TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA HÀN QUỐC VÀ THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 2001 - 2012 - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
HỌC PHẦN: CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI I
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA HÀN
QUỐC VÀ THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – HÀN QUỐC
GIAI ĐOẠN 2001 - 2012
Giáo viên hướng dẫn: TS. Đỗ Thị Hương
Sinh viên thực hiện:
Đậu Thị Thảo Tiên (nhóm trưởng)
Chu Hà Linh Hàn Huyền Hương
Phạm Hoàng Vân Trang Hà Tú Anh
LỚP: KINH TẾ QUỐC TẾ 52A
HÀ NỘI – NĂM 2013
MỤC LỤC
DANH MỤC TÊN VIẾT TẮT…………………………………………………… 3
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………… 4
Phần I: Tình hình phát triển quan hệ thương mại quốc tế của Hàn Quốc giai đoạn
2001-2012
• Tổng quan về chính sách thương mại quốc tế của Hàn Quốc……………….5
• Chính sách thương mại quốc tế của Hàn Quốc………………………… 5
• Chính sách FTA của Hàn Quốc……………………………………… 11
• Lộ trình FTA và các bước đi của Hàn Quốc……………………………13
• Thách thức trong chính sách thương mại quốc tế của Hàn Quốc………14
• Tình hình phát triển quan hệ thương mại quốc tế của Hàn Quốc………….15
• Kim ngạch xuất nhập khẩu …………………………………………….15
• Cơ cấu hàng hóa……………………………………………………… 16
• Cơ cấu thị trường……………………………………………………….20
Phần II: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc giai đoạn 2001-2012
• Khái quát chung quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam – Hàn…………… 29
• Tổng quan về quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc………………………29

ASEM The Asia – Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á - Âu
RTAs Thỏa thuận thương mại khu vực
KITA Korea International Trade Association Hiệp hội thương mại quốc tế Hàn
Quốc
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, xu hướng chung của toàn thế giới là mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế. Hầu hết tất cả các quốc gia đều nằm trong xu hướng này. Mỗi quốc gia đều có sự
điều chỉnh các chính sách thương mại quốc tế cho phù hợp với tình hình, mục tiêu phát
triển của mỗi nước và không nằm ngoài xu thế của toàn cầu. Hàn Quốc cũng không là
ngoại lệ. Kể từ những năm đầu của thập kỉ 21, chính sách thương mại của Hàn Quốc là
tiếp tục mở cửa thị trường, thúc đẩy cạnh tranh, tự do hóa thương mại thông qua việc xúc
tiến kí kết các hiệp định thương mại tự do FTA với các nền kinh tế đang phát triển và tiên
tiến trên thế giới, trong đó có ASEAN.
Kể từ sau khi đổi mới nền kinh tế đến nay, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến việc
mở rộng mối quan hệ nhiều mặt với các quốc gia, các khu vực trên thế giới khi xu thế hội
nhập và toàn cầu hóa đang trở thành xu thế tất yếu của thời đại. So với nhiều nước trong
khu vực và trên thế gới, quan hệ Việt Nam- Hàn Quốc phát triển nhanh hơn và trên nhiều
lĩnh vực khác nhau do có được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ hai bên. Kể từ khi hai
nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992 đến nay, trải qua hai thập kỉ phát
triển, mối quan hệ thương mại giữa hai nước đã có những bước phát triển đáng tự hào.
Hàn Quốc hiện đứng thứ 4 trong số 10 quốc gia có quan hệ thương mại lớn nhất với Việt
Nam. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại trong quan hệ thương mại giữa hai nước.
Đó là việc mất cân đối quá lớn trong cán cân thương mại, Việt Nam luôn nhập siêu và
mức độ nhập siêu ngày càng tăng và thương mại giữa hai nước vẫn chưa tương xứng với
tiềm năng.
Xuất phát từ những đòi hỏi trên, nhóm bắt tay vào nghiên cứu đề tài " Tình hình phát
triển quan hệ thương mại quốc tế của Hàn Quốc và thực trạng quan hệ thương mại Việt
Nam-Hàn Quốc giai đoạn 2001-2012" với hy vọng làm rõ hơn sự phát triển quan hệ
thương mại của Hàn Quốc giai đoạn 2001-2012, đồng thời tìm hiểu thực trạng quan hệ
thương mại Việt Nam- Hàn Quốc trong cùng giai đoạn để từ đó góp phần đưa ra những

sách mở cửa thị trường, bãi bỏ quy định và tự do thương mại. Trong những năm đầu của
thế kỉ XXI, tiếp tục thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy cạnh tranh, tự do hóa thương
mại thông qua việc xúc tiến các hiệp định thương mại tự do - FTA với nhiều nền kinh tế
đang phát triển và tiên tiến trên thế giới. Từ đó đến nay, Hàn Quốc nỗ lực để đạt được
FTA hơn bất cứ quốc gia nào khác.
• Chính sách thương mại quốc tế của Hàn Quốc
Chính sách thương mại quốc tế của Hàn Quốc dựa trên việc hiểu biết về 3 nhân tố
then chốt của kinh tế thế giới: “hợp tác quốc tế, toàn cầu hóa và sự chuyển đổi sang nền
kinh tế tri thức”.
Nhận thức được những thực tế trong nước và thế giới, Hàn Quốc đang nỗ lực để xây
dựng một nền kinh tế tiên tiến, tự do và cởi mở. Với quan điểm đó, 4 mục tiêu chính sách
tổng thể đã được đặt ra:
- Tham gia tích cực và nỗ lực toàn cầu để xây dựng một trật tự kinh tế thế giới tự do và
cởi mở hơn
- Củng cố hợp tác kinh tế - thương mại khu vực và song phương nhằm đáp ứng những đòi
hỏi mới của thời đại toàn cầu hóa
- Giúp đỡ xây dựng môi trường thị trường trong nước tự do và cởi mở hơn
- Khuyến khích nền tảng trong nước cho việc thực hiện các chính sách kinh tế và thương
mại quốc tế hiệu quả hơn.
• Tham gia tích cực và nỗ lực toàn cầu để xây dựng một trật tự kinh tế thế giới
tự do và cởi mở hơn
• Củng cố sự tham gia hợp tác đa phương
Sự mở cửa cho thương mại đa phương là sự đảm bảo tốt nhất cho sự thịnh vượng lâu
dài của thế giới. Chỉ bằng những luật lệ và nguyên tắc được sự đồng thuận của các bên
liên quan mới giúp thế giới kiểm soát chủ nghĩa bảo hộ và có những bước đi xa hơn trong
việc tự do hóa thương mại. Thực tế, Hàn Quốc là một trong những quốc gia được hưởng
lợi từ trật tự thương mại đa phương, có niềm tin vững chắc đối với tầm quan trọng của
chủ nghĩa đa biên trong nền kinh tế toàn cầu. Vì lý do đó, Hàn Quốc đã chủ động tham
gia trong nỗ lực khởi động những đàm phán mới của WTO. Chính phủ Hàn đã làm hết
sức có thể để bảo đảm rằng một vòng đàm phán được khởi động tại hội nghị bộ trưởng

• Củng cố hợp tác kinh tế - thương mại khu vực và song phương nhằm đáp
ứng những đòi hỏi mới của thời đại toàn cầu hóa
• Đẩy mạnh hợp tác khu vực.
Các cơ chế đa phương như WTO cung cấp các phương tiện tốt nhất để đạt được
sự cởi mở trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên, các diễn đàn hợp tác khu vực như APEC
cũng có thể hỗ trợ trong việc đạt được các mục tiêu này. Dựa trên niềm tin như vậy, Hàn
Quốc đang tích cực tham gia trong cơ chế hợp tác khu vực, chẳng hạn như APEC,
ASEM, ASEAN +3. Hàn Quốc tin rằng việc thúc đẩy sự cởi mở trong khu vực có thể tạo
đà cho những nỗ lực quốc tế trong việc tăng cường do hóa thương mại. Trong APEC,
Hàn Quốc đã tích cực tham gia trong việc thiết kế và cải thiện kế hoạch hành động đơn
phương và tập thể của APEC để đạt được thương mại cởi mở trong khu vực Châu Á-Thái
Bình Dương. Ngoài ra, Hàn Quốc đã tổ chức Hội trợ đầu tư APEC và tiếp tục hợp tác
cùng thành viên khác để thúc đẩy đầu tư trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Trong
tương lai, nó sẽ tập trung nỗ lực vào việc sử dụng APEC để thúc đẩy hơn nữa hợp tác khu
vực.
• Tăng cường quan hệ song phương cùng có lợi.
Tạo lập và duy trì mối quan hệ kinh tế hợp tác, đôi bên cùng có lợi là một trong
những ưu tiên hàng đầu trong chính sách thương mại quốc tế của Hàn Quốc. Vì lẽ đó,
chính phủ đã nỗ lực giải quyết các vấn đề thương mại song phương mà các đối tác đưa ra.
Nỗ lực của Hàn Quốc trong việc xây dựng mối quan hệ song phương vững mạnh không
chỉ dừng lại ở việc nâng cao mối quan hệ với các đối tác thương mại lớn. Hàn Quốc dành
sự quan tâm sâu sắc tới việc mở rộng và phát triển các cơ hội với các nền kinh tế mới nổi
trên thế giới. Phái đoàn thương mại được cử đến các thị trường này và các sự kiện khác
nhau để thúc đẩy hợp tác kinh tế và thương mại đang được thành lập. Trong khi đó, thông
qua các đại sứ quán của Hàn Quốc và cơ quan đại diện ở nước ngoài, Chính phủ cũng có
những thông báo tới các doanh nghiệp Hàn Quốc về điều kiện thị trường và cơ hội ở
nước ngoài.
• Hợp tác với những quốc gia đang phát triển.
Chính quyền hiện tại đã tăng cường sự hợp tác của Hàn Quốc với các nền kinh tế
đang phát triển, tiếp tục nhấn mạnh cam kết về các giá trị toàn cầu, chẳng hạn như phát

trách nhiệm, tính linh hoạt và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Hàn Quốc.
• Khuyến khích nền tảng trong nước cho việc thực hiện các chính sách kinh tế
và thương mại quốc tế hiệu quả hơn.
Khi đề cập đến các vấn đề kinh tế và thương mại quốc tế, Chính phủ Hàn Quốc
hiểu rằng không một quốc gia nào trong một thị trường toàn cầu đang ngày càng trở nên
phức tạp này có thể có thông tin đầy đủ về một vấn đề cụ thể nào đó, và không một quốc
gia nào có thể đơn phương tìm ra những giải pháp tốt nhất. Vì những lí do đó, chính phủ
Hàn Quốc đang cố gắng thực hiện hợp tác và chia sẻ thông tin tốt hơn giữa các cơ quan
chính phủ, các công chức và chuyên gia.
Hàn Quốc đang thiết kế một cơ chế tham vấn mới cho các cuộc đối thoại và lấy ý
kiến rộng hơn, hiệu quả hơn trong nội bộ chính phủ và giữa chính phủ với khu vực tư
nhân. Việc lấy ý kiến từ khu vực tư nhân là rất cần thiết cho chính phủ Hàn Quốc vì hai lí
do:
• Thứ nhất, chính sách thương mại của Hàn là công cụ phục vụ cho doanh nghiệp
và người dân Hàn Quốc.
• Thứ hai, với nhiều vấn đề trong một thị trường thế giới ngày càng phức tạp, thì
chính phủ có thể có ít kinh nghiệm, chuyên môn và thông tin hơn là khu vực tư
nhân.
• Chính sách FTA của Hàn Quốc
Các cuộc thảo luận về chính sách FTA của Hàn Quốc thực sự bắt đầu vào cuối những
năm 1980 và trở nên căng thẳng vào cuối những năm 1990. Trong giai đoạn này, các
động thái hội nhập kinh tế ở Bắc Mỹ trở thành bằng chứng cho sự đảo chiều đột ngột
trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ hướng tới chủ nghĩa khu vực, Hàn Quốc cân
nhắc khả năng của một hiệp định thương mại tự do Mỹ-Hàn, nhưng không có bất kì cam
kết nào của chính phủ.
Tuy nhiên, vào tháng 11 năm 1998, chính phủ Hàn Quốc chính thức tuyên bố sẽ tìm
kiếm FTA đầu tiên với Chile và các cuộc đàm phán FTA song phương được bắt đầu từ
tháng 12 năm 1990. Cùng với đó, Hàn Quốc cũng nghiên cứu khả năng đàm phán FTA
với các đối tác thương mại như Nhật Bản, New Zealand và Thái Lan.
Một câu hỏi đặt ra: Tại sao lại là FTA?

ích từ tự do thương mại. Với việc tham gia và các khối khu vực và hợp tác với các thành
viên khác, Hàn Quốc sẽ duy trì được thị trường xuất khẩu ổn định và bảo vệ chính mình
trước ảnh hưởng phân biệt của các khối khu vực khác.
• Thứ tư: Sự cần thiết phải thúc đẩy việc tái cấu trúc và mở cửa nền kinh tế Hàn
Quốc.
Hàn Quốc nhận thấy rằng, việc tái cấu trúc và tiếp tục mở cửa nền kinh tế là chía
khóa quan trọng cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Với việc thành lập FTA toàn
diện với Mỹ và Nhật Bản, Hàn Quốc không chỉ tự do hóa thương mại và dịch vụ và còn
có thể cải thiện biện pháp và luật lệ để tăng tính minh bạch và hiệu quả của nền kinh tế.
• Lộ trình FTA và các bước đi của Hàn Quốc
Bảng: Tiến trình FTA của Hàn Quốc
Tình hình Đối tác FTA Thời gian có hiệu lực
FTA có hiệu lực ( 8 FTA với 45
quốc gia)
Chile 4-2004
Singapore 3-2006
EFTA ( Hiệp hội mậu dịch tự do
Châu Âu)
9- 2006
ASEAN
6- 2006 ( hàng hóa)
5- 2009 ( dịch vụ)
9 -2009 ( đầu tư)
Ấn Độ 1- 2010
EU 7 -2011
Peru 8- 2011
Hoa Kỳ 3 -2012
FTA được kí gần đây
Thổ Nhĩ Kỳ
Colombia

• Thứ hai, nền kinh tế Hàn cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh của lĩnh vực dịch
vụ và tăng thị phần xuất khẩu dịch vụ so với thế giới.
• Thứ ba, Hàn Quốc cần thực thi các biện pháp chính sách để nâng cao tính hiệu
quả của các FTA.
• Cuối cùng, Hàn Quốc cần phải tập hợp được sự ủng hộ trong nước cho chính sách
FTA, nâng cao sự giao tiếp với các tổ chức và lĩnh vực trong nền kinh tế, kể cả
với những người phản đối chính sách FTA.
• Tình hình phát triển quan hệ thương mại quốc tế của Hàn Quốc
Trong những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ 20, Hàn Quốc tiếp tục củng cố chính
sách mở cửa thị trường, bãi bỏ quy định và tự do thương mại. Trong những năm đầu của
thế kỉ 21, tiếp tục thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy cạnh tranh, tự do hóa thương
mại thông qua việc xúc tiến các hiệp định thương mại tự do FTA với nhiều nền kinh tế
đang phát triển và tiên tiến trên thế giới. Từ đó đến nay, Hàn Quốc nỗ lực để đạt được
FTA hơn bất cứ quốc gia nào khác.
• Kim ngạch xuất nhập khẩu
Biểu 1.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của Hàn Quốc giai đoạn 2001-
2012 (triệu USD) Nguồn: Hiệp hội thương mại quốc tế Hàn Quốc(KITA)
Trong giai đoạn 2001-2012, kim ngạch xuất nhập khẩu của Hàn Quốc tăng trưởng
rõ nét so với giai đoạn trước 2001. Trước năm 2000, kim ngạch xuất - nhập khẩu chỉ ở
mức dưới 150 tỷ USD thì đến năm 2000, kim ngạch xuất khẩu là 172,268 tỷ USD, kim
ngạch nhập khẩu đạt 160,481 tỷ USD. Tổng kim ngạch thương mại giai đoạn 1990- 2000
đạt 2.317,136 tỷ USD.
Nhìn chung, từ năm 2001 tới nay, kim ngạch xuất nhập khẩu của Hàn Quốc tăng
liên tục. Con số năm 2001 là 291,537 tỷ USD, và tăng nhanh liên tục, và đạt ngưỡng
857,282 tỷ USD vào năm 2008. Đột ngột giảm xuống 686,619 tỷ USD vào năm 2009 do
tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và bật tăng trở lại vào năm 2010, đạt kỷ lục
vào năm 2011 mức hơn 1000 tỷ USD là 1.079,627 tỷ USD , và có chiều hướng giảm nhẹ
vào năm 2012.
Tổng kim ngạch thương mại giai đoạn này là 7.139,121 tỷ USD, gấp 3,08 lần giai
đoạn 1990-2000. Điều này phản ánh sự thành công của chính sách mở cửa thị trường, tự

biển,vv
56.6 10.2
Máy tính 14.7 8.5 Sản phẩm dầu mỏ 51.6 9.3
Xe hơi 13.2 7.7 Bán dẫn 50.1 9.0
Sản phẩm dầu mỏ 9.1 5.3 Xe hơi 45.3 8.2
Tàu thủy 8.4 4.9 Cảm ứng và màn hình phẳng 31.0 5.6
Thiết bị không dây 7.9 4.6 Thiết bị không dây 27.3 4.9
Se-rin tổng hợp 5.0 2.9 Bộ phận của ô tô 23.1 4.2
Sản phẩm thép tấm
cán
4.8 2.8 Sản phẩm thép tấm cán 21.0 3.8
Hàng may mặc 4.6 2.7 Sê-rin tổng hợp 19.6 3.5
Thiết bị vô tuyến 3.7 2.1 Máy tính 9.2 1.6
Tổng top 10
Tổng Xuất khẩu
97.4
172.3
56.5
100
Tổng top 20
Tổng xuất khẩu
334.8
555.2
60.3
100
Nguồn: Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc(KITA)
Trong Bảng 2.1 và 2.2 thể hiện top 10 sản phẩm xuát khẩu và nhập khẩu nhiều nhất của
Hàn Quốc.
Về xuất khẩu, có thể thấy, trong năm 2001, các mặt hàng như bán dẫn, máy tính, điện
thoại di động chiếm khoảng 31,3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, đến năm 2011,

252,3
524,4
48.1
100
Nguồn: Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc(KITA)
• Về nhập khẩu, từ năm 2001 đến năm 2011, các nhóm hàng nhập khẩu của Hàn
Quốc không có sự thay đổi lớn. Các mặt hàng như dầu thô, chất bán dẫn, khí đốt
luôn có tỷ trọng cao trong cơ cấu hàng nhập khẩu của Hàn Quốc, chiếm khoảng
trên 30% tổng kim ngạch nhập khẩu của Hàn Quốc.
• Cơ cấu thị trường đối tác xuất nhập khẩu của Hàn Quốc
• Tổng quan thị trường xuất nhập khẩu của Hàn Quốc
Biểu 3.1. Số lượng đối tác thương mại của Hàn Quốc (2000-2011)
Nguồn: Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc(KITA)
Bảng 3.1: Top 10 đối tác thương mại của Hàn Quốc năm 2001
Xuất khẩu Nhập khẩu
STT Tên nước
Kim
ngạch
(Triệu
USD)
Tỷ lệ
(%)
STT Tên nước
Kim ngạch
(Triệu USD )
Tỷ lệ
(%)
1 Hoa Kỳ 37.610 21.8 1 Nhật Bản 31.828 19.8
2 Nhật Bản 20.644 11.9 2 Hoa Kỳ 29.242 18.2
3 Trung Quốc 18.454 10.7 3 Trung Quốc 12.799 8.0

(%)
1 Trung Quốc 134.185 24,2 1 Trung Quốc 86.432 16,5
2 Hoa Kỳ 56.208 10,1 2 Nhật Bản 68.320 13,0
3 Nhật Bản 39.680 7,1 3 Hoa Kỳ 44.569 8,5
4 Hồng Kông 30.968 5,6 4 A rập Sau-đi 36.973 7,1
5 Xing-ga-po 20.839 3,8 5 Qatar 56.316 5,0
6 Đài Loan 18.206 3,3 6 Ô-xtrây-lia 20.749 4,0
7 In-đô-nê-xi-a 13.564 2,4 7 In-đô-nê-xi-a 17.216 3,3
8 Việt Nam 13.465 2,4 8 Đức 16.963 3,2
9 Ấn Độ 12.654 2,3 9 Kuwait 16.960 3,2
10 Bra-xin 11.821 2,1 10
Các Tiểu
Vương Quốc Ả
Rập Thống
Nhất
14.759 2,8
Nguồn: Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc(KITA)
Thành phần và tầm quan trọng tương đối của các đối tác thương mại lớn của Hàn
Quốc cũng đã thay đổi theo thời gian. Ban đầu trong khi Hàn Quốc tập trung vào Hoa
Kỳ, Nhật Bản và châu Âu là những điểm đến quan trọng cho xuất khẩu mở rộng, kim
ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc bắt đầu ngày càng tăng trong những năm 1990, Trung
Quốc cuối cùng đã vượt qua Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Hàn Quốc trong
năm 2003. Với việc mở rộng Liên minh châu Âu (EU) trong những năm gần đây, các đối
tác thương mại lớn của Hàn Quốc được xếp hạng theo thứ tự sau: Trung Quốc, Mỹ, và
Nhật Bản. Ngoài ra, thương mại với các nền kinh tế mới nổi cũng đã tăng lên đáng kể.
Từ năm 2000, Hàn Quốc có quan hệ thương mại với hơn 220 quốc gia.
Từ năm 2000 trở lại đây, Hàn Quốc đã kí kết các Hiệp định tự do thương mại với
Chi-lê, Xing-ga-po, Ấn Độ. Quan hệ thương mại của Hàn Quốc với các quốc gia này
luôn tốt đẹp. Năm 2000, Chi-lê là đối tác đứng thứ 34 về xuất khẩu, 30 về nhập khẩu của
Hàn Quốc, Ấn Độ đứng thứ 25 cả về xuất khẩu và nhập khẩu; thì đến năm 2011, quan hệ

19.9 tỷ USD. Đến năm 20011, con số này đã tăng gấp hơn mười một lần lên trên 220 tỷ
USD và Hàn Quốc thặng dư thương mại của gần 47,8 tỷ USD. Hàn Quốc luôn đạt trạng
thái thặng dư trong quan hệ thương mại với Trung Quốc. Tăng trưởng khối lượng thương
mại với tốc độ như vậy rất khó để tìm thấy bất cứ nơi nào khác trên thế giới, và mối quan
hệ song phương Hàn-Trung đã được tán dương như là một thành tựu đáng kể của cả hai
nước. Địa lý gần nhau của hai nước cũng như "sự bổ sung đáng kể về khả năng kinh tế
của hai nước là hai lý do cho thương mại phát triển nhanh chóng như vậy giữa Hàn Quốc
và Trung Quốc.
Bảng 3.1. Các mặt hàng chủ đạo trong quan hệ thương mại Trung-Hàn và tỷ lệ đóng
góp trong kim ngạch ( tỷ USD - %)
Xuất khẩu Nhập khẩu
linh kiện điện tử 31.2 linh kiện điện tử 16.3
hóa dầu 16.1 đồ điện công nghiệp 14.3
nhiên liệu khoáng sản 8.2 sản phẩm sắt hoặc thép 14.1
đồ điện công nghiệp 7.7 hàng dệt may 5.1
vận tải 6.4 hóa học chính xác 5.0
sản phẩm của sắt hoặc thép 3.9 thiết bị điện tử hạng nặng 4.5
máy móc nói chung 3.9 vận tải 3.2
máy móc chuyên dụng 3.4 hàng nông sản 3.0
sản phẩm kim loại màu 2.5 đồ điện dân dụng 2.7
hóa học chính xác 2.4 máy móc nói chung 2.3
tổng xuất khẩu 100 tổng nhập khẩu 100
Nguồn: Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc(KITA)
Trong năm 2011, hàng xuất khẩu chính của Hàn Quốc sang Trung Quốc bao gồm
linh kiện điện tử, hóa dầu, nhiên liệu khoáng sản, đồ điện công nghiệp, máy móc chuyên
dụng và khoa học, hóa học chính xác. Trong cùng năm đó, Hàn Quốc nhập khẩu chủ yếu
từ Trung Quốc bao gồm các sản phẩm như sắt thép, máy móc điện tử, nông sản và dệt
may. Thành phần thương mại nội ngành là khá tích cực giữa hai quốc gia, hơn nữa, mô
hình tổng thể của thương mại chỉ ra rằng Hàn Quốc hiện đang xuất khẩu nhiều nhiên liệu,
các sản phẩm sử dụng nhiều vốn và nguyên liệu hơn đến Trung Quốc, trong khi nhập

chất sang Hàn Quốc.
Phần II - Thực trạng quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam – Hàn Quốc giai đoạn
2001 -2012
• Khái quát chung quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam - Hàn
• Tổng quan về quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc
Lịch sử giao lưu Việt Nam – Hàn Quốc bắt đầu từ thế kỉ XIII nhưng sau chiến tranh
thế giới lần thứ II, trong vòng xoáy của cuộc chiến tranh lạnh, quan hệ giữa hai nước đã
bị gián đoạn trong thời gian dài. Thời kỳ trước 1975, Hàn Quốc với vị trí là nước đồng
minh của Mỹ đã có quan hệ ngoại giao, kinh tế, quân sự với chính quyền Sài Gòn, đưa
quân sang Việt Nam tham gia giúp đỡ chính quyền Sài Gòn, gây nhiều tội ác với nhân
dân Việt Nam. Sau năm 1975, với sự bao vây cấm vận của Mỹ, quan hệ giữa Việt Nam và
Hàn Quốc ngày càng khó khăn. Vào đầu năm 1980, khi Mỹ nới lỏng chính sách cấm vận
vì lý do thiếu lương thực phục vụ cho quân đội trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mối quan
hệ này đã dần được cải thiện đáng kể, hàng hoá của Việt Nam vào Hàn Quốc thời bấy giờ
là gạo và lúa. Cho đến năm 1990, khi Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa thì mối
quan hệ này đã dần tốt hơn.
Ngày 22/12/1992, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã cùng Bộ
trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Lee Sang Ok kí tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại
giao cấp đại sứ mở đầu một chương mới cho quan hệ thương Việt Nam – Hàn Quốc. Đây
là một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển toàn diện về các mặt trong quan hệ Việt
Nam – Hàn Quốc.
Về ngoại giao, hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn cấp cao và các cấp, các ngành
đã giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường quan hệ hợp tác song phương và
tăng cường sự phối hợp, ủng hộ lẫn nhau trên trường quốc tế.
Về kinh tế, Hàn Quốc đã trở thành đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam. Trong
15 năm qua (1992-2007), Hàn Quốc luôn đứng trong danh sách nhóm 5 nước có quan hệ
kinh tế quy mô lớn nhất với Việt Nam. Trong đó, hai bên hợp tác về nhiều mặt bao gồm
hợp tác phát triển, đầu tư, thương mại, lao động, du lịch…
Về hợp tác văn hóa - giáo dục, hai nước đã ký Hiệp định Văn hoá tháng 8/1994
cùng nhiều thoả thuận hợp tác giao lưu thanh niên và giáo dục khác, thường xuyên có các

Các loại rau là 10-15%
Nguyên liệu công nghiệp 0-5%
Hiệp định AKFTA được ký kết vào năm 2007 giữa Việt Nam cùng các nước ASEAN
khác với Hàn Quốc. Hiệp định này bao gồm 3 cấu phần chính là Hiệp định thương mại
hàng hóa - TIG (ký tháng 8/2006, có hiệu lực từ tháng 6/2007), Hiệp định thương mại
dịch vụ - TIS (ký tháng 11/2007, có hiệu lực từ tháng 5/2009), và Hiệp định đầu tư - IA
(ký tháng 6/2009, có hiệu lực từ tháng 9/2009). Hiệp định AKFTA là một bước đệm đưa
quan hệ thương mại ASEAN - Hàn Quốc lên một tầm cao mới toàn diện hơn. Tuy nhiên,
do nền tảng đa dạng, cơ cấu kinh tế và mức độ phát triển khác nhau của các nước thành
viên ASEAN nên đòi hỏi một số lĩnh vực cần được tự do hóa hơn hoặc cần mở ra khả
năng tiếp cận thị trường tốt hơn nữa. Bên cạnh đó, AKFTA cũng có những hạn chế trong
việc cân bằng thương mại song phương, do bị ảnh hưởng phần lớn bởi cấu trúc kinh tế
khác nhau và việc gia tăng đầu tư của Hàn Quốc sang Việt Nam.
Trước một số hạn chế trong FTA đa phương, bắt đầu từ năm 2012, Việt Nam và
Hàn Quốc đã khởi động quá trình đàm phán FTA song phương Việt Nam - Hàn Quốc.
Phiên đàm phán thứ nhất về FTA giữa hai nước đã được tổ chức vào tháng 9/2012 tại Hàn
Quốc. Khi được ký kết, hiệp định này sẽ tăng cường hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh
vực công nghiệp, năng lượng, cơ sở hạ tầng, nông nghiệp và thủy sản, đồng thời mở rộng
hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược giữa hai nước.
Tóm lại, trong hơn 20 năm qua, quan hệ Việt Nam –Hàn Quốc đã phát triển mạnh
cả về chiều rộng và chiều sâu không chỉ trong. Điều này được cụ thể hóa qua từng lĩnh
vực mà cả hai nước đã hợp tác, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại. Những phân tích
quan hệ thương mại của hai nước trong giai đoạn 2001-2012 dưới đây sẽ cho chúng ta cái
nhìn cụ thể hơn về quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc nói riêng cũng như quan hệ
Việt Nam - Hàn Quốc nói chung
• Thực trạng quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam – Hàn Quốc
Năm
Kim ngạch XNK
Việt Nam – Hàn
Quốc (triệu USD)

trọng là xấp xỉ 2%. Tuy nhiên chúng ta sẽ thấy điều ngược lại trong bảng số liệu tỷ trọng
kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam – Hàn Quốc trong tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2012 là năm 2001 có tỷ trọng là 6,78% đến năm
2012 có tỷ trọng là xấp xỉ gần 10%, điều này cho thấy sự phụ thuộc tương đối lớn của
Việt Nam trong quan hệ thương mại với Hàn Quốc
Bảng tỷ trọng kim ngạch XNK Việt Nam – Hàn Quốc trong kim ngạch XNK của
Việt Nam giai đoạn 2001-2011.
Nguồn: Niên giám trị giá xuất nhập khẩu - Tổng cục thống kêViệt Nam
Năm Kim ngạch XNK Việt
Nam – Hàn Quốc
(triệu USD)
Kim ngạch XNK Việt
Nam (triệu USD)
Tỷ trọng ( %)
2001 2.118 31.200 6,78
2002 2.710 36.400 7,44
2003 3.072 52.624 5,84
2004 3.929 58.454 6,72
2005 4.126 69.208 5,96
2006 4.852 84.717 5,72
2007 7.152 111.326 6,42


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status