ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ HẢI
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỐI QUAN HỀ
XÃ HỘI ĐẾN HÀNH VI BÁN DÂM Ở GÁI
MẠI DÂM LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ THỊ HÀ
TS. Lấ TH H
H NI - 2009
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mại dâm là một vấn đề xã hội phức tạp, khó giải quyết không chỉ ở Việt
Nam mà còn ở các Quốc Gia trong khu vực và trên thế giới. Các nghiên cứu ở một
số nước trong khu vực từ năm 1993 đến 1994 cho thấy có khoảng 140.000 đến
230.000 người hành nghề mại dâm ở In-đô-nê-xi-a; khoảng 43.000 đến 142.000
người ở Ma-lai-xi-a; khoảng 400.000 đến 500.000 người ở Phi-lip- pin; và từ
150.000 đến 200.000 tại một thời điểm hoặc từ 200.000 đến 300.000 trong giai
đoạn một năm ở Thái Lan (và thêm 100.000 phụ nữ Thái hành nghề mại dâm ở các
nước khác) [19]. Ở Việt Nam, tệ nạn mại dâm có xu hướng chỉ giảm bề nổi, nhưng
lại chuyển sang hoạt động trá hình dưới nhiều hình thức tinh vi, nhiều thành phần
tham gia hơn, đặc biệt có sử dụng các phương tiện thông tin hiện đại để điều hành
mại dâm liên kết với các loại tội phạm khác để hoạt động. Tình trạng mại dâm trẻ
em, buôn bán phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài vì mục đích mại dâm vẫn chưa giảm,
hình thành nhiều đường dây hoạt động mại dâm xuyên quốc gia. Tính đến nay
(2008), theo số liệu của Cục phòng chống tệ nạn xã hội số gái mại dâm ước tính
khoảng 30.904 người, trong đó số có hồ sơ quản lý là 15.316 người. Con số này
trên thực tế còn đang là ẩn số, hiện nay chúng ta mới nhìn thấy "bề nổi của tảng
băng chìm" mà thôi.
Tệ nạn mại dâm gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với cá nhân, gia đình
và toàn xã hội. Tệ nạn này làm xói mòn đạo đức, huỷ hoại truyền thống, gây mất
trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tới phát triển và tăng trưởng kinh tế, phát triển
2.2. Phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Nội dung nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu hai nhóm quan hệ xã hội
của gái mại dâm là:
+ Quan hệ với gia đình huyết thống: cha, mẹ, anh, chị,
+ Quan hệ với bạn bè.
2.2.2. Địa bàn nghiên cứu
Đây là nhóm đối tượng đặc thù, khó tiếp cận nên chúng tôi chủ yếu điều tra
trong một số Trung tâm chữa trị, giáo dục lao động xã hội ở Hà Nội và TP.Hồ Chí
Minh. Cụ thể là:
+ 157 gái mại dâm ở trung tâm chữa trị giáo dục lao động xã hội trong đó có
3 gái mại dâm bị nhiễm HIV/AIDS; 2 gái mại dâm có trình độ đại học.
+ 1 gái mại dâm hiện đã hoàn lương ở Hà Nội.
+ Một gia đình gái mại dâm ở Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Xác định rõ sự ảnh hưởng của quan hệ gia đình và quan hệ bạn bè đến hành
vi bán dâm của gái mại dâm.
Đưa ra những kiến nghị về giải pháp giúp gái mại dâm có những quan hệ xã
hội tích cực, đương đầu với những khó khăn tâm lý, tránh tái phạm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
3.2.1. Nghiên cứu lí luận: xác định những cơ sở lí luận và phương pháp
nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
3.2.2. Nghiên cứu thực tiễn
Xác định rõ các quan hệ gia đình, bạn bè của gái mại dâm.
Chỉ ra ảnh hưởng của các quan hệ xã hội này đến hành vi bán dâm.
3.2.3. Đưa ra những đề xuất và kiến nghị.
4. Giả thuyết khoa học
4.1. Mối quan hệ lỏng lẻo, thiếu sự yêu thương, chăm sóc giữa các quan hệ
trong gia đình huyết thống đã là một trong những nhân tố thúc đẩy gái mại dâm
Karl Marx khi nói về con người đã khẳng định rằng: Trong tính hiện thực của
nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. “Marx đã vạch ra nền
tảng mối quan hệ cá nhân, mối quan hệ giữa người với người - đó là quan hệ xã
hội ” [16, tr.443]. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của các quan hệ xã hội đối
với nhân cách nói chung và với hành vi của con người nói riêng.
+ Phạm Minh Hạc cũng có quan điểm như K.Marx khi nói về con người.
Theo ông: “trong cuộc sống, bằng hoạt động của bản thân, con người mới chịu tác
động của các quan hệ xã hội và nhờ đó con người hội nhập vào các quan hệ đó,
góp phần củng cố phát triển các quan hệ đó. Toàn bộ tồn tại khách quan xung
quanh con người tác động vào con người thông qua các quan hệ xã hội hoặc dưới
hình thức của các quan hệ xã hội mà tác động vào con người. Chính trong quá trình
học tập, lao động, đó con người thiết lập nên các quan hệ xã hội ” [8, tr.19]. “Cá
nhân - một thành viên xã hội, kẻ mang tổng hoà các quan hệ xã hội, vừa chịu ảnh
hưởng của chúng, vừa góp phần tạo ra chúng ” [8, tr.14].
+ Lã Thu Thủy cho rằng: con người không phải là những cá thể biệt lập mà
luôn tồn tại trong các quan hệ ràng buộc tương tác với nhau [3, tr.349]. Theo tác
giả: các quan hệ tương tác xã hội của mỗi cá nhân sẽ đóng vai trò rất quan trọng
trong sự trau dồi và phát triển cái tôi, giúp cá nhân nhìn nhận và điều chỉnh hành
vi. [3, tr.340]. “ Còn nhỏ thì quan hệ với cha mẹ có ảnh hưởng lớn nhất. Khi lớn
hơn một chút, quan hệ bạn bè trở thành quan trọng. Và khi trở thành người lớn đi
làm, có kinh tế độc lập thì cha mẹ không còn có ảnh hưởng nhiều như trước mà lúc
này là quan hệ với thủ trưởng hoặc vợ (chồng) có ảnh hưởng lớn. Có sự thay đổi
vai trò của người tác động đến hành vi của cá nhân theo từng lứa tuổi ” [3,
tr.347]. Tác giả đã khẳng định “ con người xã hội là con người được nhìn nhận
dưới góc độ: hành vi cá nhân và hệ thống xã hội ”.
CQuan hệ xã hội có vai trò rất quan trọng đến sự hình thành và phát triển
nhân cách con người, nên nó đã trở thành đối tượng của nhiều nhà nghiên cứu.
+ Theo Ryan, Krall và Hodges: thì môi trường xã hội có ảnh hưởng lớn
nhất đến hành vi của cá nhân, nhân cách. Giữa chúng có mối quan hệ khăng khít và
tác động qua lại lẫn nhau theo cả hai chiều hướng tốt và xấu [3, tr.342].
sao mà trong quá trình sống một cá nhân này hay một cá nhân khác tham dự vào
Việc tham gia của cá nhân vào các cộng đồng nhất định tạo nên nội dung, tính chất
các hoạt động mà cá nhân cần thực hiện, phạm vi và các cách giao tiếp với người
khác, nghĩa là các đặc điểm tồn tại xã hội, lối sống của cá nhân đó. Điều đó có tác
dụng thúc đẩy sự phát triển của cá nhân (ví dụ như trong một tập thể tốt) hoặc kìm
hãm và làm nhân cách bị què quặt (ví dụ trong các băng đảng) [16, tr.446].
Theo A.N.Lêônchiep thì: “nhân cách được tạo ra bởi những hoàn cảnh
khách quan, nhưng không phải bằng cách nào khác ngoài cách thông qua toàn bộ
hoạt động của cá nhân thực hiện các quan hệ của nó với thế giới” [15, tr.256].
Nghĩa là mỗi cá nhân bằng chính các hoạt động của bản thân đã xây dựng cho
mình các quan hệ với thế giới, để từ đó hình thành và phát triển nhân cách của
mình.
Còn Vưgôtxki cho rằng chính các mối quan hệ xã hội mà các cá nhân tham
gia vào đã tạo nên môi trường xã hội riêng phát triển nhân cách người đó. Môi
trường xã hội riêng này không giống với môi trường xã hội chung nhờ sự khác biệt
khi người này tham gia vào các mối quan hệ A,B trong khi người kia lại có các
mối quan hệ C,D mặc dù họ học trong cùng một lớp, một nhóm, Tính đặc thù của
mối quan hệ ở từng lứa tuổi trong môi trường chung mà nó qui định môi trường
riêng. Cá nhân tham gia vào mối quan hệ nào bằng hoạt động và giao lưu thì nó qui
định môi trường phát triển riêng của từng người. [26, tr.325-331]
Cũng trong những nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thành viên trong
nhóm, các nhà tâm lý học xã hội đã chỉ ra rằng: “nhóm có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
hành vi của mỗi cá nhân là thành viên của nhóm, dù rằng đó là thành viên của
nhóm đơn giản nhất” [14, tr.93]. “ Hành vi của cá nhân khi họ ở một mình có khi
rất khác với hành vi của chính họ khi có mặt của những người khác ” [14, tr.97].
Nhà nghiên cứu Tong Xin đã chứng minh được rằng: giáo dục gia đình
mất cân đối và quan hệ gia đình lạnh nhạt có ảnh hưởng rất lớn tới tội phạm nữ.
Tác giả đã chỉ ra rằng về mặt quan hệ gia đình, trong số nữ phạm nhân dưới 25 tuổi
được nghiên cứu có 19,5% gia đình thường cãi lộn; 14,4% số gia đình không hề
trưng cầu ý kiến của con cái khi có các quyết định quan trọng trong gia đình; có
thòi: bị vòi vĩnh, đánh đập, [21, tr.224].
+ Balazs Gabrielle khi nghiên cứu về các quan hệ của gái mại dâm đã cho
rằng: Khách hàng là những người “cần những hoạt động tình dục bổ sung và giải
trí. Và thế là họ tìm đến với gái mại dâm ” [21, tr.97]. Như vậy có thể thấy quan
hệ giữa gái mại dâm (người bán dâm) với khách hàng (người mua dâm) chỉ là quan
hệ trao đổi giữa người mua và người bán nhằm thoả mãn nhu cầu của mỗi bên.
Mối quan hệ của gái mại dâm với bọn ma cô là khá đặc biệt: “Theo những
hồ sơ được xem xét thì hầu như một nửa trường hợp, người dắt mối là bạn, người
tình hay là chồng của gái mại dâm Đặc biệt anh ta tương đương với một người
quản lý hay một ông bầu: anh ta dẫn người gái điếm đi và dắt về, coi sóc sự an
toàn, đôi lúc là vệ sĩ, mua quần áo cho cô ta, đăng những thông báo và lo đến ngân
hàng ” [21, tr.99].
Quan hệ với bạn bè của gái mại dâm cũng rất khác: “Bạn bè, những người
bạn đã dạy cho các cô rằng thể xác của họ là một cái vốn Một nửa gái mại dâm
trong lần hành nghề đầu tiên đều đi cùng với bạn gái của họ ” [21, tr.101].
+ Theo tài liệu của Cục phòng chống tệ nạn xã hội - Bộ lao động thương
binh và xã hội Việt Nam về "Cơ sở kinh tế - xã hội của tệ nạn mại dâm Đông Nam
á" đã chỉ ra rằng:
Gái mại dâm và trẻ em mại dâm thường phải chịu mối quan hệ bất bình
đẳng. Họ khó tự chủ và không có khả năng điều đình, thoả thuận với cha mẹ,
những thành viên khác trong gia đình, người chủ, dắt mối, Họ không biết nương
tựa vào đâu để bù đắp lại sự bất bình đẳng này.
Gái mại dâm còn có những mối quan hệ với các tài xế tắc-xi, xe ôm. Những
người này là một cầu nối quan trọng giữa gái mại dâm và khách hàng. Họ quảng bá
các dịch vụ mại dâm thông qua việc phân phát các thông tin cho khách về địa
điểm, luật lệ, giá cả, các loại hình dịch vụ, thậm chí họ còn làm nhiệm vụ đưa
đón và là trung gian thoả thuận của hai bên.
Những kẻ môi giới mại dâm hay các tú bà: những đối tượng này được trả
công hoặc thậm chí đôi khi tự trả công cho mình để làm nhiệm vụ dắt gái mại dâm
đến với khách hàng. Kẻ môi giới thường dùng điện thoại di động để dẫn "gái" cho
bọn họ căm ghét chủ chứa. Số người căm ghét ngày càng tăng, chiếm tỉ lệ tới 77%
(trước kia) và 81,5% (hiện nay). Đối với bọn cò mồi, dắt gái, gái mại dâm vừa căm
ghét vừa xa lánh. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do sự bóc lột, ăn chặn những đồng
tiền nhơ bẩn từ hoạt động mại dâm, mà trong hoạt động này gái mại dâm là những
người thiệt thòi nhiều nhất, vừa mất phẩm giá, nhân phẩm vừa bị bệnh và ít có hy
vọng tìm được hạnh phúc của mình trong tương lai. Tuy nhiên số ít gái mại dâm
vẫn có quan hệ thân thiết (3,5%) và phục tùng (2,5%) chủ chứa cả trước và trong
khi ở trung tâm [6, tr.126-129].
Như vậy, thông qua những nghiên cứu trên các tác giả đã chỉ ra một số nét
đặc trưng về quan hệ xã hội của gái mại dâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa
thật đầy đủ và cũng chưa chỉ ra được các ảnh hưởng của quan hệ xã hội này đến
hành vi bán dâm của gái mại dâm. Do đó, trong nghiên cứu này chúng tôi đặt tiền
đề nghiên cứu sâu hơn ảnh hưởng của các quan hệ xã hội chủ yếu sau:
+ Quan hệ với gia đình huyết thống: bố, mẹ, anh, chị,
+ Quan hệ với bạn bè.
1.1.3. Ảnh hưởng của các quan hệ xã hội tới hành vi bán dâm của gái mại
dâm
Các quan hệ xã hội có tác động rất lớn đến hành vi bán dâm của gái mại
dâm.
1.1.3.1. Ảnh hưởng của giáo dục gia đình
Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng, giáo dục và là chỗ dựa vững chắc cho mỗi
người. Thế nhưng không phải ai cũng may mắn được sống trong một gia đình đầm
ấm, hạnh phúc và đầy đủ.
Theo số liệu điều tra của tác giả V.M.Kôrơmosikôv cho thấy, trong các gia
đình của người chưa thành niên phạm tội thì gia đình có cuộc cãi cọ, va chạm
chiếm tỷ lệ 39% và 1/4 trong số đó là các trường hợp cãi nhau đi đến đánh nhau.
Các nhà tâm lý học Margot Prior (2000), Rutter Giller (1983) và Sarnecki (1985)
cho rằng sự không quản lý chặt chẽ con cái của cha mẹ là một trong những nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên. Một nghiên
cứu ở Anh đối với gần 400 em trai sống cùng với gia đình lớn cho thấy việc phạm
gia đình của trẻ em phạm pháp rằng: “khoảng 20 - 30% các em này thuộc gia đình
bất hạnh (có bố mẹ li dị, con chồng ở với dì ghẻ hoặc là người thân trong gia đình
phạm pháp phải đi cải tạo). Nhưng vốn hoàn cảnh ấy không phải là nguyên nhân
trực tiếp sinh ra những sản phẩm đau thương mà thường là từ hoàn cảnh đó dẫn
đến chỗ không quan tâm tới việc giáo dục con cái. Hơn nữa, luôn luôn có những
kiểu phản ứng kiểu “giận cá chém thớt”, và một cách vô ý thức, ngày càng dùng
nhiều phương pháp giáo dục sai lầm, thô bạo. Trong số các em được hỏi miệng có
tới 3/4 em đã từng phải chịu đựng cảnh xiềng xích tại nhà, roi vọt, thậm chí cả tra
tấn điện. Thái độ thờ ơ, không quan tâm, vùi dập, chà đạp, đã phá hủy tất cả
những tình cảm tích cực mà nhiều khi người ta tưởng như là vốn có và phải có
trong gia đình. Thay vào đó là một thứ gì đó mà ta tạm gọi là tình cảm tiêu cực
(chống đối), hay ít nhất cũng là một loại thái độ “trung tính” - thờ ơ Những cảnh
tượng ấy, những mối quan hệ ấy làm cho trẻ xa gia đình, tách khỏi mối quan hệ
được thiết lập tự nhiên trong “vi môi trường” ấy. Tình hình ấy đẩy trẻ vào một “vi
môi trường” khác. “Vi môi trường” thứ hai này thường là “vi môi trường” xấu. Thế
là con đường dẫn tới hành vi phạm pháp đã mở ra.” [7, tr.304].
Qua nNghiên cứu của Lê Thị Hà cho thấy mối liên hệ giữa các thành viên
trong gia đình ảnh hưởng đến hành vi bán dâm của gái mại dâm: có tới 62% gái
mại dâm sống trong bầu không khí gia đình không có sự hoà thuận, mà có xung đột
âm ỉ, thậm chí xung đột mạnh. Đây là những gia đình luôn có những mâu thuẫn,
tranh cãi giữa cha và mẹ, giữa cha mẹ và các con. Hầu hết, các gia đình của gái
mại dâm đều có vấn đề. Những gia đình đó hoặc có người liên quan tới mại dâm
(22,5%), người nghiện ma tuý (21,5%), có tiền án tiền sự (17,5%) hoặc dính líu
đến các tệ nạn xã hội khác. Đặc biệt trong gia đình có bố, mẹ hoặc anh em đã, đang
làm cò mồi, dắt gái, chủ chứa hoặc bán dâm thì khó có thể tạo ra môi trường cho cá
nhân phát triển lành mạnh và có hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội. Thậm chí
đôi khi gia đình còn trở thành gánh nặng quá lớn. Nhiều gái mại dâm phải nuôi
dưỡng bố mẹ già, anh chị em, con cái và ngay cả người chồng nghiện ngập, rượu
chè, cờ bạc [6, tr.140].
Chính những điều này là một trong những lí do làm cho nhiều phụ nữ bị xô
mà chúng muốn. Nếu bạn bè tốt thì không có nhiều điều để bàn luận, nhưng nếu là
chúng bạn xấu thì sẽ có nhiều chuyện tồi tệ xảy ra” [11].
1.1.3.2. Ảnh hưởng của quan hệ bạn bè:
Không ai sinh ra đã là gái mại dâm, và sau cái nôi gia đình thì nhóm bạn bè
chính là một môi trường thuận lợi để học các hành vi xấu.
Trong những công trình nghiên cứu của mình các tác giả A.B.Sakharov;
T.M.Milzo; Phạm Minh Hạc (1981); D.E.Papalia, S.W.Olds (1996); Schickedanz
J.A; Schickedanz D.I; Forsth G.A (1998); Mara Brendgen, Frank Vitaro,
William.M.Bukowski (2000); Dennis. V.Ary, Tery E.Duncan, Susan C.Duncan,
Hyman Hops (1999) đã khẳng định rằng: các hành vi phạm pháp của người chưa
thành niên hầu hết được thực hiện trong nhóm và nhóm bạn tiêu cực là môi trường
trực tiếp của những hành vi phạm pháp” [11].
Các tác giả Dishion T.S, Andrew D.W, Crowby.L (1995); Jesso. R, Jesso.
S (1997; Margot Prior (2000) đã đưa ra một mô hình của hành vi có vấn đề ở trẻ
vị thành niên. Họ khẳng định rằng: “ bạn bè xấu là một trong bốn nhân tố trực
tiếp dẫn đến hành vi chống đối của trẻ ”. Tuy nhiên việc không được bạn bè
chấp nhận hoặc không có bạn cũng có ảnh hưởng xấu đến trẻ. Theo Barclay
(1996) và Ullman (1957) thì những học sinh không được bạn chấp nhận ở tuổi
thiếu niên sẽ gặp khó khăn trong học tập, hay trốn tiết và có nguy cơ bỏ học.
Những học sinh bị bạn bè tẩy chay sẽ có nguy cơ lưu ban từ 2 đến 7 lần những
học sinh được các bạn chấp nhận, là những người hung hãn hơn và có những vấn
đề đạo đức (Ollendick, Borden, Coren 1992). Những học sinh có khó khăn trong
quan hệ với bạn có nhiều khả năng bỏ học hơn các học sinh khác (Parker và
Asher 1987, Ollendick và đồng nghiệp 1992). Cairns và đồng nghiệp (1989) đã
tìm thấy mối tương quan giữa khó khăn trong quan hệ bạn bè với tính hung hăng,
khó khăn trong học tập và có sự bỏ học sau này [11].
Các tác giả Bungari sau khi nghiên cứu các nhóm chống đối xã hội của
người chưa thành niên đã đưa ra nhận xét: thứ nhất, trong rất ít các trường hợp các
nhóm tiêu cực hình thành để nhằm mục đích phạm tội và lúc đầu chúng thường tồn
tại như các nhóm chơi bời lêu lổng. Thứ hai, hệ thống các quy định của nhóm đã
với hoạt động của mình. Rồi khi khắc phục được cảm giác hổ thẹn, họ sẽ có được
cảm thụ mới " [21, tr.242].
Những tài liệu của Cục phòng chống tệ nạn xã hội - Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội còn khẳng định: gái mại dâm thường có xu hướng sát nhập thành
nhóm dựa trên cơ sở cùng quê hoặc cùng xuất xứ. Những nhóm như thế này có ảnh
hưởng lớn đến hành vi và là chỗ dựa quan trọng cho gái mại dâm. Trong thời điểm
gặp khó khăn, những nhóm này sẽ hỗ trợ lẫn nhau, hoặc xa hơn, hỗ trợ nhau lúc
ốm đau, thai nghén hay bị khủng hoảng về gia đình, để giúp nhau "hành nghề"
tốt hơn [20].
Phạm Minh Hạc khi nghiên cứu về trẻ em phạm pháp đã viết rằng: “giao tiếp
nhóm (có quan hệ trong một nhóm bạn bè) có thể là một trong những nguyên nhân
cơ bản và rất trực tiếp đưa trẻ tới hành vi phạm pháp. Với những trẻ này, giao tiếp
nhóm không hướng vào hoạt động học tập, mà hướng trẻ vào hoạt động chủ yếu
nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất” [7, tr.303]. Trong đó “nhu cầu vật chất giữ vai
trò chủ đạo trong việc kiến lập và vận hành các quan hệ nhóm và thúc đẩy hành
động thuộc về một loại hoạt động sơ đẳng, kiểu như một sự thỏa mãn thuần túy của
cơ thể” [7, tr.307]. “Động cơ của hoạt động giao tiếp nhóm ở trẻ phạm pháp là kiến
tạo, vận hành, chiếm lĩnh các quan hệ nhóm nhằm làm ngược lại các quy định của
xã hội, phá hủy các thể chế xã hội, chống lại các chuẩn mực đạo đức, tức là phá bỏ
những gì tốt đẹp đã được hình thành và tiếp thụ những điều tiêu cực” [7, tr.306].
“Quan hệ với bạn bè xấu là một khâu quyết định khá trực tiếp đưa trẻ tới chỗ phá
vỡ những nét tính cách tốt đẹp được truyền thụ trước đó, cũng như theo con đường
hình thành, phát triển những hành vi phản xã hội, vi phạm chuẩn mực đạo đức và
pháp luật. Các thống kê cho thấy, về mặt các mối quan hệ giữa trẻ phạm pháp với
gia đình, nhà trường và bạn bè, thì quan hệ bạn bè là gắn bó hơn cả. Đây là các
quan hệ thiện cảm, gần gũi, ủng hộ, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, gọi là quan hệ (+).
Trong số các em đã được điều tra, có đến 83% có quan hệ (+) với bạn bè, 40% có
quan hệ (+) với những người ruột thịt trong gia đình. Quan hệ bạn bè ở đây bao
gồm những em ở gần nhau, thân nhau một cách “tự nhiên”. Rồi đến thời kỳ bắt đầu
có điều trắc trở trong cuộc sống và trong học tập, bạn của các em này thường là
bị ảnh hưởng tiêu cực của nhóm bạn xấu. Sự học đòi, bắt chước những thói hư tật
xấu của bạn bè ngày càng làm cho gái mại dâm lấn sâu hơn vào con đường lầm lạc.
1.1.3.3. Ảnh hưởng của các quan hệ xã hội khác
Các quan hệ của gái mại dâm với bọn chủ chứa, ma cô, cò mồi, dắt gái, tài
xế tắc-xi, lái xe ôm, cũng có ảnh hưởng rất nhiều đến hành vi mại dâm của gái
mại dâm. Chính những kẻ này đã tiếp tay cho hoạt động của gái mại dâm bằng
cách giúp cho gái mại dâm tìm, đến được với khách hàng. Mặc dù trong các quan
hệ này thì chỉ có bọn chủ chứa, cò mồi, là hoàn toàn được hưởng lợi trên thân
xác người khác, còn những cô gái mại dâm đôi khi lại còn chịu những oan ức, thiệt
thòi thậm chí là bị bóc lột, hành hạ tàn nhẫn. Nhưng nói chung đây là một mối
quan hệ mà đôi bên cùng cùng có lợi.
Cũng chính bởi vì được hưởng một nguồn lợi lớn mà không phải mất gì
nhiều, nên những kẻ trung gian này thường phải sử dụng rất nhiều thủ đoạn để dụ
dỗ những cô gái trẻ, ngây thơ đi vào con đường mại dâm và lôi kéo họ quay trở lại
khi họ có ý định từ bỏ.
Qua những nghiên cứu của các tác giả chúng ta có thể nhận thấy các quan hệ
xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi bán dâm của gái mại dâm. Trong đó, các
quan hệ với nhóm gia đình và nhóm bạn bè là có tác động nhiều nhất. Đây là cơ sở
để chúng tôi nghiên cứu về đặc điểm của hai nhóm quan hệ xã hội này và những
chiều hướng tác động của chúng.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Quan hệ xã hội
1.2.1.1. Khái niệm quan hệ xã hội
+ Trong từ điển xã hội học của G.Endruweit và G.Trommdorff (2001) thì
quan hệ xã hội được hiểu là tương tác và cấu trúc ảnh hưởng tồn tại giữa người với
người và giữa người với nhóm.
+ V.G.Krưxcô (2001) cho rằng theo nghĩa rộng quan hệ là thuộc tính của bất
kì một liên hệ nào của con người với thế giới bên ngoài và với những người khác.
Thông qua quan hệ, hệ thống nhu cầu, động cơ, hứng thú của con người được xác
định. Tóm lại có thể nói quan hệ xã hội là mối liên hệ xã hội hóa bản chất tâm lý
ủng hộ, nâng đỡ trẻ đi vào thế giới những mối quan hệ bạn bè mở rộng và phức tạp
hơn. [27]
Quan điểm ngắt quãng nhấn mạnh đến sự thay đổi và lớn lên trong những
mối quan hệ kéo dài. Mỗi loại mối quan hệ đều có cấu trúc khác nhau. Cứ mỗi loại
mối quan hệ mới là cá nhân lại tiếp cận với những mẫu quan hệ mới. Quan hệ của