Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ và vận dụng vào điều kiện hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG THỊ HÒA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ
VÀ VẬN DỤNG VÀO ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS MẠCH QUANG THẮNG
HÀ NỘI - 2009 3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 3
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ 11
1.1. Tầm quan trọng của công tác đào tạo cán bộ 11
1.1.1. Phạm vi "cán bộ" được trình bày trong luận văn 11
1.1.2. Vị trí, vai trò của công tác đào tạo cán bộ 12
1.2. Những quan điểm đào tạo cán bộ 15
1.2.1. Kết hợp đức - tài 16
1.2.2. Đào tạo - tự đào tạo (tự học) 27
1.2.3. Lý luận phải gắn với thực tiễn và phương pháp đào tạo 34
1.2.4. Đào tạo toàn diện - chuyên sâu 43
1.2.5 Tổ chức, quản lý công tác đào tạo cán bộ 48
Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 57
VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
2.1. Thực trang công tác đào tạo cán bộ ở nước ta hiện nay 57

tranh giải phóng dân tộc trước kia cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Vậy công tác đào tạo cán bộ
của nước ta đi theo đường hướng nào? Đó là đi theo con đuờng cách mạng vô
sản, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ giúp ta nhìn nhận thấy rõ hơn tầm nhìn
vĩ đại của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam và công lao to
lớn của Người để lại cho đời sau. Từ đó, chúng ta có thể vận dụng tư tưởng
đó của Người một cách sáng tạo vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thị trường phát
triển, một số cán bộ, đảng viên đã tha hoá, đánh mất phẩm chất đạo đức cách
mạng, lợi dụng chức quyền vi phạm pháp luật. Nó càng trở nên đáng quan
tâm hơn khi những người vi phạm pháp luật, làm giảm lòng tin của nhân dân
đối với Đảng, với Nhà nước lại là một số cán bộ, đảng viên giữ những cương
vị cao trong Đảng và Nhà nước Vì vậy, tôi đã chọn đề tài "Tư tưởng Hồ Chí

5
Minh về đào tạo cán bộ và vận dụng vào điều kiện hiện nay" cho bản luận văn
tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, có nhiều công trình đã đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh
về đào tạo cán bộ ở nhiều cấp độ khác nhau.
Trước hết phải kể đến tác phẩm Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán
bộ của tác giả Đức Vượng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995).
Tác phẩm đã khái quát quá trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Từ đó, tác giả trình bày quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo tạo cán bộ
theo một quy trình nhất định, mà quy trình đạo tạo ấy, theo tác giả sẽ đi lần
lượt: xuất phát từ phương hướng và phương pháp đào tạo cán bộ -> tìm
nguồn nhân tài, nguồn cán bộ để đào tạo -> lựa chọn nhân tài, lựa chọn cán
bộ để sử dụng -> đưa họ vào hoạt động thực tế để tiếp tục đào tạo nâng cao

hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã phấn đấu làm theo lời
Bác. Mặc dù các tham luận chỉ tập trung nêu quan điểm của Hồ Chủ tịch đối
với cán bộ quân đội, song đây cũng là một tác phẩm được chúng tôi chú ý kế
thừa, khai thác phục vụ đề tài của mình.
Tác phẩm Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin ở
Việt Nam (1921 - 1930) của tác giả Phạm Xanh (Nhà xuất bản Thông tin lý
luận, 1990). Tác phẩm đã đi sâu vào phân tích hoạt động của Nguyễn Ái
Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này) suốt từ năm 1919 đến 1930, trong
đó có quan điểm và hoạt động của Người trong công tác đào tạo cán bộ cách
mạng. Tác giả nêu rõ Nguyễn Ái Quốc muốn đào tạo một đội ngũ cán bộ cho
cách mạng Việt Nam mà chủ yếu đào tạo cho họ lý luận cách mạng (tức là
phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin). Sau khi đào tạo, Người đưa họ về
nước truyền bá con đường cứu nước, xây dựng cơ sở cách mạng; một số được
đưa cử đi học ở nước ngoài nhằm chuẩn bị làm nòng cốt lực lượng cách mạng
về sau. Tuy nhiên, đây chỉ là những quan điểm sơ khai đầu tiên của Nguyễn
Ái Quốc trong đào tạo cán bộ ở thời điểm những năm 20 khi Đảng Cộng sản

7
Việt Nam chưa ra đời. Mặc dù vậy, tác phẩm là tài tiệu có giá trị tham khảo
tốt.
Tác phẩm Xây dựng Đảng, rèn luyện đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí
Minh do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành năm 2003. Cuốn sách đã
tập hợp những tác phẩm, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các
đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta cùng một số công trình nghiên cứu
khoa học đã được công bố trong những năm gần đây, trong đó có đề cập đến
công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất đạo đức và năng
lực lãnh đạo theo quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh. Tác phẩm còn đề ra
những phương hướng phấn đấu để cho mỗi đảng viên rèn luyện, tự hoàn thiện
mình để góp phần xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng vững mạnh,
đủ sức lãnh đạo nhân dân ta, đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức ,

tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ.
Tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam của tác
giả Mạch Quang Thắng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995), Tư
tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền của tác giả Trần Đình Huỳnh (Nhà
xuất bản Hà Nội, 2004) đã đi vào phân tích những quan điểm của Hồ Chí
Minh về một đảng cầm quyền - Đảng Cộng sản như là một nhân tố quyết định
dẫn đến mọi thắng lợi của cách mạng; đồng thời đi sâu phân tích nêu bật
những yêu cầu đối với một đảng cầm quyền. Đảng muốn lãnh đạo được đất
nước, lãnh đạo được cách mạng thì Đảng phải làm gì. Qua đó, mỗi cán bộ,
đảng viên còn phải học tập, rèn luyện như thế nào để đứng trong hàng ngũ
lãnh đạo của Đảng.
Tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới của
chúng ta của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh
soi sáng con đường Đảng và nhân dân ta tiến vào thế kỉ 21 của Nguyên Tổng
Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu. Đây là hai tác phẩm nhấn
mạnh tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị to lớn
đối với những thành công của cách mạng nước ta trước đây mà nó đóng vai
trò như kim chỉ nam, chỉ đạo hoạt động của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa

9
xã hội nước ta trong giai đoạn hiện nay, trong đó có đặt ra công tác đào tạo
cán bộ đáp ứng với tình hình mới như là một trong những việc làm bức
thiết
Một số tác phẩm của nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà
nước (như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Thượng
tướng Hoàng Cầm, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ) được Chủ tịch Hồ Chí
Minh trực tiếp dìu dắt, rèn luyện đã phần nào phản ánh về những kỉ niệm
không quên những ngày bên Bác, nhất là những lời căn dặn của Người đối với
một chiến sĩ cách mạng, một cán bộ đảng viên. Qua đó, chúng tôi có thể có
thêm những tư liệu quý về quan điểm của Hồ Chí Minh về cán bộ, đảng viên,

Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đào
tạo cán bộ.
Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ
trong suốt cuộc đời hoạt động của Người (cụ thể là từ năm 1911 đến năm
1969).

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: dựa vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm
của Đảng thông qua các văn kiện Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương và
Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng; các tác
phẩm chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác cán bộ, đảng viên; các công trình
khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp lịch
sử, phương pháp lôgic, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và một
số phương pháp khác.

6. Đóng góp của luận văn

11
- Trình bày có hệ thống quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đào
tạo cán bộ, thông qua đó đánh giá vị trí, ý nghĩa và vai trò của những quan
điểm, tư tưởng ấy trong tiến trình cách mạng Việt Nam.
- Nêu bật, khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ
trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay; đưa ra một số phương hướng,
biện pháp trong đào tạo cán bộ theo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm
đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn đặt ra trong công cuộc đổi mới, xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
- Góp phần bổ sung thêm một tài liệu tham khảo cho công tác nghiên
cứu, giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về
đào tạo cán bộ nói riêng.
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ

1.1. Tầm quan trọng của công tác đào tạo cán bộ
1.1.1. Phạm vi “cán bộ” được trình bày trong luận văn.
Cán bộ là khái niệm tương đối mới mẻ, xuất hiện trong lịch sử cận -
hiện đại Việt Nam, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và
chính quyền cách mạng được thành lập. Khái niệm cán bộ mà chúng ta
thường dùng được hiểu là:
Cán bộ: “1. Người làm việc trong cơ quan nhà nước: cán bộ nhà nước,:
bố mẹ đều là cán bộ. 2. Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường -
không giữ chức vụ trong các cơ quan tổ chức nhà nước: cán bộ tổ chức, cán
bộ đại đội” [4; tr.249].
Hoặc có thể hiểu Cán bộ: “1. Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên
môn trong cơ quan nhà nước. Cán bộ nhà nước. Cán bộ khoa học. Cán bộ
chính trị. 2. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức,
phân biệt với người thường, không có chức vụ. Đoàn kết giữa cán bộ và chiến

13
sĩ. Họp cán bộ và công nhân nhà máy. Làm cán bộ Đoàn thanh niên” [67;
tr.105].
Trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, Người có nhiều bài viết,
bài nói đề cập đến cán bộ, có khi rất cụ thể, chi tiết (cán bộ quân đội, cán bộ
thu thuế, cán bộ hành chính, cán bộ tỉnh, cán bộ huyện ), có khi rất khái quát.
Trong bản luận văn này, khái niệm cán bộ được hiểu theo nội hàm khái quát

nước, Quân đội như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyễn Giáp, Trường Chinh
Sở dĩ , Người đánh giá cao vai trò của công tác đào tạo cán bộ, vì theo
Người: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể.
Có vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì
thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”
[43; tr.46]. Người đã xuất phát từ việc nhận thức đúng vị trí, vai trò của đội
ngũ cán bộ. Họ đứng ở vị trí đầu tầu, đi đầu trong mọi công việc, mọi lĩnh
vực. Vì thế, “bất cứ công việc gì, nếu thiếu cán bộ, khó thực hiện được” [41;
tr.260]. Cán bộ chính là những người đứng trong Đảng, làm trong Chính phủ,
trong các ban, ngành, các tổ chức. Trí tuệ của họ chính là sản phẩm của những
đường lối, chủ trương, quyết sách, là những kinh nghiệm được mang ra thực
tiễn để chỉ đạo cách mạng Việt Nam, để hướng dẫn tập trung quần chúng đấu
tranh, lao động và sản xuất. Đồng thời, họ cũng là người đưa những chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng
nhân dân: : “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính
phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình
của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách
cho đúng”[42; tr.269]. Họ là sợi dây nối liền Đảng với nhân dân.
Vì vậy, theo Người, để đội ngũ cán bộ gánh vác được những trọng
trách lớn lao, cao cả ấy, trước hết người cán bộ phải là người ưu tú, gương
mẫu, có đạo đức cách mạng, có năng lực, có trình độ hiểu biết và làm việc,
nắm được các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thì mới có thể “nói
cho đồng bào ta rõ, làm cho đồng bào ta hiểu”.

15
Mặt khác, nhân dân ta có trình độ văn hóa thấp cũng chính là nguyên
nhân Bác coi trọng công tác đào tạo cán bộ, vì cán bộ là từ nhân dân mà ra.
Nhân dân và cán bộ đều có trình độ thấp, nếu nâng được trình độ văn hóa cho
cán bộ lên thì trình độ văn hóa của nhân dân cũng sẽ được nâng lên theo.
Trong điều kiện nước ta là một nước phong kiến nghèo nàn, lạc hậu, lại bị đế

Hơn nữa, theo Hồ Chí Minh, “tính xấu của một người thường chỉ hại
cho người đó, còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến
Đảng, có hại đến nhân dân” [42; tr.254]. “Muôn việc thành công hoặc thất
bại, đều do cán bộ tốt hặc kém. Đó là một chân lí nhất định” [42; tr.240].
Theo Bác, con người sinh ra đều mang tính thiện (“Nhân chi sơ, tính bản
thiện”). Họ lớn lên tính cách tốt hay xấu phần lớn đều là nhờ giáo dục, nhờ
rèn luyện. Quá trình rèn luyện ấy là quá trình rèn luyện phấn đấu suốt đời.
Đội ngũ cán bộ cũng vậy. Muốn trở thành người cán bộ tốt, có lợi cho nước,
có ích cho nhân dân thì người đó phải được đào tạo, phải được huấn luyện.
Tùy từng hoàn cảnh, tùy từng đối tượng mà Hồ Chí Minh thường có nhiều
cách diễn đạt khác nhau, khi thì Người nói “đào tạo”, “bồi dưỡng”, “rèn
luyện”, “huấn luyện”, “giáo dục” cán bộ. Nhưng tựu chung lại, nội hàm của
những khái niệm ấy chính là đào tạo cán bộ. Theo Hồ Chí Minh, đào tạo cán
bộ không phải là đào tạo một lần là xong. Mà công tác đào tạo cán bộ phải
tiến hành liên tục, không ngừng nghỉ, theo quy trình nhất định (lựa chọn đối
tượng -> đào tạo cán bộ -> công tác thực tế -> đào tạo nâng cao -> công tác ->
đào tạo ). Bởi theo Người: “Cán bộ có nhiều khuyết điểm, điều đó không có
gì lạ. Nếu cán bộ hoàn toàn không có khuyết điểm mới là điều lạ”. Người giải
thích rằng: “Vì đã lâu, chúng ta sinh trưởng dưới chế độ nô lệ của thực dân
và phong kiến, bị văn hóa giáo dục thực dân phong kiến thấm vào đã sâu. Nó
đã làm cho nhiều người tê mê quên cả nhân dân, quên cả Tổ quốc. Nó đã làm
cho những bệnh thối nát hủ bại (như chủ nghĩa cá nhân, tự tư tự lợi, tham ô
lãng phí ) ăn sâu vào con người như những bệnh kinh niên. Vì vậy, cán bộ ta
trong xã hội ấy mà ra nên không khỏi nhiều hay ít có thói xấu ấy” [44; tr.84].

17
Xuất phát từ những nhận thức trên, Hồ Chí Minh đi đến một khẳng
định: “đào tạo cán bộ là công việc gốc của Đảng” [42; tr.269], “Chính phủ
nên mở ở các tỉnh những lớp huấn luyện cán bộ” [41; tr.260]. Rõ ràng, công
tác đào tạo cán bộ có ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại của cách mạng,

thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc,
không có gốc thì cây héo” [42; tr.252]. Người cán bộ trước hết phải là người
có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được
nhân dân. Vì nhân dân không tin yêu, không giúp đỡ và không ủng hộ.
Đức là một phạm trù tương đối rộng. Mỗi một thời đại, mỗi một dân
tộc, một nền văn hóa hay mỗi một con người lại có những quan niệm khác
nhau về đức. Vậy chữ đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu như thế
nào?
Theo Người, đức là đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên.
Phẩm chất đạo đức ấy được Hồ Chí Minh diễn đạt theo nhiều cách hiểu khác
nhau. Có khi người đưa ra tiêu chuẩn đào tạo người cán bộ cần phải có 5 đức
tính tốt. Đó là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.
Nhân là thật thà thương yêu hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào.
Người có “nhân” vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có
hại đến Đảng, đến nhân dân, sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng
hạnh phúc sau thiên hạ, không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ uy
quyền. Những người đã không ham, không e, không sợ, thì việc gì là việc
phải họ cũng làm được.
Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc xấu, không có
việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo
toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy
việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà
phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.
Trí, vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc luôn
trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem

19
người. Biết xét việc. Vì vậy mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho
Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.
Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết

hình thức, xa xỉ, hoang phí, coi “tiết kiệm là quốc sách”. Tiết kiệm ở đây
không được hiểu là bủn xỉn, keo kiệt mà là sự chi tiêu đúng mức, hợp lý mang
lại hiệu quả cao nhất. Còn nhớ trong những tháng năm (1924 - 1927) tổ chức
đào tạo đội ngũ cán bộ cách ở Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc đã cho chúng ta thấy tấm gương sáng ngời về tinh thần tiết kiệm, sử
dụng số tiền ít ỏi của mình để phục vụ việc huấn luyện cán bộ để mang lại
hiệu quả cao nhất. Hay khi nước nhà mới giành được độc lập, “giặc đói” đã
cướp đi biết bao sinh mạng đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt
Chính phủ phát động phong trào lập “Hũ gạo tiết kiệm” để cứu đói dân nghèo.
Nhờ đó, đất nước ta dần vượt qua khó khăn. Và không phải ngẫu nhiên, Hồ
Chí Minh lại xếp chữ “kiệm” vào hàng “quốc sách”. Liêm, tức là “luôn luôn
tôn trọng giữ gìn của công và của dân”; “không xâm phạm một đồng xu, hạt
thóc của Nhà nước, của nhân dân”. Phải “trong sạch, không tham lam”.
“Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không
ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ
hủ hóa”. Đồng thời, Người cũng chỉ ra những hành vi trái với chữ Liêm như:
“cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút hoặc trộm của công làm của tư”,
“Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm).
Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc, nguy hiểm, không dám làm, là tham vật úy
lạo. Gặp giặc mà rút ra, không tham dám đánh là tham sinh úy tử”. “Liêm” là
sự phản ánh bản chất của chính quyền cách mạng, của người cán bộ cách
mạng. Nó trái ngược hoàn toàn với chế độ thực dân phong kiến thối nát.
Người cán bộ cách mạng mà đánh mất chữ “liêm” thì sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến lòng tin của quần chúng nhân dân. Để giáo dục cán bộ thực hiện nghiêm
chữ “liêm”, trong những năm kháng chiến trường kỳ gian khổ, Hồ Chí Minh
đã ký hiều sắc lệnh xét xử những cán bộ tham ô của công gây hậu quả

21
nghiêm trọng, mà vụ án Trần Dụ Châu là một ví dụ điển hình
1

Trần Dụ Châu vốn là Giám đốc Nha Quân nhu đã phạm tôi tham ô lớn tiền công quỹ để thực hiện ăn chơi
xa hoa, trác táng trong những năm gian khổ kháng chiến, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Chính phủ
và Quân đội. Tòa án binh đã tiến hành khởi tố và kết án tử hình Trần Dụ Châu tháng 11-1950.

22
mình. Người luôn đòi hỏi người cán bộ không ngừng học tập, phải có phấn
đấu để có 5 đức tính tốt và những đức tính tốt ấy cũng chính là đạo đức cách
mạng:
1. Mình đối với mình: không tự mãn, tự kiêu; nếu tự mãn, tự kiêu thì
sẽ không tiến bộ. Phải tìm tòi học hỏi cầu tiến bộ, học lấy điều hay của người
khác. Phải siêng năng tiết kiệm.
2. Đối với đồng chí mình: thân ái với nhau, nhưng không che đậy
những khuyết điểm. Cùng nhau học cái hay, sửa chữa cái dở. Không nên
tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ
không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị. Người lấy ví dụ: một anh nói
giỏi, một anh không, khi ra quần chúng anh nói kém sợ anh nói giỏi lên nói sẽ
được công chúng vỗ tay hoanh nghênh lấn át ảnh hưởng của mình đi nên
không cho anh nói giỏi lên nói.
3. Đối với công việc: trước hết, phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước
mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi
nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế phải tránh. Người chỉ rõ:
thí dụ đối với tù binh Pháp nếu mình giết đi thì thấy dân chúng hoan nghênh
nhưng thế giới sẽ cho mình dã man, bất lợi ngoại giao. Phải có kế hoạch bước
đầu làm thế nào? Bước thứ hai làm thế nào? Bước thứ ba làm thế nào? Thành
công thì thế nào? Nếu thất bại thì thế nào? Mỗi ngày lúc sáng dậy, tự hỏi
mình ngày hôm nay phải làm gì? Tối đi ngủ phải tự hỏi mình ngày hôm nay
đã làm gì? Phải cẩn thận, cản thận không phải là nhút nhát, do dự.
4. Đối với nhân dân: phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể
mình mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng
của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân.

tr.128]. Người cán bộ có đạo đức cách mạng là luôn phải đặt lợi ích chung
của toàn dân tộc, của Đảng lên trên hết. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi
ích của Đảng, của dân tộc thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích cá nhân, khi cần
đến tính mạng của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng, cho lợi ích dân
tộc. Đạo đức cách mạng ấy không phải là đạo đức phong kiến (trung với vua,

24
hiếu với cha mẹ). Rõ ràng, đạo đức cách mạng theo quan điểm Hồ Chí Minh
là đạo đức chân chính: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo
đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích
chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [42; tr.252]. Người yêu cầu
mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân
lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao
đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ
chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu, đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự
tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học
tập, rèn luyện nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Người cán bộ có đạo đức cách mạng còn phải là người biết thừa nhận
khuyết điểm của mình và biết sửa chữa khuyết điểm ấy, sửa chữa đến cùng.
Hồ Chí Minh thừa nhận: còn có một số cán bộ chưa thật thà thực hành cần
kiệm liêm chính, chưa nắm vững chính sách của Đoàn thể và Chính phủ, chưa
đi đúng đường lối quần chúng, và chưa hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.
Họ còn mắc bệnh như quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lãng phí. Những bệnh ấy
đã lộ ra trong việc thực hiện vận động tăng gia sản xuất và tiết kiệm, và công
tác thu thuế nông nghiệp và thuế công thương nghiệp. Đó là những khuyết
điểm lớn cần sửa chữa. Hồ Chí Minh nói: “Thấy được khuyết điểm là một
bước tiến bộ. Những mới chỉ là bước đầu. Thấy rồi phải lo sửa chữa. Đang
sửa chữa thì phải sửa cho hết. Đã sửa rồi thì phải giữ mình đừng để mắc phải
nữa” [43; tr.318].
Trong quá trình công tác, lãnh đạo cách mạng, những cán bộ có khuyết

chú ý quan tâm đặc biệt đến vấn đề rèn luyện đạo đức cho người cán bộ.
Người rất lo đạo đức của người cán bộ bị suy đồi, biến chất. Khi gian khổ là
người cán bộ có phẩm chất đạo đức cách mạng, khi hòa bình về thành phố,
sống trong điều kiện vật chất tốt hơn thì lại dễ đi vào con đường hưởng lạc,
kiêu ngạo, trưng diện, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng
tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân, lạt lẽo với công việc cách
mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng dần dần họ mất cả tư cách và đạo đức

Trích đoạn Một số phương hướng, giải pháp Đổi mới nội dung, chương trình, hình thức,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status