Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên báo in Việt Nam (Khảo sát các Báo Hà Nội mới, Nông nghiệp Việt Nam và Nông thôn Ngày nay, 2008 - 2009 - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THÁI HÀ

VẤN ĐỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN,
NÔNG THÔN TRÊN BÁO IN VIỆT NAM

(Khảo sát các Báo Hànộimới, Nông nghiệp Việt Nam
và Nông thôn Ngày nay, 2008-2009) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH BÁO CHÍ Hà Nội, năm 2010

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THÁI HÀ

VẤN ĐỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN,
NÔNG THÔN TRÊN BÁO IN VIỆT NAM

(Khảo sát các Báo Hànộimới, Nông nghiệp Việt Nam

NÔNG THÔN” CỦA ĐẢNG VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO
CHÍ ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH NÀY.

1.1.Khái quát nội dung về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
1.1.1.Nông nghiệp Việt nam và vị trí của nông nghiệp trong phát triển nền
kinh tế Việt Nam 7
1.1.2.Nông dân- Lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam 8
1.1.3.Nông thôn Việt Nam trong tiến trình CNH, HĐH đất nước
10
1.2.Những chính sách lớn đối với “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
1.2.1.Chuyển đổi cơ cấu, phát triển kinh tế nông nghiệp trong sự nghiệp đổi
mới đất nước 12 1.2.2.Xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng, nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho nông dân 14
1.2.3.Xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH 16
1.2.4.Tư tưởng, nội dung NQTW 7(khóa X) của Đảng về “Nông nghiệp,
Nông dân, nông thôn” 18
1.3.Vai trò của báo chí đối với chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước, trong đó có chính sách “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”

1.3.1.Báo chí truyền thông-lực lượng xung kích trên mặt trận thông tin,
tư tưởng- văn hóa của Đảng
21
1.3.2.Báo chí tuyên truyền đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống 25
1.3.3. Những yêu cầu mới đối với hoạt động báo chí truyền thông 28
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2:NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CHUYỂN
TẢI THÔNG TIN CỦA BÁO CHÍ VỀ CHÍNH SÁCH


3.1.Một số vấn đề mới đặt ra
3.1.1.Biến đổi đời sống kinh tế-xã hội trước sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước. 76
3.1.2.Tác động của quá trình gia nhập WTO 78
3.1.3.Tác động của quá trình đô thị hóa, phân tầng xã hội, dân số,
môi trường tới chính sách “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” 79
3.1.4.Báo chí trong cuộc cạnh tranh thông tin, trong đó có thông tin
về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” 90
3.2.Các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của báo in
về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” thời gian tới.
3.2.1.Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng 92 3.2.2. Đổi mới quản lý Nhà nước về báo chí 94
3.2.3. Nhận thức của lãnh đạo các tòa soạn báo in 96
3.2.4. Đổi mới nội dung, hình thức thông tin 98
3.2.5. Nâng cao chất lượng đội ngũ phóng viên, biên tập viên
100
3.2.6.Tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ quan báo chí
101
3.2.7. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động báo chí
102
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 113

hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông
nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân. Nghị quyết
TƯ 7 đã đề ra những nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản đối với vấn đề Nông
nghiệp, Nông dân và Nông thôn trong giai đoạn cách mạng mới.
Báo chí là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của tổ chức chính trị-xã
hội và là diễn đàn của nhân dân dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Báo chí
có trách nhiệm to lớn trong việc hình thành và hướng dẫn dư luận xã hội tích
cực, lành mạnh, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính
trị và tinh thần trong nhân dân. Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu
rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp 3
luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền,
cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới.
Tuyên truyền về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn trên báo chí luôn là
vấn đề có ý nghĩa thời sự thiết thực với đông đảo công chúng báo chí. Vì vậy
chúng tôi chọn chuyên đề nghiên cứu này nhằm góp phần làm rõ những kinh
nghiệm lý luận và thực tiễn trong công tác tuyên truyền của báo Hànộimới,
báo Nông nghiệp Việt nam và báo Nông thôn Ngày nay về những nội dung
liên quan đến vấn đề cơ bản của Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn trên cơ sở
NQTƯ7 (Khóa X), qua đó hy vọng kiến giải những biện pháp nâng cao chất
lượng công tác truyên truyền đưa nghị quyết Đảng vào cuộc sống nói chung và
nội dung về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” nói riêng trên báo chí phù
hợp với tình hình mới.
2.Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, các đề tài nghiên cứu
khoa học liên quan đến hoặc Nông nghiệp, hoặc Nông thôn, hoặc vấn đề Nông
dân. Nhưng các công trình trên còn đơn lẻ, tách biệt. Vì vậy, cho đến nay, việc
tuyên truyền trên báo chí về các nội dung liên quan đến vấn đề “Nông nghiệp,

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những tác phẩm và thủ pháp báo chí
(báo giấy) trên báo Hànộimới hàng ngày, báo Nông nghiệp Việt Nam và báo
Nông thôn Ngày nay 2 năm 2008-2009 5 5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của
Đảng và Nhà nước ta về báo chí và về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”;
kế thừa kết quả nghiên cứu khoa học liên quan đã được công bố.
Luận văn sử dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, phương pháp nghiên cứu lịch sử-tài liệu thứ cấp, phương pháp phân
tích văn bản truyền thông, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp điều
tra theo phiếu điều tra, phương pháp phỏng vấn sâu, phỏng vấn chuyên gia
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
a. Ý nghĩa khoa học
Luận văn cung cấp một số lý luận về nội dung “Nông nghiệp, nông dân,
nông thôn” theo tinh thần NQTƯ 7 (khóa X); bổ sung và làm rõ hơn hệ thống
lý luận về vai trò, chức năng của báo chí trong điều kiện mới và nhiệm vụ
tuyên truyền đưa nghị quyết Đảng vào cuộc sống trên báo in. Chỉ ra cách thức
tổ chức tác phẩm, biện pháp tuyên truyền trên báo in đạt hiệu quả.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ nội dung nhận thức về Nông nghiệp, Nông
dân, Nông thôn Việt Nam và vị trí của “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước thông qua hoạt động báo chí
truyền thông. Qua đó khẳng định những đóng góp của báo in trong việc tuyên

CHÍNH SÁCH “NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG
THÔN” CỦA ĐẢNG VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI
VỚI CHÍNH SÁCH NÀY.

1.1.Khái quát nội dung về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
1.1.1.Nông nghiệp Việt nam và vị trí của nông nghiệp trong phát triển nền
kinh tế Việt nam.
Theo lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen thì sản xuất nông nghiệp là cơ sở
của mọi xã hội và là tiền đề của lịch sử. Năng suất lao động nông nghiệp là
“cái cơ sở tự nhiên” không chỉ trong bản thân nghành nông nghiệp mà còn là
cơ sở tự nhiện để tạo ra lao động thặng dư trong tất cả các nghành lao động
khác. Cũng có nghĩa là những yếu tố có ý nghĩa như điểm xuất phát của sự
phát triển của lịch sử “trước hết có trong lao động nông nghiệp” [44, ph.II, tr.
490]
Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong lý luận
về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước kinh
tế còn kém phát triển, Lê nin- vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới
cũng đặc biệt chú trọng tới nông nghiệp. Trong ba nội dung cơ bản của chiến
lược xây dựng chủ nghĩa xã hội (Chính sách kinh tế mới (NEP); Công nghiệp
hóa và XHCN; chế độ hợp tác xã), Lênin cho rằng vấn đề trọng tâm là vấn đề
nông nghiệp, bao hàm cả nông dân và nông thôn trong cách mạng XHCN,
muốn xây dựng công nghiệp phải bắt đầu từ nông nghiệp. 8
Trong sách Việt Nam văn hóa sử cương, Giáo sư Đào Duy Anh khẳng
định “ở nước ta nghề nông là bản nghiệp của nhân dân” và dân tộc Việt đã
“chuyên nghề nông từ thời thượng cổ”. [1, tr. 53] Qua các phân kỳ lịch sử, nhà
nước đều có chính sách khuyến khích nông nghiệp (trọng nông), đặc biệt là
các chính sách liên quan đến khẩn hoang, đê điều, thủy lợi, chăn nuôi, thủy

chắc với giai cấp nông dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nông dân luôn là lực
lượng to lớn cả trong hai giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng
xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn giành độc lập dân tộc, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng cách mạng Việt Nam là khối đại đoàn kết
toàn dân tộc mà đa số là giai cấp nông dân. Khẩu hiệu “Người cày có ruộng”
có sức động viên to lớn đối với nông dân tham gia cách mạng, đồng thời cũng
cho thấy vị trí của giai cấp nông dân trong liên minh giai cấp cũng như mục
tiêu hướng tới của cách mạng. Còn sau khi giành được chính quyền thì liên
minh- công nông- trí thức là nền tảng của chính quyền- công cụ sắc bén trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ mới. Trong xây dựng và bảo vệ đất
nước, lợi ích kinh tế của nông dân và nhân dân nói chung được đặt lên hàng
đầu. Điều này thể hiện rõ quan điểm về cả mặt chính trị cũng như mặt kinh tế
xã hội của nông dân trong cách mạng Việt Nam. Dưới góc độ chính trị, vấn đề
nông dân là xây dựng và củng cố liên minh công nông- cơ sở của chính sách
tập hợp lực lượng cách mạng, còn đáp ứng lợi ích kinh tế thiết thân của nông
dân chính là giải quyết vấn đề kinh tế xã hội của lực lượng cách mạng nhằm
tạo nên sức mạnh động lực của cách mạng.
Chủ tịch Hồ chí Minh khẳng định “Dân tộc ta là dân tộc nông dân”.
Người đã từng nói: “Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu 10
ta, kính ta”. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những
người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người
được sánh với Trời, Đất theo triết học phương Đông như Bác Hồ khẳng định:
"Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân".
Theo số liệu Tổng điều tra Dân số và nhà ở (1.4.2009) thì dân số nước ta
hiện có hơn 86 triệu người, trong đó 70,4% sống ở khu vực nông thôn. Cũng
đồng nghĩa với tỷ lệ hơn 60% dân số là nông dân và người có liên quan đến
nông nghiệp, nông thôn. Việc đưa lực lượng to lớn này cùng với những giá trị

mới, văn minh, hiện đại. Vùng nông thôn có vai trò là nơi cung cấp lương
thực, thực phẩm cho đời sống của người dân; cung cấp nguyên liệu cho công
nghiệp và xuất khẩu; cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu; cung cấp lao động cho
công nghiệp và thành thị. Là thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm
của công nghiệp và dịch vụ. Nông thôn phát triển sẽ tạo điều kiện ổn định kinh
tế - chính trị - xã hội chung của đất nước.
Như trên đã nêu, gần 70% cư dân Việt Nam đang sinh sống ở khu vực
nông thôn- cộng đồng làng xã. Muốn phát triển nông nghiệp cần chú ý tới việc
xây dựng nông thôn thành khu vực năng động về kinh tế, ổn định về chính trị
xã hội và có đời sống văn hóa phong phú mới có thể gắn bó được các thế hệ
nông dân. Giải quyết tốt các vấn đề trọng yếu của đời sống xã hội nông thôn
như nhà ở, y tế, giáo dục, nước sạch, giao thông vận tải, việc làm là điều kiện
cần thiết để có khu vực nông thôn vững mạnh, phát triển, ngăn chặn được tình
trạng di cư, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị với nông thôn.
Qua hơn hai thập kỷ đổi mới, bộ mặt nông thôn đã có thay đổi lớn, kinh tế
nông thôn đã có bước phát triển mới với sự hình thành kinh tế trang trại.Việc
đưa quy chế dân chủ ở cơ sở bào đời sống nông thôn đã tạo ra bước ngoặt về 12
chính trị ở khu vực nông thôn, tạo ra xu thế dân chủ, cởi mở, nâng cao ý thức
tự giác, tích cực, chủ động của mọi người trong đời sống xã hội nông thôn.
Tuy vậy, trong xu thế phát triển mới, vấn đề nông thôn ở nước ta đã và
đang phải đối diện với nhiều thách thức mới. Trước hết, dù đã có những bước
phát triển đáng kể, nhưng nông thôn Việt Nam về cơ bản vẫn trong trạng thái
kinh tế tự cấp , tự túc; tỷ suất hàng hóa trong kinh tế nông thôn chiếm tỷ lệ rất
nhỏ. Mức sống vật chất của đa số nông dân và người dân khu vực nông thôn
còn thấp và chưa thực sự thoát nghèo bền vững. Tình trạng phân hóa giàu
nghèo diễn ra rất rõ rệt trong cộng đồng làng xã; khoảng cách giữa nông thôn
với đô thị ngày càng bị nới rộng hơn. Kinh tế nông thôn gặp trở ngại lớn là

xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa.
Xuyên suốt trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội , Đảng ta xác định phải đặc biệt coi trọng công nghiệp
hóa nông nghiệp, nông thôn. Các chính sách đều tập trung thúc đẩy cải biến
toàn diện nông nghiệp, nông thôn, bao gồm các nội dung:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn mà
trước tiên là chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, mở rộng
các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn
- Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật và các cơ sở kết
cấu hạ tầng xã hội cho nông nghiệp, nông thôn về điện , đường, trường , trạm
và thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ gới hóa, ứng dụng những thành tựu
tiến bộ của khoa học công nghệ
- Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản suất trong nông nghiệp, nông thôn;
xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 14
Bước vào thế kỷ XXI, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, BCH TƯ Đảng
khóa IX đã chỉ rõ: “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn,
gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa,
thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, trước hết là công
nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản
xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả, sức cạnh
tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường”.
Có thể thấy rõ mục tiêu tổng quát và lâu dài của quá trình đẩy nhanh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là xây dựng một nền nông
nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững. Thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế từng vùng, gắn với thị trường để sản

làm giàu chính đáng. Điều kiện để nông dân phát triển kinh tế là chủ trương
khắc phục tình trạng manh mún về sử sụng dất canh tác của các hộ nông dân,
khuyến khích việc dồn điền, đổi thửa, cho thuê, góp vốn cổ phần bằng quyền
sử dụng đất.
Việc làm cho lao động nông thôn là vấn đề được quan tâm trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển ngành nghề, thu hút lao
động nông nghiệp dôi dư vào các lĩnh vực kinh tế khác để đảm bảo người nông
dân có thu nhập. Nông dân được chú trọng dạy nghề, tạo điều kiện về việc
làm, nhất là vùng có đất nông nghiệp thu hồi cho phát triển công nghiệp, dịch
vụ, giao thong và các khu đô thị mới. Theo đó, cơ cấu lao động nông thôn
được chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ở khu vực làm nông nghiệp, tăng
tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ. Tạo điều kiện để lao động nông thôn
có việc làm trong và ngoài khu vực nông thôn, đặc biệt chú trọng tới các điều 16
kiện cần thiết để xuất khẩu lao động ra nước ngoài theo các chương trình hợp
tác. Khuyến khích các doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư phát triển công
nghiệp và dịc vụ ở nông thôn, coi đây là hướng chính để tạo nhiều việc làm
mới ở nông thôn, góp phần làm tăng nhanh thu nhập cho nông dân.
Điều quan trọng là nhà nước chủ trương đầu tư mạnh cho các chương
trình xóa đói, giảm nghèo, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải
đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm thu hẹp khoảng cách về trình độ
phát triển và đời sống của các nhóm dân cư.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra mục
tiêu đến năm 2010: “ Giảm tỷ lệ lao động nông, lâm, như nghiệp xuống dưới
50% tổng số lao động xã hội và nâng tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông
thôn lên khoảng 85%”.
(Trong 5 năm từ 2002 đến 2006 cả nước đã tạo được việc làm cho 7,5
triệu lao động; thời gian sử dụng lao động nông thôn đạt 80,6%. Cuối năm

công nghiệp, trường học, trạm y tế, bưu điện, nhà văn hóa, khu thể thao,
chợ Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hóa,
nâng cao trình độ dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan, bảo
đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội. Đây cũng là mục tiêu phù hợp với chủ
trương hạn chế làn sóng di cư ra thành thị của lao động nông thôn “Ly nông,
không ly hương”.
Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ năm (khóa IX) đã
chỉ rõ: “CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành
công nghiệp và dịch vụ ; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, quy hoạch
phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái ; xây dựng nông thôn dân 18
chủ, công bằng,văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa
của nhân dân ở nông thôn” [49, tr. 93,94].
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định hiện
tại cũng như trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn
có tầm chiến lược đặc biệt và yêu cầu tiếp tục “Tạo chuyển biến mạnh mẽ
trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân”.
Gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giả quyết tốt hơn mối
quan hệ giữa nông thôn và thành thị, coi đây là nhiệm vụ góp phần giữ vững
ốn định chính trị xã hội, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Theo đó, cần xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển nông nghiệp và
nông thôn. Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm xây dựng
làng xã có cuộc sống ấm no, văn minh, sạc đẹp, gắn kiến với xây dựng các khu
dân cư đô thị hóa. Phát huy dân chủ, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây
dựng văn hóa, đạo đức, và lối sống; kiềm chế tốc độ tăng dân số, nâng cao thể
chất và sức khỏe nhân dân; bảo vệ và cải thiện môi trường.
1.2.4.Tư tưởng, nội dung NQTƯ 7 (khóa X) của Đảng về “Nông nghiệp,

thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản
xuất hàng hoá. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực
thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh
thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng
bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và
thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.
Đảng ta đã thẳng thắn đánh giá nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
đó chính là do nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông
thôn còn bất cập so với thực tiễn; cơ chế, chính sách phát triển các lĩnh vực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status