Vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế một số nước Đông Nam Á - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
LÊ THỊ ÁNH TUYẾT VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA
ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC HÀ NỘI – 2009

HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU

1
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA

5
1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA

5
1.1.1 Khái niệm về công ty xuyên quốc gia

5
1.1.2 Nguồn gốc, bản chất và đặc điểm của công ty xuyên quốc gia

7
1.1.3 Vai trò của công ty xuyên quốc gia

12
1.2.HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA MỸ,

2.2. VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA ĐỐI VỚI
40
NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á

2.2.1 Tác động tích cực

41
2.2.2 Những vấn đề đặt ra

70
CHƯƠNG 3: CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA VÀ QUÁ
TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

77
3.1. ĐẶCTRƯNG CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA VÀO
VIỆT NAM

77
3.2. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA ĐỐI VỚI
NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

79
3.2.1 Tác động tích cực

79
3.2.2 Những thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trước sự gia tăng
của các công ty xuyên quốc gia

84
3.3. ĐƯỜNG LỐI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC


1. FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
2. EU European Union
Liên minh Châu Âu
3. ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
4. R & D Research & Development
Nghiên cứu và phát triển
5. M & A Mergers and Acquisitions
Sát nhập và mua lại
6. NIEs The Newly Industrialized Economies
Các nền kinh tế công nghiệp mới Châu Á
7. UNTCAD United Nations Conference on Trade and Development
Hội nghị mậu dịch và phát triển Liên hợp quốc
8. EDB Economic Development Board
Hội đồng phát triển kinh tế
9. GDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm nội địa
10. GNP Gross National Product
Tổng sản lượng quốc gia
11. GNI Gross National Income
Tổng thu nhập quốc gia
12. IMF International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
9. ASEAN 5: Gồm, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia và Philippines
10. SGD: Đô la Singapore
11. TBCN: Tư bản chủ nghĩa
12. CNTB: Chủ nghĩa tư bản


Bảng 3.3: Các địa phương dẫn đầu về thu hút FDI
(Tính đến tháng 10/2005)

97
Bảng 3.4: Tổng vốn đầu tư theo ngành năm 1996

98
Đò thị 3.5: Tổng vốn đầu tư theo ngành tại Việt Nam
(Các dự án còn hiệu lực tính đến ngày 19/6/2009)

99
Bảng 3.6: Các dự án lớn nhất do TNCs Mỹ đầu tư tại Việt Nam

101
Đồ thị 3.7: Dòng FDI của Nhật Bản vào Việt Nam

103
Bảng 3.8: Các dự án lớn do TNCs Nhật Bản đầu tư tại Việt
Nam
104

VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 1
MỞ ĐẦU 1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Khi xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá trở thành xu hướng phát triển

biệt là Việt Nam chưa được chọn là điểm đầu tư của phần lớn các công ty xuyên
quốc gia có tiềm năng lớn về công nghệ và sẵn sàng chuyển giao công nghệ và tri
thức. Thực trạng này cùng với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn về thu hút
FDI của Trung Quốc và các nước trong khu vực đặt ra thách thức lớn cho Việt
Nam. Vì vậy, việc phân tích hoạt động của các công ty xuyên quốc gia đối với nền
kinh tế các nước Đông Nam Á từ đó soi vào Việt Nam để rút kinh nghiệm là
những đóng góp có ý nghĩa quan trọng của Luận văn.
Những luận giải trên đây chính là cơ sở khoa học và thực tiễn của luận văn
về “Vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế một số nước Đông
Nam Á”.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công ty xuyên quốc gia là một chủ thể kinh tế đặc biệt và phát triển mạnh
mẽ trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21, chính vì vậy,
mà vấn đề này đã nhận được sự quan tâm của nhiều học giả. Tuy nhiên, các công
trình nghiên cứu phần lớn tập trung vào nghiên cứu bản chất, đặc điểm và vai trò
nói chung của các công ty xuyên quốc gia. Năm 1995, tác giả Nguyễn Khắc Thân
đã công bố công trình “Các công ty xuyên quốc gia hiện đại” do nhà xuất bản
Pháp lý phát hành; công trình “Các công ty xuyên quốc gia trước ngưỡng cửa thế
kỷ XXI” được nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 1996 của hai tác giả
Lê Văn Sang và Trần Quang Tâm; năm 2002, nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất
bản công trình “Các công ty xuyên quốc gia và các nền kinh tế công nghiệp mới
Châu Á” của tác giả Hoàng Thị Bích Loan; tác giả Nguyễn Thiết Sơn, công bố 2
công trình “Các công ty xuyên quốc gia – khái niệm, đặc trưng và những biểu hiện
mới” do nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm 2003 và “Giáo trình các
công ty xuyên quốc gia” do nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh xuất bản năm 2004; tác giả Phùng Xuân Nhạ cũng công bố công trình “Các
công ty xuyên quốc gia: Lý thuyết và thực tiễn” được nhà xuất bản Đại học quốc
gia Hà Nội xuất bản năm 2007. Trong hoạt động đầu tư, các công ty xuyên quốc
gia cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả. Nhiều công trình đã được

thu hút đầu tư của các công ty xuyên quốc gia của Việt Nam, đồng thời nêu lên
những quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư của các công ty
xuyên quốc gia vào hoạt động đầu tư ở nước ta.

VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện công việc nghiên cứu, một số phương pháp nghiên cứu chính
được sử dụng trong luận văn là phương pháp nghiên cứu quốc tế, phương pháp
phân tích và tổng hợp. Phương pháp nghiên cứu lịch đại cũng được sử dụng để
phân tích đánh giá những tác động của công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế
các nước theo dòng thời gian từ khi giành được độc lập cho đến nay.

5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm
3 chương.
Chương 1: Khái quát về công ty xuyên quốc gia những nội dung được thể
hiện trong chương này là chỉ ra nguồn gốc, đặc trưng, bản chất cũng như vai trò to
lớn của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế thế giới.
Chương 2: Vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế một
số nước Đông Nam Á. Chương này đề cập đến đặc trưng của các công ty xuyên
quốc gia và những tác động tích cực cũng như tiêu cực của công ty xuyên quốc gia
đối với nền kinh tế các nước Singapore, Malaysia và Thái Lan. Những tác động
tích cực được tác giả đề cập trên 3 lĩnh vực là tạo nguồn vốn, dịch chuyển cơ cấu
nền kinh tế theo hướng hiện đại và thúc đẩy thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, tác
giả cũng bóc tách ra những vấn đề thách thức mà 3 nước này phải đối mặt đó là
mâu thuẫn lợi ích giữa hai bên và các vấn đề xã hội khác.
Chương 3: Các công ty xuyên quốc gia và quá trình phát triển kinh tế của

bản chúng ta đều nhận thấy có hai quan niệm chính về chủ thể kinh tế này.
Thứ nhất, quan niệm về công ty quốc tế (International Corporation), trong
đó bao gồm cả công ty toàn cầu, công ty xuyên quốc gia, công ty đã quốc gia,
công ty siêu quốc gia. Những người theo quan niệm này không quan tâm đến
nguồn gốc tư bản sở hữu cũng như tính quốc tịch của công ty, không chú ý đến
bản chất quan hệ sản xuất của quốc gia có công ty đó hay các chi nhánh của nó mà
họ chỉ quan tâm đến mặt hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại, đầu tư quốc
tế của các công ty. Nghĩa là họ chỉ chú ý đến mặt quốc tế hóa hoạt động kinh
doanh của các công ty mà thôi.
Thứ hai, quan niệm về công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation)
là công ty tư bản độc quyền có tư bản thuộc về chủ tư bản của một nước nhất định
nào đó. Ở đây, người ta chú ý đến tính chất sở hữu và tính quốc tịch của tư bản:
VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 6
vốn đầu tư – kinh doanh là của ai, ở đâu. Chủ tư bản ở một nước cụ thể nào đó, có
công ty mẹ đóng tại nước đó và thực hiện kinh doanh trong và ngoài nước, bằng
cách lập các công ty con ở nước ngoài là hình thức điển hình của loại hình này.
Dựa trên tiêu thức sở hữu để xác định loại hình công ty, ngoài
công ty xuyên quốc gia, họ còn đưa ra khái niệm công ty đa quốc gia
(Multinational Corporation), cũng là công ty tư bản độc quyền thực hiện thiết lập
các chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành các hoạt động kinh doanh quốc tế, nhưng
khác với công ty xuyên quốc gia ở chỗ, tư bản thuộc sở hữu của công ty mẹ là của
hai hay nhiều nước [36, tr.31]. Ví dụ, công ty mẹ Royal Dutch/Shell Group và công
ty mẹ Unilever có vốn sở hữu của các chủ tư bản Anh và Hà Lan, công ty mẹ
Fortis thuộc sở hữu của Bỉ và Hà Lan. Như vậy, sự phân định dựa trên tiêu chí sở
hữu chỉ căn cứ vào công ty mẹ chứ không căn cứ vào công ty chi nhánh. Tuy
nhiên, trong số 700 công ty lớn nhất thế giới hiện nay, chỉ có 3 công ty là thuộc sở
hữu của hai nước, số còn lại, 697 công ty thuộc sở hữu của một nước. Như vậy,

nghiệp này ngày càng trở nên gay gắt. Sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp lớn tất yếu
sẽ đưa đến kết quả là một số xí nghiệp nhỏ và vừa bị thủ tiêu hoặc bị sát nhập với
nhau trở thành những xí nghiệp lớn hơn, quá trình tập trung tư bản được đẩy mạnh
thêm một bước [42, tr.22]. Và lúc này tín dụng trở thành một trong những nhân tố
thúc đẩy quá trình tập trung tư bản.
Tích tụ và tập trung sản xuất dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là
một quy luật. Lịch sử hình thành các tổ chức độc quyền ở các nước tư bản chủ
nghĩa đã chứng minh điều đó và đã được V.I.Lênin phân tích một cách toàn diện
trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”.
Ngày nay, quá trình tích tụ và tập trung sản xuất có nhiều biểu hiện mới đã được
phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau mà điểm nổi bật là từ sau chiến tranh thể
giới thứ hai đến nay đã xuất hiện quá trình tích tụ và tập trung sản xuất cao độ,
hình thành những công ty cực lớn thống trị trong các ngành. Đồng thời xuất hiện
quá trình liên hợp hóa và sự hình thành các côngxoocxiom đa ngành. Cùng với
quá trình đó là quá trình chuyên môn hóa với tính cách là kết quả của sự phát triển
phân công lao động xã hội. Quá trình này đã diễn ra thông qua toàn bộ lịch sử phát
triển của chủ nghĩa tư bản nhưng chỉ đến giai đoạn độc quyền thì sự chuyên môn
hóa mới có vai trò mới, tạo điều kiện cho sự phát triển của những công ty độc
quyền chủ chốt. Những công ty này thâu tóm hàng ngàn, hàng vạn xí nghiệp trung
bình và nhỏ bao quanh chúng [42, tr.27].
VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 8
Tập trung tư bản có bước phát triển mới thì xuất khẩu tư bản cũng được đẩy
mạnh và trở thành cơ sở kinh tế quan trọng của sự bành trướng đế quốc chủ nghĩa.
Trong những năm 80 xuất khẩu tư bản tăng lên một cách mạnh mẽ cùng với các
hình thức chuyển giao công nghệ, cho vay vốn,… và các công ty độc quyền quốc
gia đã mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài bằng hình thức cắm nhánh.
Trên cơ sở đó hình thành hàng loạt công ty xuyên quốc gia.

phải tiến hành cải cách thể chế và phương pháp quản lý xí nghiệp. Chính điều này
dẫn tới việc hình thành, phát triển và chín muối chế độ quản lý theo cấp bậc. Chế
độ quản lý theo cấp bậc đã phân định rõ việc hoạch định chính sách và quản lý
hàng ngày trong nội bộ xí nghiệp, làm cho xí nghiệp có thể quản lý và điều tiết
nhịp nhàng quá trình phân công và trao đổi theo hướng ngày càng phức tạp làm
cho quy mô, năng lực và hiệu suất của nội bộ xí nghiệp cao hơn [34, tr.24].
Ta biết rằng, sản xuất quy mô lớn, hàng loạt bằng kỹ thuật hiện đại và
chuyên môn hóa sản xuất mà các xí nghiệp công – thương hiện đại sử dụng đòi hỏi
chúng phải dùng thị trường thế giới để tiêu thụ sản phẩm, tổ chức sản xuất các bộ
phận rời và khai thác nguyên liệu. Vì vậy, cùng với sự phát triển của xí nghiệp,
quy mô, không gian của phân công lao động chuyên môn hóa ngày càng mở rộng.
Kết quả đó đã dẫn đến việc tự động mở rộng biên giới của xí nghiệp công thương
hiện đại. Xí nghiệp đã lợi dụng ưu thế của cơ chế quản lý xí nghiệp của nó thay
thế cơ chế thị trường thế giới để tổ chức và điều tiết một phần phân công và trao
đổi quốc tế. Công ty xuyên quốc gia từ đó mà sinh ra. Công ty xuyên quốc gia và
xí nghiệp công thương hiện đại không hề có sự khác nhau về bản chất. Công ty
xuyên quốc gia chẳng qua chỉ là kết quả của sự mở rộng xí nghiệp công – thương
trong phạm vi quốc tế, do đó nó cũng giống như xí nghiệp công – thương hiện đại
và hình thức của nó cũng giống như chế độ xí nghiệp thời trước [34, tr.35 - 37].

1.1.2.2 Một số nét về bản chất và đặc trưng
Chúng ta biết rằng, quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, tư bản đã dẫn đến
những biến đổi quan trọng về lượng và chất trong các mặt quan hệ sản xuất mà
khâu quan trọng nhất là các quan hệ sở hữu. Vì vậy, khi nghiên cứu bản chất của
TNCs trên thế giới cần xuất phát từ những vấn đề này [36, tr.97].
Khi ra đời các tổ chức độc quyền, các tổ chức này sử dụng cơ chế độc
quyền tức là cơ chế vận động dựa trên giá cả độc quyền, thay cho lợi thế tự do
cạnh tranh dựa trên giá cả thị trường để thu lợi nhuận độc quyền cao. Khi các tổ
chức độc quyền vượt qua biên giới quốc gia dưới sự thúc đẩy của quá trình tích
luỹ sản xuất trên quy mô quốc tế, thì các hình thức siêu độc quyền tức là công ty

được quốc tế hoá. Đây là hình thức sở hữu mang tính khách quan tạo nên bởi quá
trình tích tụ, tập trung hoá và xã hội hoá sản xuất trên quy mô quốc tế của CNTB
dưới sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của cuộc CMKH-CN và của quy luật cạnh
tranh, quy luật kinh tế cơ bản của CNTB. Tồn tại dưới hình thức tổ hợp đa ngành
khác nhau như Concern và Conglomerate, hiện nay có tới trên 70% các xí nghiệp
VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 11
chi nhánh của chúng là các xí nghiệp liên doanh với số lượng các chủ sở hữu có
những tỷ lệ góp vốn khác nhau. Điều này phản ánh tính chất đa dạng, phức tạp và
tính chất hỗn hợp của loại hình sở hữu xuyên quốc gia.
Hai là, sở hữu hỗn hợp được tạo ra do sự thay đổi về căn bản địa vị, vai trò
của người công nhân, tri thức - những người làm việc trực tiếp trong các ngành
nghề khác nhau, nhất là những ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ cao –
là những người quyết định chất lượng của lao động và sản xuất. Loại hình này
diễn ra theo hướng tăng đáng kể số người có cổ phần trong công ty nhưng tỷ trọng
sở hữu cổ phần trong tổng số vốn kinh doanh không lớn [36, tr.102-103].
Như vậy, sự biến đổi của hình thức sở hữu trong TNCs là thay đổi rất đặc
trưng của quan hệ sản xuất TBCN trong CNTB hiện đại. Có thể thấy rằng, công ty
không còn là sở hữu của một người hay một nước mà là sở hữu hồn hợp quốc tế
nhưng có “quốc tịch” của một nước nhất định.
Bên cạnh đó, nhờ các đột phá của công nghệ thông tin, công nghệ tự động
hoá, phương thức tổ chức quản lý sản xuất vật chất của TNCs bắt đầu thay đổi
theo xu thế:
Phi hàng loạt hoá và đa dạng hoá các sản phẩm, nghĩa là việc tổ chức quản
lý sản xuất các sản phẩm được tiến hành theo loạt nhỏ hay đơn chiếc theo yêu cầu
và thị hiếu đa dạng của khách hàng.
Phi chuyên môn hoá, từ là việc sản xuất được phân bổ và được tổ chức
quản lý trên diện rộng trong các chi nhánh và đơn vị sản xuất nhỏ và vừa, với các

kiểm soát những khâu trọng yếu trong sản xuất, lưu thông, trong lĩnh vực nghiên
cứu và phát triển. Các công ty xuyên quốc gia ngày càng đóng vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới. Những vai trò đó được thể
hiện qua hoạt động thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao
công nghệ, nghiên cứu và phát triển.

1.1.3.1 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia trong thương mại quốc tế
Trong quá trình hoạt động của mình, TNCs đã thúc đẩy hoạt động thương
mại quốc tế bằng ba dòng lưu thông hàng hóa cơ bản là: hàng hóa xuất nhập khẩu
từ công ty mẹ, hàng hóa bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hóa trao đổi
giữa các công ty trong cùng một tập đoàn. TNCs chi phối hầu hết chu chuyển hàng
hóa giữa các quốc gia bởi các kênh lưu thông xuyên quốc gia của mình.
Trong những năm trở lại đây, hàng hóa bán ra từ các chi nhánh ở nước
ngoài của TNCs liên tục tăng, nếu tổng giá trị xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài
VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 13
năm 1982 là 647 tỷ USD thì đến năm 1990 là 1.366 tỷ USD, năm 2004 là 3.733 tỷ
USD, và đến năm 2005, con số này đã tăng gấp 6,5 lần năm 1982 đạt 4.214 tỷ
USD [54]. Trong đó tổng giá trị xuất khẩu của các chi nhánh TNCs tại nước ngoài
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị xuất khẩu của nhiều quốc gia.
Bên cạnh đó, kênh trao đổi nội bộ ngành và nội bộ công ty cũng chiếm một
tỷ lệ lớn trong việc chi phối thương mại quốc tế của TNCs. Sự gia tăng thương
mại nội bộ ngành và nội bộ công ty gắn liền với xu thế toàn cầu hóa sản xuất và
toàn cầu hóa hoat động của các doanh nghiệp. Buôn bán nội bộ ngành bao gồm
trao đổi thông tin qua thị trường các sản phẩm trung gian và các chi tiết tạo ra sản
phẩm cuối cùng. Đây là hệ quả của quá trình phân công lao động quốc tế theo
chiều sâu: từ sản xuất theo dây truyền khép kín sang phân công mang tính phân
tán giữa các nhà sản xuất trong cùng một ngành nhưng lại độc lập nhau. Thực tế

43,1% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu [54].
Như vậy, TNCs đang trở thành một yếu tố chủ chốt trong việc điều tiết hoạt
động thương mại quốc tế và vai trò quan trọng này của TNCs ngày càng được
khẳng định trong nền kinh tế thế giới.

1.1.3.2 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia trong đầu tư quốc tế
Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua
kênh TNCs. TNCs hiện chi phối trên 90% tổng FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài)
của toàn thế giới. Chỉ tính riêng TNCs của tam giác kinh tế (Mỹ, Tâu Âu, Nhật
Bản) đã chiếm 1/3 lượng FDI toàn cầu [76]. Giá trị của lượng vốn FDI thực sự là
thước đo quan trọng trong việc đánh giá vai trò của TNCs trong nền kinh tế thế
giới.
TNCs là chủ thể của hoạt động đầu tư thế giới, TNCs là nhân tố đặc biệt
quan trọng có ảnh hưởng mang tính quyết định tới toàn bộ hoạt động đầu tư quốc
tế. Theo ước tính của UNCTAD, hiện nay có khoảng 77.000 công ty mẹ và
900.000 chi nhánh nước ngoài hoạt động trong hầu các lĩnh vực của nền kinh tế
[52]. Năm 2005, tổng giá trị đạt được của các công ty con chiếm 4,5 ngàn tỷ USD,
tạo 62 triệu công ăn việc làm và hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ chiếm lên đến 4
ngàn tỷ [78]. Với mạng lưới quy mô rộng khắp và chiến lược kinh doanh tối đa
hoá lợi nhuận, TNCs đang ngày càng chứng minh rõ hơn vai trò điều tiết hoạt
động đầu tư của thế giới.
Giai đoạn 1982 – 1996, chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của con số FDI,
dòng vốn này tăng gấp 4 lần so với giai đoạn trước đó và đạt con số 3,2 tỷ USD
năm 1996. Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ suy thoái năm 2001, TNCs giảm hoạt
VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 15
động trên hầu hết tất cả các lĩnh vực, điều này đã làm cho dòng đầu tư bị chậm lại,
giảm 51%, từ 1.492 tỉ USD xuống còn 735 tỉ USD. Và khi bước sang giai đoạn


16
đầu tư lớn vào các ngân hàng Trung Quốc. Hồng Kông (Trung Quốc) và
Singapore vẫn giữ vị trí thứ hai và thứ ba trong khu vực về mức độ thu hút FDI
(lần lượt là 36 tỷ USD và 20 tỷ USD). Một số nước ASEAN cũng đạt mức tăng
cao về lượng FDI tiếp nhận. Các nước này ngày càng thu hút nhiều FDI “chất
lượng cao” nhằm vào các hoạt động có giá trị gia tăng và hàm lượng tri thức
cao. Hãng Intel đang mở rộng các cơ sở lắp ráp và thử nghiệm ở Trung Quốc,
Malaysia và đang có kế hoạch đầu tư 300 triệu USD để xây dựng một nhà máy
linh kiện bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam.
Nếu trước đây, hầu hết nguồn vốn FDI được thực hiện bởi TNCs của các
nước phát triển thì ngày nay số lượng TNCs của các nước đang phát triển cũng
tăng lên và có ngày càng nhiều vốn FDI đến từ các nước này. Nếu như năm
1990, các công ty của các nước đang phát triển sở hữu 148 tỷ USD vốn FDI thì
đến năm 2005 con số này lên tới 1.400 tỷ USD [77]. Tuy nhiên, nguồn vốn này
chỉ tập trung vào một số quốc gia nhất định. Đông Á và Đông Nam Á là nơi tập
trung gần 4/5 công ty trong số 100 TNCs hàng đầu của các nước đang phát
triển.Trong đó Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore và Đài Loan (Trung
Quốc) vẫn là những nguồn FDI chủ yếu từ các nước đang phát triển, mặc dù
tổng vốn FDI xuất đi từ những nước này đã giảm đáng kể vào năm 2005. Trong
những năm gần đây do dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc gia tăng đã kích thích
nguồn FDI xuất đi từ nước này tăng lên nhanh chóng, góp phần làm thay đổi
cục diện chung của các dòng FDI xuất đi từ Châu Á.
Các dòng FDI xuất đi từ Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á vẫn chủ yếu
tập trung vào các ngành dịch vụ, song tỷ trọng nguồn vốn xuất đi từ khu vực
hướng vào ngành chế tạo và tài nguyên thiên nhiên cũng đang tăng lên, tỷ trọng
của các ngành chế tạo và sơ chế tăng đáng kể từ 29% năm 2004 lên tới 54%
năm 2005 trong hoạt động sát nhập và mua bán TNCs. Ví dụ, tổng công ty Dầu
lửa Trung Quốc đã mua Công ty PetroKazakhstan với giá 4,2 tỷ USD vào tháng
8 năm 2005 – đây thực sự là trường hợp mua bán lớn nhất trong ngành dầu khí

Đài Loan (Trung Quốc), trong khi chỉ có 1 công ty nằm ở châu Phi và 2 thuộc về
châu Mỹ Latinh. Trong 700 công ty chi tiêu R & D lớn nhất có tới hơn một nửa
các công ty này thuộc về ba ngành công nghiệp chính, đó là phần cứng IT, chế tạo
ôtô và dược phẩm/công nghệ sinh học [87].
VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 18
Tiến trình toàn cầu hoá R & D không phải là một hiện tượng mới, điều mới
mẻ đó là tốc độ của tiến trình này đã tăng lên nhanh hơn trong những năm gần đây
và lan sang các nước đang phát triển (mặc dù mới chỉ ở vài nước, chủ yếu là Châu
Á). Không lâu nữa các hoạt động R & D tại các nước đang phát triển sẽ không chỉ
đơn thuần là thích nghi công nghệ với các điều kiện bản xứ mà các hoạt động này
đang ngày càng mang hàm lượng R & D “đổi mới”, bao gồm cả việc phát triển
công nghệ cho các thị trường khu vực và thế giới. Cùng lúc này, TNCs từ các
nước đang phát triển bắt đầu tiến hành thực hiện R&D ở nước ngoài là để tiếp cận
đến công nghệ tiên tiến và các phương tiện nghiên cứu hiện đại tại các nước phát
triển, cũng như để làm cho các sản phẩm thích nghi với các thị trường mới và tận
dụng nguồn lực chuyên môn tại các nước phát triển khác.
Ngày nay, nhận thức của TNCs về khoa học đã có những thay đổi căn bản.
Nếu như trước đây, TNCs thường đầu tư lớn cho các phòng thí nghiệm, các viện
nghiên cứu để các cơ sở đào tạo này tạo ra các phát minh sáng chế và thường được
diễn ra ở các công ty mẹ. Thì nay, TNCs đang tiến hành quá trình quốc tế hoá hoạt
động R & D một cách mạnh mẽ. Mặc dù tiến trình quốc tế hoá R & D có chậm
hơn so với các hoạt động khác, nhưng tỷ trọng tiến hành R & D ở nước ngoài
trong tổng số R & D đã tăng đều đặn. Tại Anh, Mỹ và một số nước nhỏ hơn ở
châu Âu, TNCs đã bắt đầu quốc tế hoá R & D ở quy mô lớn trong những năm
1980 và xu thế này tăng trong những năm 1990. Chi tiêu R & D của các chi nhánh
công ty của Mỹ ở nước ngoài tăng lên đều đặn từ năm 1994 đến 2002 và đạt mức
kỷ lục 21 tỷ USD năm vào 2002. Con số này chiếm 13,3% tổng R & D của TNCs


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status