Luận văn tốt nghiệp: Thực trạng công tác tuyển dụng và đào tạo đại lý tại công ty TNHH Cathay life Việt Nam - Pdf 25

Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Nhu cầu an toàn đối với các cá nhân, tổ chức trong xã hội là vĩnh cửu,
con người luôn tìm cách bảo vệ bản thân và người thân yêu trước những bất
hạnh của số phận và những biến cố bất ngờ trong cuộc sống và trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Chính vì nhu cầu đó mà bảo hiểm đã ra đời trong
lịch sử nhân loại. Bảo hiểm có vai trò rất quan trọng trong đơì sống con
người. Bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trước những
rủi ro gây ra, góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cuộc sống của con
người an toàn hơn khiến họ yên tâm phấn đấu cho sự nghiệp của bản thân và
xã hội. Nằm trong loại hình Bảo hiểm thương mại, BHNT ra đời cũng khá
sớm và nhanh chóng gắn bó với cuộc sống của người dân. Sản phẩm BHNT
ngày càng phong phú và đa dạng để đáp ứng nhu cầu của con người trong
cuộc sống. Thị trường BHNT trên thế giới cũng như ở Việt Nam ngày càng
trở nên sôi động do sự xuất hiện của nhiều công ty BHNT. Vì vậy, để tồn tại
và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp bảo hiểm
phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ dành cho khách hàng. Mặt
khác, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, thông thường người ta không
cảm thấy có nhu cầu với nó. Do đó để BHNT đến được với khách hàng cần
phải có sự quảng cáo, giới thiệu, giúp khách hàng hiểu rõ hơn nội dung của
sản phẩm và nhu cầu về bảo hiểm của bản thân. Đại lý bảo hiểm nhân thọ
đảm nhận vai trò hết sức quan trọng, là cầu nối giữa khách hàng và công ty
bảo hiểm, chất lượng của sản phẩm dịch vụ phụ thuộc khá nhiều vào đội ngũ
nhân viên, đại lý. Chính vì vậy, công tác tuyển dụng và đào tạo đại lý có vai
trò hết sức quan trọng đối với DNBH. Ý thức được vai trò của công tác tuyển
dụng và đào tạo đại lý đối với doanh nghiệp bảo hiểm cùng sự giúp đỡ của
THs. Nguyễn Thị Chính và các cán bộ của công ty TNHH Cathay life, em đã
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
1
Luận văn tốt nghiệp
chọn đề tài: “Thực trạng công tác tuyển dụng và đào tạo đại lý tại công ty

ngăn cản người dân của một thành phố thu hoạch ở vùng nông thôn xung
quanh. Mặc dù mỗi hộ gia đình có thể tự dự phòng cho những trường hợp xấu
trên, tuy nhiên, những thị dân đã sớm nhận ra rằng việc dự trữ chung có hiệu
quả hơn. Mỗi người có khả năng sẽ phải đóng vào khoản thuế nhỏ trong
những năm được mùa, khi gía lương thực xuống thấp. Gặp khi mất mùa hoặc
khi thành phố bị vây hãm cơ quan thuế sẽ xuất ra lương thực dự trữ để nuôi
sống dân thành phố. Vì vậy ý thức về lập quỹ chung đã xuất hiện trong tiềm
thức con người.
Dần dần bảo hiểm ngày càng có biểu hiện rõ hơn, đến khi hình thức
bảo hiểm đầu tiên xuất hiện là bảo hiểm hàng hải và bảo hiểm cháy ở Anh.
Mô hình thu nhỏ sớm nhất của bảo hiểm nhân thọ là tổ chức Collegia
Tenuiornm tại Roma vào thế kỉ thứu I, đây là một đoàn thể tôn giáo. Mỗi hội
viên phải nộp một khoản hội phí nhất định, khi ai đó qua đời người thân của
họ sẽ nhận được một khoản tiền ma chay. Sau đó là tổ chức Guild ở châu Âu,
tương tự hội đồng nghành, được thành lập trên cơ sở những người cùng
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
3
Luận văn tốt nghiệp
nghành nghề hỗ trợ cho nhau về mặt tinh thần, tổ chức này ngoài việc bảo vệ
quyền lợi nghề nghiệp cho hội viên cũng có sự giúp đỡ trên nhiều phương
diện khác như: tai nạn, trộm cắp, bệnh tật…sau đó chức năng trợ giúp tài
chính dần dần trở thành tổ chức độc lập, có điểm tương đồng với cơ sở bảo
hiểm. Tương tự các tổ chức khác như “ hội ái hữu”của Anh, “ kho cứu tế” của
Đức hay “hội tương ái” của Pháp cũng có sự ảnh hưởng lớn đến sự ra đời của
bảo hiểm. Nhưng do thiếu tiêu chuẩn tính toán cơ bản nên trong thời kì đầu,
những tổ chức này không được nhiều coi trọng.
Năm 1661, một thanh niên trẻ tại Luân Đôn tên là John Gaiunt đi nhà
thờ thường xuyên và quan sát những đám tang cũng như lễ rửa tội tổ chức ở
nhà thờ. Anh đã ghi nhận số sinh, số chết trong một thời gian nhất định sau đó
xuất bản một bài nói về số lượng sinh- chết của thời đó. Đây là cơ sở thành

thị trường sôi động có tính cạnh tranh cao.
1.1.2 Vai trò của BHNT:
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế:
BHNT có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế. BHNT là kênh
huy động vốn hiệu quả, giúp nền kinh tế chính trị thêm ổn định và có vai trò
quan trọng trong việc mở rộng ngoại giao.
 Kênh huy động vốn hiệu quả, làm giàu cho quốc gia:
Hiện nay nước ta đang trong thời kì chuyển mình, tất cả các hạng mục
kinh tế đều cần nguồn vốn to lớn . Các công ty BHNT phát huy tác dụng thu
thập phí bảo hiểm và tập trung thành nguồn vốn lớn để đem đi đầu tư giúp
nền kinh tế phát triển.
 Bền vững kinh tế ổn định chính trị:
Bảo hiểm nhân thọ có chức năng điều chỉnh tài sản xã hội, đảm bảo
cuộc sống kinh tế cá nhân con người. Mức sống của con người tăng cao khiến
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
5
Luận văn tốt nghiệp
con người có niềm tin hơn vào xã hội và khi cuộc sống con người no đủ thì
chính trị sẽ tự nhiên ổn định hơn.
 Thông qua tái bảo hiểm mở rộng ngoại giao:
Công ty BHNT thường phân tán rủi ro, chấp nhận bảo hiểm một phần,
sau đó tiến hành tái bảo hiểm ở các công ty nước ngoài. Đồng thời cũng chấp
nhận tái bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm nước ngoài. Sự qua lại mang tính
quốc tế là hình thức ngoại giao hiệu quả nhất.
1.1.2.2 Đôí với xã hội:
Từ khi mới xuất hiện, BHNT đã khẳng định vai trò to lớn đối với xã hội.
Tham gia BHNT giúp con người trong xã hội có cuộc sống tốt hơn vì nó hình
thành trong mỗi con người thói quen tiết kiệm, nâng cao khả năng quản lý tài
chính, biết quan tâm giúp đỡ lẫn nhau từ đấy làm nên một xã hội văn minh, ổn
định và phát triển cao.

1.1.2.3 Đối với từng cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia
BHNT:
Đối với từng cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia BHNT, BHNT
giúp họ không phải lo lắng cho tương lai, yên tâm công tác ổn định phát triển,
bảo đảm tín dụng. Cụ thể:
 Không lo lắng cho tương lai:
BHNT đảm bảo cuộc sống kinh tế cho cá nhân sau khi gặp rủi ro khiến
họ yên tâm phấn đấu cho sự nghiệp, đồng thời có vai trò khích lệ động viên
giảm bớt lo lắng.
 Yên tâm công tác,ổn định phát triển:
Lực lượng nhân công thường xuyên thay đổi sẽ làm cho chủ doanh
nghiệp phải tốn thời gian và tiền bạc để đào tạo lớp nhân viên mới. Đến khi
kỹ thuật thành thục họ lại chuyển sang nơi khác. Đó không chỉ là tổn thất lớn
cho công ty mà còn ảnh hưởng đến tiến độ công việc. Nếu chủ doanh nghiệp
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
7
Luận văn tốt nghiệp
mua bảo hiểm nhóm cho nhân viên đồng thời khi chi trả phần lớn phí bảo
hiểm, họ sẽ suy xét đến lợi ích thực tế, tính ổn định của công việc tự nhiên sẽ
tăng lên và hiệu quả công việc ngày càng cao.
 Bảo đảm tín dụng, đầu tư thu lợi:
Chức năng tích cực khác của BHNT là có thể đảm bảo tín dụng cho cá
nhân. Tham gia đóng BHNT không những được bồi thường về mặt kinh tế mà
hơn nữa trong bất cứ hoàn cảnh ruỉ ro nào cũng có thể đảm bảo tín dụng và
khả năng chi trả của từng người.
1.1.3 Đặc điểm cơ bản của BHNT
1.1.3.1 BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro
Mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ cho công
ty bảo hiểm ( phí bảo hiểm), ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả
một số tiền lớn ( số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như

Trong mỗi hợp đồng BHNT có thể có 4 bên tham gia: người bảo hiểm, người
tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng quyền lợi bảo
hiểm.
1.1.3.4 Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy
quá trình định phí rất phức tạp:
Theo Jean- Claude Harrari:” sản phẩm BHNT không gì hơn chính là
kết quả của một tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm đến công chúng”. Trong
tiến trình này, nhà BH phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm như:
chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng.Tuy nhiên những khoản chi phí đó
mới chỉ là một phần tạo nên giá cả sản phẩm BHNT, một phần chủ yếu khác
lại phụ thuộc vào các yếu tố:
 Độ tuổi của người được bảo hiểm
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
9
Luận văn tốt nghiệp
 Tuổi thọ bình quân của con người
 Số tiền bảo hiểm
 Thời hạn thanh toán
 Phương thức thanh toán
 Lãi suất đầu tư
 Tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền
Những khoản chi này là những khoản chi thực tế phát sinh và thực
chất nó là những khoản chi phí đầu vào được hạch toán một cách chi tiết, đầy
đủ và chính xác để phục vụ trong quá trình định giá. Thế nhưng khi định gía
phí BHNT, một số yếu tố nêu trên phải giả định, như: tỷ lệ chết, tỷ lệ huỷ bỏ
hợp đồng, tỷ lệ lạm phát… Vì thế quá trình định phí rất phức tạp, đòi hỏi phải
nắm vững đặc trưngcủa mỗi loại sản phẩm, phân tích chiều hướng phát triển
của mỗi sản phẩm trên thị trường.
1.1.3.5. Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều
kiện kinh tế xã hội nhất định:

hạn không có trách nhiệm phải chi trả tiền bảo hiểm.
Đặc điểm :
 Thời hạn bảo hiểm xác định
 Trách nhiệm và quyền lợi mang tính chất tạm thời
 Mức phí bảo hiểm thấp vì không phải lập nên quĩ tiết kiệm cho người
được bảo hiểm
Mục đích:
 Đảm bảo các chi phí mai táng chôn cất
 Bảo trợ cho gia đình và người thân trong một thời gian ngắn
 Thanh toán các khoản nợ nần về những khoản vay hoặc thế chấp của
người được bảo hiểm.
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
11
Luận văn tốt nghiệp
1.1.4.2 BH sinh kỳ:
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chi
trả những khoản tiền đều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong
suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm. Nếu người được bảo hiểm vẫn còn
sống trong suốt thời gian được bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ chi trả tiền bảo
hiểm ghi trong hợp đồng. Sản phẩm bảo hiểm này được thiết kế dựa trên nhu
cầu của người được bảo hiểm, sau một thời gian nhất định có thể nhận được
một khoản tiền để chi trả cho các nhu cầu.
Đặc điểm :
 Trợ cấp định kỳ cho người được bảo hiểm trong thời gian xác định
hoặc cho đến khi chết
 Phí bảo hiểm đóng một lần
 Nếu trợ cấp định kỳ đến khi chết thì thời gian không xác định
Mục đích:
 Đảm bảo thu nhập cố định sau khi về hưu hay tuổi cao sức yếu
 Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào con cái hay phúc lợi xã hội khi về già

1.2 Đại lý BHNT
1.2.1Vai trò của đại lý trong kinh doanh BHNT
1.2.1.1 Đặc điểm của sản phẩm BHNT
1.2.1.1.1 Đặc điểm chung của sản phẩm dịch vụ:
 Tính vô hình
Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình – người mua không thể cảm nhận
được sản phẩm bảo hiểm thông qua các giác quan của mình mà khách hàng
chỉ có thể nhận biết được các yếu tố hữu hình như: các tờ giấy in biểu tượng
công ty, tên sản phẩm, bản hợp đồng…
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
13
Luận văn tốt nghiệp
Tính vô hình của sản phẩm bảo hiểm làm cho việc giới thiệu, chào bán
sản phẩm trở nên khó khăn hơn. Nếu như đa số các sản phẩm hữu hình có thể
được trưng bày trong các cửa hàng, được vẽ trên các biểu hiện hay tờ rơi
quảng cáo… do đó các sản phẩm này mang đến cho khách hàng “ cảm giác
vật chất”; khách hàng dễ dàng nhận thấy được sự tồn tại của sản phẩm.
Nhưng khi mua các sản phẩm bảo hiểm, người mua chỉ nhận được những lời
hứa, lời cam kết về những đảm bảo vật chất trước các rủi ro. Cũng chính vì
tính vô hình của sản phẩm bảo hiểm làm cho khách hàng khó nhận thấy sự
khác nhau giữa các sản phẩm BH của một công ty hay giữa các sản phẩm
cùng loại của các công ty. Chính vì thế một người đại lý chuyên nghiệp phải
biết cách giải thích để khách hàng có thể thấy rõ sự khác biệt và ưu điểm nổi
trội của sản phẩm của công ty so với của các công ty khác.
 Tính không thể tách rời và thể cất giữ
SPBH không thể tách rời – tức là việc tạo ra sản phẩm dịch vụ bảo hiểm
trùng với việc tiêu dùng sản phẩm đó. Thêm vào đó, SPBH cũng không thể
cất trữ được – có nghĩa là khả năng thực hiện dịch vụ bảo hiểm vào một thời
điểm nào đó nào đó sẽ không thể cất trữ vào kho dự trữ để sử dụng vào một
thời điểm khác trong tương lai.

phẩm “ được bán chứ không được mua”. Nói cách khác, SPBH là sản phẩm
của “ nhu cầu thụ động”, người tiêu dùng không chủ động tìm mua, mà chỉ
sau khi có các nỗ lực marketing của người bán. Nhưng trong thực tế hiện nay,
có nhiều DNBH thiết lập các trang web và bán bảo hiểm qua mạng. Điều này
minh chứng rằng người tiêu dùng coi SPBH là các sản phẩm thông thường –
do đó họ chủ động tìm kiếm để mua chứ không phải là các sản phẩm của nhu
cầu thụ động nữa.
 Sản phẩm bảo hiểm NT là sản phẩm của “ chu trình hạch toán
đảo ngược”
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
15
Luận văn tốt nghiệp
Trong các lĩnh vực kinh doanh khác, giá cả sản phẩm được xác định
dựa trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh thì trong lĩnh vực bảo hiểm, phí bảo
hiểm – giá cả của SPBH được xác định dựa trên những số liệu ước tính về
các chi phí có thể phát sinh trong tương lai như bồi thường ( trả tiền bảo
hiểm), chi hoa hồng, chi tái bảo hiểm… Trong đó, khoản chi chiếm tỷ trọng
lớn nhất là chi bồi thường ( trả tiền bảo hiểm). Khoản chi này được xác định
chủ yếu dựa trên số liệu thống kê quá khứ và các ước tính tương lai về tần
suất và qui mô tổn thất. Việc sử dụng số liệu thống kê trong quá khứ để xác
định giá cả cho SPBH trong tương lai đòi hỏi phải hết sức chặt chẽ nhằm
giúp doanh nghiệp có thể bù đắp các chi phí có thể phát sinh và thu được lợi
nhuận hợp lý.
 Sản phẩm bảo hiểm NT là sản phẩm có “ hiệu quả xê dịch”
Trong hoạt động kinh doanh, các DNBH có quyền thu phí của người
tham gia bảo hiểm hình thành nên quỹ bảo hiểm; sau đó nếu có các sự kiện
bảo hiểm xảy ra, DNBH mới phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường hay chi trả.
Do vậy, với việc thu phí trước, nếu không có hoặc ít rủi ro xảy ra, doanh
nghiệp sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn dự kiến. Ngược lại, nếu rủi ro xảy ra với
tần suất hoặc với qui mô lớn hơn dự kiến, DNBH có thể thua lỗ. Điều này có

trong quá trình họ lựa chọn sản phẩm BHNT mà họ sẽ mua.
Đối với hình thức này thì phần lớn số đông khách hàng đã hiểu biết về
bảo hiểm và tác dụng của bảo hiểm, họ có nhu cầu tham gia vì thế công việc
ký kết hợp đồng diễn ra rất đơn giản và tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng rất thấp. Mặt
khác theo cách này thì công ty có thể trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, tham
khảo ý kiến của khách hàng về sản phẩm, biểu phí, chất lượng dịch vụ… của
công ty.
Hiện nay có 3 hình thức phân phối trực tiếp sau:
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
17
Luận văn tốt nghiệp
 Bên bán chủ động: do công ty bảo hiểm trực tiếp đưa ra phương
thức phân phối, chủ yếu thông qua hình thức điện thoại hoặc gửi qua bưu
điện. Hình thức này áp dụng đối với những sản phẩm đơn giản, dễ quảng cáo
hoặc giải thích qua điện thoại.
 Bên mua chủ động:
- Điện thoại: thông qua chương trình điện thoại tư vấn miễn phí, khách
hàng có thể chủ động gọi đến công ty bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ tư vấn
và cung cấp thông tin liên quan.
- Mạng: trong thời đại ngày nay việc tìm kiếm thông tin là quá dễ
dàng thông qua các trang mạng vì thế người tiêu dùng nếu có nhu cầu có thể
chủ động tìm kiếm thông tin trên mạng.
 Phân phối thông qua các quầy hàng: hiện tại các quầy hàng tại
các sân bay lớn đã trở thành nơi phân phối cạnh tranh cho các sản phẩm bảo
hiểm du lịch của các công ty bảo hiểm.
1.2.1.2.2 Kênh phân phối gián tiếp
Kênh phân phối gián tiếp là kênh phân phối truyền thống của các
DNBH, nó mang lại kết quả cao cho DNBH, theo cách này thì khách hàng
không phải trực tiếp đến công ty mua bảo hiểm mà thông qua một hệ thống
trung gian được trang bị đầy đủ về kiến thức bảo hiểm cũng như các kiến thức

lực lượng đại lý, do đó đại lý có một vai trò hết sức quan trong đối với các
DNBH nói chung và các DNBHNT nói riêng
1.2.1.3 Vai trò của đại lý BHNT:
Sự phát triển của BHNT có tác dụng rất lớn đối với mỗi cá nhân, xã hội
và toàn đất nước. Đó là công việc vô cùng quan trọng. Nhưng chúng ta cũng
biết rằng, cáI mà BHNT mang đến là một sản phẩm đảm bảo vô hình, nó
không giống những sản phẩm thông thường khác, được bầy la liệt ở các cửa
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
19
Luận văn tốt nghiệp
hàng mà bất cứ ai cũng có thể mua được. Thông thường người ta cũng không
thấy có nhu cầu với nó. Vì vậy BHNT phải thông qua sự quảng cáo và giới
thiệu của người đại lý giúp khách hàng hiểu rõ hơn về sản phẩm. Do đó người
đại lý có vai trò vô cùng quan trọng trong nghành bảo hiểm , họ như là chiếc
cầu nối giữa khách hàng và công ty bảo hiểm. Vai trò này được thể hiện ở
một số điểm sau:
1.2.1.3.1 Đối với DNBH :
- Đại lý là lực lượng tiếp thị có hiệu quả cao nhất, giúp doanh nghiệp
bán sản phẩm. Thông qua bán hàng, đại lý giải thích cho khách hàng tiềm
năng những điều họ chưa biết hoặc chưa rõ về sản phẩm cũng như thương
hiệu của DNBH. Chính nhờ lực lượng đại lý hùng hậu mà công ty có thể đưa
sản phẩm của mình tới với người tiêu dùng và để người tiêu dùng biết đến
thương hiệu của công ty. Từ đó nhằm nâng cao uy tín và hình ảnh cho công ty
mình trong con mắt của người tiêu dùng
- Đại lý cũng là người trực tiếp nhận các thông tin phản hồi về sản
phẩm bảo hiểm từ phía khách hàng. Vì vậy những ý kiến họ đóng góp với
DNBH về các vấn đề chính sách sản phẩm, phát hành và quản lý hợp đồng…
rất có giá trị thực tế, giúp DNBH nghiên cứu, điều chỉnh kịp thời để nâng cao
tính cạnh tranh.
1.2.1.3.2 Đối với khách hàng:

đảm nhận tất cả các khâu công việc và phải đáp ứng yêu cầu rất cao, phải có
sự hiểu biết chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ cũng như trình độ quản lý.
 Tổng đại lý: tổng đại lý đảm đương việc bán sản phẩm BHNT
một cách độc lập. Tổng đại lý nắm quyền tuyển dụng và điều hành một số đại lý.
 Đại lý uỷ quyền: là đại lý hoạt động dưới sự uỷ quyền của công ty
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
21
Luận văn tốt nghiệp
1.2.2.2.2 Căn cứ theo thời gian hoạt động:
Cách phân loại này giúp DNBH quản lý tốt hơn hoạt động bán hàng
của đại lý, từ đó có những chính sách hợp lý để khuyến khích hoạt động bán
hàng của đại lý. Căn cứ theo thời gian hoạt động có thể chia đại lý thành 2
loại:
 Đại lý chuyên nghiệp: là loại hình đại lý chỉ hoạt động cho công
ty BHNT, ngoài ra họ không tiến hành hoạt động nào khác. Đại lý chuyên
nghiệp chịu sự quản lý trực tiếp của tổ đại lý và trưởng phòng khai thác
BHNT đồng thời họ phải tuân thủ mọi qui định của công ty.
 Đại lý bán chuyên nghiệp: là đại lý không chỉ làm công việc khai
thác bảo hiểm cho công ty BHNT mà họ còn làm các công việc khác. Họ
không thuộc một tổ chức hay một phòng ban nào cả và họ không phải tuân
thủ theo một cách nghiêm ngặt các qui định của công ty như đại lý chuyên
nghiệp.
1.2.2.2.3 Căn cứ vào nhiệm vụ chủ yếu:
Cách phân loại này giúp DNBH dễ dàng hơn trong việc xác định kết
quả kinh doanh của các đại lý bảo hiểm. Từ đấy đưa ra những chính sách phát
triển phù hợp hơn đối với hoạt động khai thác của đại lý bảo hiểm. Theo cách
phân loại này ta có thể phân chia đại lý thành 2 loại:
 Đại lý chuyên khai thác: là đại lý chuyên thực hiện nhiệm vụ
khai thác hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho công ty BHNT.
 Đại lý chuyên thu: là đại lý chỉ có nhiệm vụ thu phí BHNT cho

Để ký kết hợp đồng bảo hiểm, trước hết cần xác định các nhu cầu của
khách hàng qua việc phân tích rủi ro. Phân tích rủi ro là phương pháp chính
để xác định các nhu cầu bảo hiểm của khách hàng và có vai trò quan trọng
trong việc bán bảo hiểm. Qua phân tích này, ĐLBHNT có thể thuyết phục
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
23
Luận văn tốt nghiệp
khách hàng tốt hơn và đánh giá rủi ro chính xác để định phí bảo hiểm. Sau khi
khách hàng đồng ý mua SPBHNT thì ĐLBHNT cần phải thực hiện các
nghiệp vụ để ký kết hợp đồng bảo hiểm.
1.2.3.1.3 Thu phí bảo hiểm, cấp biên lai hoặc các giấy tờ
khác theo sự uỷ quyền và hướng dẫn của DNBH
Các đại lý được cấp HĐBH có thể lập hoá đơn và thu phí bảo hiểm của
khách hàng. Sau khi khấu trừ các khoản hoa hồng của mình, đại lý gửi số phí
bảo hiểm lại cho DNBH.
Nếu DNBH cấp hợp đồng bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm thường
gửi hoặc thanh toán phí trực tiếp cho DNBH mà không cần qua đại lý. Trong
hình thức thanh toán này. DNBH gửi hoá đơn thu phí đến người tham gia bảo
hiểm, sau đó thu phí và gửi hoa hồng cho đại lý.
1.2.3.1.4 Chăm sóc khách hàng:
Sau khi kí kết hợp đồng bảo hiểm, đại lý phải thường xuyên giữ quan
hệ với khách hàng, tư vấn kịp thời cho khách hàng muốn thay đổi hoặc bổ
sung vào HĐ BHNT nhằm đảm bảo quyền lợi và thoã mãn nhu cầu của họ.
Đồng thời phản hồi ý kiến từ phía khách hàng cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, đại lý phải tham gia vào việc giải quyết
khiếu nại phát sinh từ đơn bảo hiểm do họ bán ra trong một chừng mực nhất
định. Trong một số trường hợp, đại lý chỉ cung cấp cho người tham gia bảo
hiểm địa chỉ liên hệ của phòng giải quyết khiếu nại hoặc nhân viên giải quyết
khiếu nại. Nhưng cũng có trường hợp đại lý thu thập thông tin liên quan đến
khiếu nại rồi gửi những thông tin này cho DNBH để DNBH thu xếp cho nhân

 Thông tin, quảng cáo sai sự thật về nội dung, phạm vi hoạt động
của DNBH, điều kiện và điều khoản bảo hiểm làm tổn hại đến quyền, lợi ích
hợp pháp của bên mua bảo hiểm.
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Lớp: BH 47A
25

Trích đoạn Quyền lợi và nghĩa vụ của đạilý bảo hiểm nhân thọ Vai trò của công tác tuyển dụng và đào tạo đạilý đối với công ty bảo hiểm nhân Công tác tuyển dụng ĐLBHNT Phương hướng phát triển kinh doanh chung: Đối với công tác tuyển dụng ĐLBHNT
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status