Kiểm định mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận và một số giải pháp nhằm tối đa hóa lợi nhuận tại Công ty Cổ phần KAD Việt Nam - Pdf 25

LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trải qua hơn 25 năm đổi mới với ba chặng đường phát triển: giai đoạn 1986 –
1990, giai đoạn 1991 – 1996 và từ 1996 đến nay. Mỗi giai đoạn nền kinh tế nước ta đã
gặt hái được những thành quả hết sức quan trọng. Việt Nam từ một nước theo chế độ
tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Thực tiễn đã cho thấy công
cuộc đổi mới của Việt Nam phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện cụ thể
trong nước. Những thành công của công cuộc đổi mới đã thực sự làm thay đổi bộ mặt
của đất nước theo hướng tích cực, tạo tiền đề to lớn cho sự phát triển ở hiện tại cũng
như trong tương lai. Trên cơ sở những thành tựu kinh tế đã đạt được và những bài học
được rút ra trong tiến trình thực hiện đổi mới, chính phủ và nhân dân Việt Nam đã và
đang tiếp tục đẩy mạnh công tác đổi mới trong thời kỳ hiện đại, thực hiện công nghiệp
hóa hiện đại hóa, thay đổi cơ cấu kinh tế, tăng cường sức cạnh tranh của hàng hóa Việt
Nam trên thị trường nội địa cũng như quốc tế, thu hẹp khoảng cách phát triển với các
nước trong khu vực và thế giới.
Sự phát triển của nền kinh tế trong nước, sự hội nhập với nền kinh tế trong nước
và thế giới kéo theo sự xuất hiện của các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế
khác nhau tạo ra một môi trường cạnh tranh hết sức khốc liệt. Để có thể tồn tại và phát
triển bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải xây dựng cho mình những kế hoạch với
những mục tiêu cụ thể nhằm nắm bắt những cơ hội đồng thời có thể chủ động ứng phó
với những khó khăn. Đối với hầu hết các doanh nghiệp lợi nhuận luôn là mục tiêu
hàng đầu, nó chi phối mọi bước đi của doanh nghiệp. “Làm thế nào để đạt lợi nhuận
tối ưu?” luôn là câu hỏi lớn mà các nhà quản trị đặt ra. Lợi nhuận tác động đến mọi
mặt của doanh nghiệp, từ nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, tiền lương cho
công nhân viên cũng như khả năng cạnh tranh, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
Lợi nhuận ở mỗi doanh nghiệp liên quan trực tiếp tới doanh thu mà doanh nghiệp đó
thu được. Ở một số doanh nghiệp luôn chủ trương tối đa hóa doanh thu để tối đa hóa
lợi nhuận, tuy nhiên trong một số trường hợp lợi nhuận không tăng cùng chiều với
doanh thu. Như vậy để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận một cách hiệu quả nhất
mỗi doanh nghiệp cần phải hiểu và giải quyết được mối quan hệ giữa doanh thu và lợi

chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn,… trên cơ sở lý luận tác giả đã phân tích thực trạng
sản lượng doanh thu của Công ty Siêu thị Hà Nội trong những năm 2005-2007, đánh
giá mối quan hệ giữa sản lượng và doanh thu thực tế. Từ đó chỉ ra mức sản lượng tối
ưu cho sản phẩm Colgate palmovi để tăng doanh thu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh
doanh của công ty.
- Tác giả Trần Thị Thanh Huyền (2009), “Ước lượng và dự báo doanh thu mặt
hàng đồ uống của công ty rau quả và nông sản Việt Nam tại thị trường miền bắc đến
năm 2015”. Đây cũng là một đề tài có liên quan đến yếu tố doanh thu của doanh
nghiệp, tác giả cũng đã nêu ra được những lý luận cơ bản về doanh thu như: khái
niệm; công thức tính doanh thu; các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu; vai trò của
doanh thu. Tuy nhiên, mục tiêu nghiên cứu của đề tài này lại hoàn toàn khác với đề tài
trên. Tác giả trên cơ sở lý luận về doanh thu đã áp dụng mô hình kinh tế lượng vào
thực tiễn, ước lượng doanh thu mặt hàng đồ uống công ty rau quả và nông sản Việt
Nam tại thị trường miền bắc đến năm 2015. Cụ thể, với phương pháp nghiên cứu: thu
thập số liệu và xử lý số liệu (tổng hợp, phân tích chỉ số, luận giải, đối chiếu so sánh,
phân tích hồi quy) tác giả xây dựng mô hình kinh tế lượng nhằm lượng hóa những tác
động ảnh hưởng của các nhân tố đến doanh thu mặt hàng đồ uống, kiểm định ý nghĩa,
phân tích mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố. Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm
tăng doanh thu mặt hàng đồ uống và nâng cao chất lượng công tác dự báo.
- Tác giả Vũ Thị May (2010), “Mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận. Một số
giải pháp tối thiểu hóa chi phí để tối đa hóa lợi nhuận tại Công ty Cổ phần phát triển
kỹ thuật công nghệ EDH”. Đề tài này lại liên quan tới vấn đề lợi nhuận và chi phí của
doanh nghiệp. Trên cơ sở lý luận về chi phí và lợi nhuận cũng như mối quan hệ giữa
chi phí và lợi nhuận tác giả đã tiến hành phân tích thực trạng chi phí và lợi nhuận tại
công ty cổ phần phát triển kỹ thuật công nghệ EDH, xây dựng các mô hình ước lượng
hàm cầu, hàm chi phí biến đổi bình quân, hàm sản lượng. Dựa vào kết quả ước lượng
rút ra các kết luận về mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận từ đó đề ra các giải pháp
tối thiểu hóa chi phí để tối đa hóa lợi nhuận tại Công ty Cổ phần phát triển kỹ thuật
công nghệ EDH.
- Tác giả Phạm Thị Ngân (2010), “Lợi nhuận- các biện pháp nâng cao lợi nhuận

ty Cổ phần KAD Việt Nam”. Trên cơ sở các lý luận đưa ra tác giả sử dụng các phương
pháp thu thập các số liệu, tiến hành xử lý số liệu, đối chiếu so sánh, xây dựng mô hình
ước lượng về mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận cho Công ty Cổ phần KAD
Việt Nam. Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho công ty.
Đề tài được tác giả dựa trên cơ sở lý luận về doanh thu, lợi nhuận và chi phí
giống như một số đề tài trước đây đã được nghiên cứu. Cũng hướng tới mục tiêu là
đưa ra các giải pháp nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho một công ty, tuy nhiên góc tiếp cận
của tác giả ở đây không đi từ mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí hay lợi nhuận và
chi phí mà tác giả tập trung đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ giữa doanh thu và lợi
nhuận. Mối quan hệ sẽ được tác giả xem xét thông qua mô hình ước lượng hàm lợi
nhuận và mô hình hàm doanh thu. Từ số liệu thực tế về doanh thu, lợi nhuận của Công
ty Cổ phần KAD Việt Nam và một số yếu tố cần thiết khác tác giả đã tiến hành kiểm
định mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận, rút ra các kết luận cần thiết. Cuối cùng
đưa ra hướng giải pháp giúp cho công ty hoạt động hiệu quả hơn.
4. MỤC TIÊU ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
• Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là kiểm định mối quan hệ giữa doanh thu và lợi
nhuận thu được trong lĩnh vực cung cấp và gia công nhôm ốp, kính tường tại Công ty
Cổ phần KAD Việt Nam trên cơ sở lý luận về doanh thu, lợi nhuận, chi phí. Đồng
thời, từ các kết quả ước lượng được rút ra các kết luận từ đó đưa ra các giải pháp
nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho Công ty Cổ phần KAD Việt Nam.
• Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là doanh thu, lợi nhuận tại Công ty Cổ phần
KAD Việt Nam.
• Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất mà cụ thể là
doanh thu và lợi nhuận thu được của Công ty Cổ phần KAD Việt Nam.
- Về thời gian: giai đoạn 2009 – 2011, định hướng đến năm 2015.
- Về không gian: Công ty Cổ phần KAD Việt Nam
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2: Thực trạng doanh thu và lợi nhuận tại công ty cổ phần KAD Việt
Nam.
Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị nhằm tối đa hóa lợi nhuận tại công ty cổ
phần KAD Việt Nam.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH THU VÀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH
NGHIỆP
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH THU
1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh thu
1.1.1.1. Khái niệm
- Khái niệm:
Tổng doanh thu của một doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp đó có được
nhờ bán hàng hóa và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định, chẳng hạn như trong một
năm (Bộ giáo dục và đào tạo, 2008, tr.127).
- Công thức tính doanh thu:
TR = P.Q
Trong đó:
- TR là doanh thu
- P là giá bán một đơn vị hàng hóa
- Q là khối lượng sản phẩm tiêu thụ
Trường hợp doanh nghiệp bán nhiều loại sản phẩm hay nhiều mặt hàng thì tổng
doanh thu của doanh nghiệp chính bằng tổng doanh thu của từng mặt hàng.
TR =

=
n
i
ii
qp
1

thì tổng doanh thu có xu hướng giảm dần, đạt tới một mức sản lượng Q nào đó
doanh thu bằng 0.
1.1.2.2 . Doanh thu trung bình (AR)
Doanh thu trung bình là mức doanh thu tính trên một đơn vị sản phẩm bán ra,
bằng tổng doanh thu chia cho tổng đơn vị sản phẩm bán ra.
Công thức tính doanh thu trung bình:
AR = TR/Q
Trong đó: - AR là doanh thu trung bình
- TR là tổng doanh thu
- Q là khối lượng sản phẩm bán ra
1.1.2.3. Doanh thu cận biên (MR)
Doanh thu cận biên (MR) là mức thay đổi tổng doanh thu do tiêu thụ thêm một
đơn vị sản lượng.
Công thức tính: MR =
Q
TR


hoặc (MR = (TR)’
Q
)
Doanh thu biên cũng là một hàm số của sản lượng. Tại một sản lượng Q doanh
thu biên của đơn vị sản lượng cuối cùng chính là giá trị đạo hàm của hàm tổng doanh
thu tại mức sản lượng Q. Hay doanh thu biên chính là độ dốc của đường tổng doanh
thu tại mỗi điểm sản lượng.
Đối với mỗi hãng khác nhau thì đường doanh thu cận biên lại có hình dáng khác
nhau. Cụ thể:
- Hãng định giá: hãng định giá là hãng tự quyết định giá bán cho sản phẩm của
mình tương ứng với lượng sản phẩm mà họ sản xuất ra. Các hãng có sức mạnh thị
trường, họ có thể tự quyết định được mức giá mà mình bán ra hoàn toàn không phụ

phụ thuộc vào giá bản thân hàng hóa đó mà còn phụ thuộc vào giá của hàng hóa có
liên quan. Gồm hai loại: hàng hóa thay thế, hàng hóa bổ sung.
- Hàng hóa thay thế: là hàng hóa có thể sử dụng thay thế cho hàng hóa khác cụ
thể là có thể thay thế cho hàng hóa mà doanh nghiệp bán. Khi giá của một loại hàng
này thay đổi thì cầu đối với loại hàng hóa kia cũng thay đổi. Mối quan hệ ở đây là mối
quan hệ cùng chiều, tức là khi giá của hàng hóa thay thế giảm thì lượng hàng hóa
doanh nghiệp bán ra tăng lên và ngược lại (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi).
- Hàng hóa bổ sung: là hàng hóa được sử dụng đồng thời với hàng hóa khác.
Hàng hóa bổ sung cho hàng hóa doanh nghiệp bán ra là hàng hóa được sử dụng đồng
thời với hàng hóa đó. Mối quan hệ ở đây là mối quan hệ ngược chiều, tức là khi giá
của hàng hóa bổ sung với hàng hóa mà doanh nghiệp bán ra giảm thì cầu đối với hàng
hóa doanh nghiệp bán ra tăng lên và ngược lại (trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi).
Thứ ba, thu nhập của người tiêu dùng (M). Thu nhập là một yếu tố quan trọng
xác định cầu. Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng.
Khi thu nhập tăng lên thì người tiêu dùng cần nhiều hàng hóa hơn và ngược lại. Tuy
nhiên, điều này phụ thuộc vào từng loại hàng hóa cụ thể mà mức độ thay đổi cầu sẽ
khác nhau:
- Các hàng hóa thông thường khi thu nhập tăng lên thì cầu tăng lên.
- Các hàng hóa thứ cấp thì khi thu nhập tăng lên thì cầu giảm đi.
Thứ tư, thị hiếu của người tiêu dùng (T). Thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của
người tiêu dùng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ. Thị hiếu là một yếu tố không thể quan
sát trực tiếp được, nó có ảnh hưởng lớn đến cầu của người tiêu dùng. Khi thị hiếu của
người tiêu dùng đối với hàng hóa mà doanh nghiệp bán ra tăng lên thì nhu cầu hay
khối lượng hàng hóa tiêu thụ sẽ tăng lên và ngược lại. Như vậy, thị hiếu của người tiêu
dùng và khối lượng hàng hóa tiêu thụ của doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều.
Thứ năm, kỳ vọng của người tiêu dùng (
e
P
). Cầu đối với hàng hóa và dịch vụ

=
'
)(PD
Q
x
D
Q
P
Trong đó:
-
D
x
E
là độ co giãn của cầu theo giá
- % dQ là phần trăm thay đổi của lượng cầu
- % dP là phần trăm thay đổi của giá hàng hóa
Mối quan hệ giữa tổng doanh thu và độ co giãn của cầu so với giá sẽ được xét
trong ba trường hợp. Ta có thể tóm tắt mối quan hệ giữa co giãn của cầu đối với giá và
tổng doanh thu qua phụ lục 4.
Qua phụ lục 4 ta có thể thấy rằng:
- Nếu cầu là cầu co dãn (
E
>1) tức là mức độ tăng của lượng cầu lớn hơn mức
độ tăng của giá, khách hàng phản ứng mạnh với sự thay đổi của giá. Như vậy, để tăng
doanh thu, doanh nghiệp nên giảm giá bán và ngược lại.
- Nếu cầu không co dãn (
E
<1) tức là sự thay đổi của lượng cầu nhỏ hơn sự thay
đổi của giá, mức độ phản ứng của khách hàng với sự thay đổi của giá là ít. Như vậy,
để tăng doanh thu doanh nghiệp nên tăng giá bán và ngược lại.

1.2 .1. Khái niệm
Theo PGS.TS. Cao Thúy Xiêm (2011, tr.132) nêu rõ “Lợi nhuận là phần chênh
lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của hãng”.
Lợi nhuận được định nghĩa một cách khái quát là phần chênh lệch giữa tổng
doanh thu và tổng chi phí (Bộ giáo dục và đào tạo, 2008, tr.127).
1.2.2. Công thức tính lợi nhuận
Tổng lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Hay π = TR – TC hoặc π = (P- ATC) x Q
Trong đó: π là tổng lợi nhuận
P là giá bán
ATC là chi phí đơn vị sản phẩm
Q là khối lượng sản phẩm bán ra
(P – ATC) là lợi nhuận đơn vị sản phẩm
1.2.3. Các nhân tố tác động đến lợi nhuận
Lợi nhuận là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu quả
của quá trình kinh doanh kể từ khi bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường, chuẩn bị và tổ
chức quá trình kinh doanh, đến khâu tổ chức bán hàng và dịch vụ cho thị trường. Nó
phản ánh cả về mặt lượng và mặt chất của quá trình kinh doanh (Bộ giáo dục và đào
tạo, 2008, tr.131).
Lợi nhuận của một doanh nghiệp chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố:
1.2.3.1. Giá cả, chất lượng yếu tố đầu vào
Giá cả, chất lượng của các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp như: nguyên vật
liệu, thiết bị, công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp có nguồn cung ứng nguyên vật liệu, thiết bị chất lượng tốt giá cả
hợp lý thì góp phần làm giảm chi phí sản xuất cho doanh nghiệp từ đó tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu các yếu tố đầu vào kém chất lượng hay giá quá cao
thì chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.2.3.2. Quy mô sản xất của doanh nghiệp
Quan hệ cung cầu về hàng hóa thay đổi sẽ làm cho giá thay đổi. Khi cung lớn
hơn cầu thì giá giảm, ngược lại khi cầu lớn hơn cung thì giá của hàng hóa tăng lên.

tăng khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường, góp phần tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp.
1.2.3.5. Các hoạt động nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ
Các hoạt động nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ như: hoạt động quảng cáo,
marketing, khuyến mại, các dịch vụ sau bán,… cũng có tác động tới lợi nhuận mà
doanh nghiệp thu được. Tất cả các hoạt động này sẽ góp phần giúp doanh nghiệp đẩy
nhanh quá trình tiêu thụ hàng hóa, tăng khả năng thu hồi vốn, rút ngắn vòng quay vốn
từ đó làm tăng lợi nhuận doanh nghiệp thu được.
Trên đây là một số nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của một doanh nghiệp, mỗi
doanh nghiệp cần có những phân tích cụ thể về mức độ tác động của các nhân tố đó,
rút ra các tác động tích cực cũng như tiêu cực để từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp
cho hoạt động của doanh nghiệp mình.
1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận thu
được trong kỳ với các yếu tố có liên quan đến việc tạo ra lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận
là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu tỷ
suất lợi nhuận cho phép ta so sánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các
thời kỳ khác nhau trong cùng một doanh nghiệp. Dưới đây là một số chỉ tiêu đánh giá
lợi nhuận của một doanh nghiệp:
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (hệ số lợi nhuận ròng):
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận
sau thuế và doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp.
Công thức xác định:
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên doanh thu
=
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
Doanh thu thuần trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thể hiện khi thực hiện 1 đồng doanh
thu trong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế.

Khi nhu cầu một mặt hàng nào đó cao hơn so với các mặt hàng khác nó sẽ tạo ra lợi
nhuận lớn, từ đó thu hút sự tham gia của nhiều nhà đầu tư cho mặt hàng này. Nguồn
cung sẽ tăng lên đáp ứng cầu.
Lợi nhuận không chỉ là nguồn thu nhập của doanh nghiệp mà nó còn là nguồn
vốn bổ sung rất lớn cho ngân sách nhà nước, khi các doanh nghiệp đóng thuế, phí, lệ
phí. Nó là nguồn tích luỹ quan trọng nhất để thực hiện tái sản xuất mở rộng và đáp ứng
các nhu cầu phát triển của xã hội.
1.3. NỘI DUNG VÀ NGUYÊN LÝ KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA DOANH
THU VÀ LỢI NHUẬN
1.3.1. Mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận
Lợi nhuận kinh tế được coi là phần thưởng cho khả năng kinh doanh – khả năng
và sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro, tổ chức các yếu tố sản xuất và tạo ra cái mà xã hội
mong muốn (PGS.TS. Cao Thúy Xiêm, 2011, tr 135).
Chính vì vậy mà mỗi một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều
mong muốn mình đạt được một lợi nhuận cao nhất. Lợi nhuận là chênh lệch giữa giữa
doanh thu và chi phí. Tổng doanh thu là tích số của giá và sản lượng, tổng chi phí là
tích số của chi phí trung bình và sản lượng.
Ta có : π = (P-ATC)Q hay π = TR(Q) – TC(Q)
Tổng doanh thu và tổng chi phí đều phụ thuộc vào sản lượng Q. Do đó, để đạt
được lợi nhuận tối ưu doanh nghiệp phải tìm cho mình mức sản lượng
*
Q
tại đó hiệu
số giữa TR và TC đạt max.
Ta có thể thấy rõ mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận qua đồ thị phụ lục 5.
- Tại mức sản lượng Q
1
, Q
2
thì đường TR cắt TC lần lượt tại 2 điểm A, B. Tại

lợi nhuận Y khi các biến tương ứng thay đổi trong khi các biến khác cố định)
Mô hình hàm lợi nhuận (1.1) thể hiện mối quan hệ giữa tổng lợi nhuận, doanh
thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty cổ
phần KAD . Từ mô hình ước lượng tác giả có thể rút ra được mối quan hệ giữa tổng
lợi nhuận với từng loại doanh thu, cụ thể tổng lợi nhuận sẽ phụ thuộc chủ yếu vào loại
doanh thu nào, sự thay đổi của mỗi loại doanh thu sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tổng
lợi nhuận của công ty.
Dấu của các hệ số :
- Dấu của hệ số b =
X
Y


thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ với tổng lợi nhuận. Quan hệ cùng chiều nếu mang dấu (+), quan hệ ngược
chiều nếu mang dấu (-).
- Dấu của hệ số c =
Z
Y


thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu hoạt động tài chính
với tổng lợi nhuận. Quan hệ cùng chiều nếu mang dấu (+), quan hệ ngược chiều nếu
mang dấu (-).
1.3.2.1. Mô hình hàm tổng doanh thu
- Hàm tổng doanh thu : K = d + iL + jM (1.2)
Trong đó: K là tổng doanh thu
L là lợi nhuận từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ
M là lợi nhuận từ hoạt động tài chính
d là hệ số chặn; i, j là hệ số góc (đo lường sự thay đổi của biến tổng

070001413142 Ngân hàng TMCP Hà Nội - Chi nhánh Cầu Giấy.
2.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần KAD Việt Nam
Công ty Cổ phần KAD Việt Nam được thành lập vào tháng 10 năm 2005, bởi
những thành viên còn rất trẻ và cùng chung chí hướng muốn xây dựng một thương
hiệu KAD với đầy đủ ý nghĩa của hai từ “Uy tín – Chất lượng”. Khi mới thành lập
hoạt động của công ty tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: cung cấp vật liệu và dịch vụ
hoàn thiện nội ngoại thất, cung cấp dịch vụ tư vấn thiết kế kiến trúc nội ngoại thất,
cung cấp thiết bị thông tin, là nhà phân phối chính thức thiết bị nghe nhìn của hãng
sony, sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Với mỗi lĩnh vực công ty đã gặt
hái được những thành quả hết sức to lớn góp phần đưa công ty lớn mạnh không chỉ về
quy mô mà còn cả tiềm lực tài chính. Năm 2011, công ty đã xây dựng thêm một nhà
máy nhôm kính tại Quanh Minh, Hà Nội. Nhà xưởng được lắp đặt những công nghệ
tiên tiến nhất nhằm hoàn thiện công đoạn gia công các sản phẩm nhôm kính trước khi
chuyển đi lắp đặt ở các công trình. Ngoài ra, công ty còn bố trí các văn phòng đại diện
ở trong nước cũng như ở nước ngoài như: văn phòng đại diện phía Nam tại số 32,
đường 16, Phố Đoàn Thị Điểm, Quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh; văn phòng đại diện
Campuchia tại No.18, Street 47 & 48 Sangkat Srass Chork Khanh Doun Penh. Hiện
nay, đội ngũ cán bộ công nhân viên công ty vẫn đang không ngừng nỗ lực xây dựng
một thương hiệu KAD vững mạnh hơn nữa, không chỉ có thể cạnh tranh với các doanh
nghiệp trong nước mà cả với doanh nghiệp nước ngoài.
2.1.2. Các nhân tố tác động đến tình hình doanh thu và lợi nhuận tại Công ty KAD
2.1.2.1. Các nhân tố chủ quan
 Sản phẩm
Nhân tố sản phẩm đóng vai trò quan trọng quyết định đến doanh thu và lợi nhuận
của công ty. Lĩnh vực hoạt động của Công ty Cổ phần KAD Việt Nam rất đa dạng. Tuy
nhiên lĩnh vực chính của công ty là cung cấp và gia công nhôm ốp và kính tường. Mỗi
năm công ty thu được doanh thu, lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động cung cấp nhôm ốp,
kính tường cho các công trình xây dựng. Với mục tiêu “Uy tín - Chất lượng” công ty
vẫn luôn không ngừng phát triển hơn nữa sản phẩm của mình đa dạng hơn về chủng loại
và chất lượng luôn được đảm bảo.

học mới chỉ có 60 người chiếm gần 14% tổng số lao động. Đặc biệt, trong 60 lao động
này mới chỉ có 4 thạc sỹ kinh tế, 12 kỹ sư kỹ thuật, 10 kỹ sư cơ khí còn 34 lao động
trình độ đại học chưa có lao động đạt trình độ tiến sỹ. Ngoài ra, lực lượng lao động
phổ thông vẫn còn chiếm tỷ lệ lớn với 90 người. Với lực lượng lao động hiện nay đã
đáp ứng được nhu cầu hiện tại của công ty, tuy nhiên trong thời gian tới với mục tiêu
mở rộng thị trường thì nhu cầu về lao động sẽ tiếp tục tăng đặc biệt là lao động có
trình độ quản lý. Công ty cần có biện pháp để luôn đảm bảo cho hoạt động sản xuất
kinh doanh hiệu quả.
 Khoa học kỹ thuật công nghệ
Cùng với vai trò quan trọng của lực lượng lao động thì các trang thiết bị máy
móc công nghệ cũng đóng vai trò không nhỏ đối với doanh thu, lợi nhuận hằng năm
của Công ty KAD. Một nguồn vốn đầu tư tương đối lớn cho hệ thống máy móc, thiết
bị hiện đại cho hoạt động sản xuất. Việc kết hợp giữa lực lượng lao động có tay nghề
và trang thiết bị công nghệ hiện đại sẽ giúp cho công ty tạo ra được các sản phẩm có
chất lượng tốt nhất, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Từ đó tạo điều kiện cho công ty
thu được doanh thu, lợi nhuận cao hơn.
2.1.2.2. Các nhân tố khách quan
 Điều kiện nền kinh tế vĩ mô
Ngay từ những năm 2005 đến nay nền kinh tế nước ta đã trải qua biết bao biến
động. Tương ứng trong thời gian này là sự ra đời và phát triển của Công ty Cổ phần
KAD Việt Nam. Bắt đầu với sự gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, sau đó là
liên tiếp các cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, tất cả gây ra những khó khăn cũng như
thuận lợi cho nền kinh tế trong nước nói chung và Công ty KAD nói riêng. Một nền
kinh tế ổn định với tốc độ tăng trưởng nhanh, lạm phát ở mức vừa phải sẽ giúp cho các
công ty hoạt động ổn định, tạo điều kiện tăng doanh thu và lợi nhuận. Ngược lại nếu
nền kinh tế trong nước kém ổn định, tăng trưởng thấp, lạm phát cao thì môi trường
phát triển của các doanh nghiệp bị hạn chế, khi đó doanh thu lợi nhuận giảm.
 Đối thủ cạnh tranh
Trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh của mình Công ty KAD có những đối thủ
cạnh tranh lớn đó là: Công ty Eurowindow, Công ty TNHH dịch vụ tổng hợp Hoàng

Qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2009 - 2011 ta
có thể thấy rằng doanh thu của công ty gồm 2 bộ phận. Thứ nhất là doanh thu từ hoạt
động bán hàng và cung cấp dịch vụ, thứ hai là doanh thu từ hoạt động tài chính. Doanh
thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng
doanh thu của công ty. Năm 2009 doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch
vụ chiếm tới 97% tổng doanh thu, doanh thu từ hoạt động tài chính chỉ chiếm 3% tổng
doanh thu. Năm 2010, doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng lên
đạt hơn 33,5 tỷ đồng, trong khi đó doanh thu từ hoạt động tài chính tăng nhẹ, tăng 87
tr.đ so với năm 2009. Đến năm 2011 doanh thu từ hoạt động tài chính và hoạt động
bán hàng cung cấp dịch vụ đều có xu hướng tăng. Trong khi doanh thu hoạt động tài
chính có mức tăng gấp đôi so với mức tăng năm 2010 so với 2009 thì doanh thu từ
hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ tăng với mức tăng thêm hơn 2 tỷ đồng,
bằng nửa mức tăng của năm 2010 so với 2009. Ta có thể thấy rõ sự thay đổi của tổng
doanh thu và từng loại doanh thu qua biểu đồ ở phụ lục 6.
Tương ứng với sự tăng lên của doanh thu thì lợi nhuận của công ty cũng có xu
hướng tăng dần qua các năm. Trong đó, cụ thể lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh
doanh của công ty năm 2009 đạt 11187,538 tr.đ, đến năm 2010 tăng lên 13000,023 tr.đ
và năm 2011 tăng lên đạt mức 15765,04 tr.đ. Lợi nhuận của công ty bao gồm lợi
nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác (lợi nhuận từ hoạt động tài
chính…). Tuy nhiên lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty luôn chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng lợi nhuận, lợi nhuận từ hoạt động tài chính chỉ chiếm một phần rất
nhỏ. Ta có thể thấy rõ sự biến động của lợi nhuận sau thuế của công ty qua biểu đồ
sau:
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện lợi nhuận và các loại lợi nhuận giai đoạn 2009-2011
Đơn vị tính: Triệu đồng
Nguồn: Phòng tài chính kế toán Công ty Cổ phần KAD.JSC
Qua hình 2.1 ta có thể thấy được sự tăng lên với tốc độ tương đối ổn định của lợi
nhuận sau thuế của công ty. Năm 2009 tổng lợi nhuận của công ty đạt 7948 tr.đ, trong
đó lợi nhuận bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt 7156,996 tr.đ, lợi nhuận từ hoạt động
tài chính chỉ chiếm 791,004 tr.đ. Đến năm 2010, tổng lợi nhuận của công ty tăng lên

Từ kết quả ước lượng hàm lợi nhuận ở bảng 2.1 ta có phương trình ước lượng về
hàm tổng lợi nhuận của Công ty Cổ phần KAD Việt Nam như sau:

Y
^
= -1096,441 + 7,3801X + 0,2095Z (3.1)
 Ý nghĩa kinh tế của các hệ số
-
^
a
= -1096,441 có nghĩa là khi doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp
dịch vụ và doanh thu từ hoạt động tài chính bằng 0 thì tổng lợi nhuận là -1096,441
tr.đ, lợi nhuận âm. Kết quả này phù hợp với lý thuyết kinh tế.
-
^
b
= 7,3801 mang dấu (+) thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ và tổng lợi nhuận của công ty. Cụ thể, khi doanh thu từ sản
phẩm nhôm kính ốp tường tăng lên 1tr.đ thì lợi nhuận tăng lên 7,3801 tr.đ
-
^
c
= 0,2095 mang dấu (+) thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa doanh thu hoạt
động tài chính và tổng lợi nhuận. Cụ thể, doanh thu hoạt động tài chính tăng 1tr.đ thì
lợi nhuận tăng 0,2095 tr.đ
 Kiểm định mối quan hệ giữa tổng lợi nhuận và các loại doanh thu với mức ý
nghĩa α = 5%
- Xét bài toán 1 :



1
Vậy ta có thể kết luận doanh thu hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ có ảnh
hưởng tới tổng lợi nhuận của công ty. Do
^
b
= 7,3801 mang dấu (+) nên đây là mối
quan hệ cùng chiều.
- Xét bài toán 2 :



>
=
0:
0:
1
0
cH
cH
Miền bác bỏ : W
α
=
{ }
9
05,0
: ttt
tntn

mà ta có t
9

là 0,0083 < 0,05
^
b
có ý nghĩa về mặt thống kê với
mức ý nghĩa
α
= 5%
- Giá trị P_value của
^
c
là 0,0424 < 0,05
^
c
có ý nghĩa về mặt thống kê với mức
ý nghĩa
α
= 5%
Như vậy với mức ý nghĩa
α
= 5% thì các ước lượng hệ số đều có ý nghĩa về mặt
thống kê.
 Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Từ bảng 2.1 ta có R-squared = 0,9522 thì mô hình trên có thể biểu diễn chính xác
tới 95,22 % tức là 95,22 % tổng lợi nhuận của công ty phụ thuộc vào doanh thu từ sản
phẩm nhôm kính ốp tường và doanh thu hoạt động tài chính, còn 4,78 % lợi nhuận của
công ty phụ thuộc vào các yếu tố khác.
Từ phương trình (3.1) rút ra các phương trình tương ứng :

^
X


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status