa dạng hoá, đa
phơng hoá các quan hệ đối ngoại, hội nhập vào khu vực và thế giới là không
trái với tính toán chiến lợc của Hoa kỳ ở khu vực này. Hơn nữa, Việt nam với
thị trờng nguyên liệu của Việt nam có nhiều có các cảng biển, mức sống của
dân c đang ngày càng gia tăng, cùng với đó là sự gia tăng nhu cầu làm cho
Việt nam đang trở thành một trong thị trờng đáng kể, là đối tợng đáng quan
tâm tranh giành trong cuộc săn lùng thị trờng mới của Hoa kỳ.
Việc ký hiệp định thơng mại Việt nam Hoa kỳlà những sự kiện quan
trọng đối với cả hai bên và đặc biệt đối với nớc ta trong giai đoạn hiện nay
nhằm tạo điều kiện cho buôn bán hai nớc phát triển. Mục tiêu hai nớc trong
mối quan hệ có thể khác nhau về chiếm lợc nhng có những điểm tơng đồng cơ
bản là lấy sự phát triển thơng mại là chính, tạo dựng các cơ hội tham gia thị tr-
ờng của nhau trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi.
quan hệ thơng mại giữa hai nớc là nhằm tăng cờng ảnh hởng của họ đến Đông
Nam á về mọi phơng diện. Hoa kỳ muốn tạo dựng hình ảnh mới của mình ở
khu vực này sau thời kỳ chiến tranh lạnh bằng việc thể hiện vai trò dẫn dắt
kinh tế của mình trong APEC. Do vậy, mặc dù Hoa kỳ cha đánh giá hết lợi thế
của một nền kinh tế nhỏ bé nh Việt nam, trong chiến lợc Châu á - Thái Bình
Dơng. Điều này đặt ra cho phía Việt Nam trong phơng hớng phát triển quan
hệ thơng mại với Hoa kỳ, quan hệ lợi ích phải đặt cái nhìn dài hạn, rộng lớn
của sự hội nhập. Càng hội nhập thực sự vào khu vực, Việt nam càng trở lên
sáng giá và có nhiều u thế trong tiến trình phát triển quan hệ thơng mại giữa
hai nớc.
Quan hệ thơng mại giữa hai nớc có sự khác biệt về chính sách của nền
kinh tế giữ vai trò chủ đạo và dẫn dắt xu thế tự do thơng mại với một nớc
đang phát triển cận xu thế này .
Mỹ là một nền kinh tế theo xu hớng tự do hoá thơng mại, thúc đẩy mậu
dịch tự do. Đây là động thái chính trong các chính sách thơng mại quốc tế của
Mỹ trong những năm tới. Để tham gia vào quan hệ thơng mại Việt nam
23
Hoa kỳ thì chúng ta cần phải đáp ứng những yêu cầu của Hoa kỳ nh trao cho
Hoa kỳ thuế tối huệ quốc, dỡ bỏ những hàng rào bảo hộ, thực thi chính sách
thị trờng tự do rõ ràng.Đây là những nguyên tắc mà Việt nam đều thấy cần
thiết phải áp dụng để chuyển đổi nền kinh tế của mình. Song là nớc nghèo,
nếu không duy trì sự phân biệt đối xử, không bảo hộ sản xuất trong nớc bằng
tăng thuế, không có sự u đãi các doanh nghiệp trong nớc Việt nam có thể duy
trì đợc sự phát triển ổn định của mình không. Chúng ta coi đây là một vấn đề
nan giải mà hai cách tiếp cận của hai nền kinh tế tất yếu gặp nhau. Đây là một
trở ngại lớn trong thơng mại giữa hai nớc. Tuy nhiên trong Hiệp định thơng
mại vừa qua thì Hoa Kỳ đã trao cho ta những u tiên về mặt thời gian trong việc
thực thi những nguyên tắc đó.
Quan hệ thơng mại Việt nam- Hoa kỳ chịu ảnh hởng của sự khác biệt
về quan điểm chính trị trong nhìn nhận quá khứ
1997 388.2 278.0 666.2
1998 553.4 269.0 822.4
1999 601.9 277.3 879.2
2000 283.2 291.1 882.1
2001 35.5 28.3 872.8
( nguồn : tạp chí thời báo kinh tế số 2 năm 2001)
Năm 1999 so với năm 1994, xuất khẩu tăng cờng gấp 12 lần, bình quân
tăng 64,2 cao gấp 2,8 lần tốc độ tơng ứng của cả nớc : nhập gấp trên 1,6 lần
bình quân tăng 10% thấp hơn tốc độ tăng 14,8% của cả nớc. So với tổng kim
ngạch xuất khâủ và tổng kim ngạch nhập khẩu thì xuất khẩu sang Hoa kỳ từ
chỗ chỉ chiếm 1,2% năm 1994 đã tăng lên 5,2 % năm 1999.
25