Một số vấn đề triết học về nhân cách - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
٭٭٭٭٭ ٭٭٭٭
PHẠM THU TRANG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC
VỀ NHÂN CÁCH
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
٭٭٭٭٭ ٭٭٭٭

1.2. Quan điểm về con người, nhân cách trong triết học Mác 19
1.3. Quan điểm về nhân cách của Luyxiêng Sevơ (Lucien Seve) 33
1.4. Quan điểm về nhân cách của A. N. Lêônchiep 43
CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG NGHIÊN CỨU TRIẾT
HỌC VỀ NHÂN CÁCH 58
2.1. Khái niệm nhân cách 58
2.2. Mối quan hệ giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong nhân cách . 69
2.3. Về sự hình thành và phát triển nhân cách 82
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO. 90

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân cách trước hết là đối tượng của khoa học tâm lý. Trong tâm lý học,
vấn đề nhân cách được đánh giá là vấn đề quan trọng bậc nhất và việc nghiên
cứu nó thường gặp nhiều khó khăn nhất vì nhiều lý do. Song, nhân cách cũng là
khách thể nghiên cứu của nhiều khoa học xã hội và nhân văn khác như đạo đức
học, giáo dục học, xã hội học, luật học Trước những năm 70 (thế kỷ XX), ở
Liên Xô, các nhà khoa học chủ yếu đã phân tích, tiếp cận nhân cách từ góc độ
của tâm lý học. Hiện nay, ở các nước phương Tây và ở các nước thuộc hệ thống
Xô Viết cũ đã hình thành nhiều khuynh hướng, học thuyết, cách tiếp cận khác
nhau về vấn đề này.
Trong số các khuynh hướng, các cách tiếp cận đó, việc người nghiên cứu

còn rất sơ khai. Trong khi có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra liên quan
đến nhân cách con người Việt Nam hiện nay cần phải có những lời giải đáp
thoả đáng. Sau hơn hai mươi năm Đổi mới, trên các phương tiện thông tin đại
chúng, người ta có thể bắt gặp rất nhiều hiện tượng phản ánh sự thay đổi tích
cực trong nhân cách con người. Tuy nhiên, bên cạnh những hiện tượng tích cực
đó, tại thời điểm này, nhiều hiện tượng tiêu cực liên quan đến sự suy thoái đạo
đức, làm biến đổi, thậm chí, làm méo mó nhân cách con người đang xuất hiện
dường như nhiều hơn và có phần nghiêm trọng hơn. Trong giáo dục nhân cách
cho học sinh, sinh viên, nhiều vấn đề như: thầy, cô giáo lợi dụng học trò, giáo
viên mầm non dùng bạo lực với trẻ, người học chạy bằng, mua điểm số, v.v…
đang trở thành mối quan tâm lớn của toàn xã hội. Việc định hướng nhân cách
cho tầng lớp thanh thiếu niên, cho giới trẻ cũng đang gặp nhiều khó khăn.
Ngoại tình, tham nhũng, hối lộ, chạy chức, chạy quyền… là những hiện tượng
hàng ngày, hàng giờ các em được chứng kiến, thậm chí, đó còn là những hiện
tượng nảy sinh từ chính gia đình các em, từ những người làm cha, làm mẹ,
những người làm gương cho chúng. Vậy thì, những mẫu hình nhân cách như
thế nào sẽ định hướng cho tầng lớp này? Những giá trị nào được coi là chuẩn
mực phù hợp với thời đại? Những yếu tố nội sinh hay ngoại sinh đang tác động

3
mạnh hơn lên ý thức, nhân cách của giới trẻ? Nhìn chung, sự thay đổi, biến đổi
nhân cách người Việt như vậy có phải là tất yếu hay không? Sự biến đổi đó do
những nguyên nhân nào? Làm thế nào để khắc phục những tác động, ảnh
hưởng tiêu cực, duy trì và phát huy những tác động, ảnh hưởng tích cực?
Xuất phát từ những thực tế vừa đề cập ở trên, có thể thấy, việc lựa chọn
cách tiếp cận và quan điểm thích hợp về nhân cách làm cơ sở để giải đáp những
vấn đề đang đặt ra cả về lý luận và thực tiễn nghiên cứu nhân cách hiện nay đòi
hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu và bổ sung cho hoạt động lý luận. Những
yêu cầu này, cùng với mong muốn có thể giải đáp những băn khoăn và hy vọng
có được một cái nhìn bao quát, hệ thống về vấn đề nhân cách để từ đó có thể

tâm lý. Vấn đề nhân cách được trình bày trong chương 5 “hoạt động và nhân
cách”. Tại đây, tác giả đã xem xét, phân tích nhân cách như là đối tượng nghiên
cứu của tâm lý học, phân biệt 2 khái niệm cá nhân và nhân cách. Từ đó, tác giả
cũng chỉ ra hoạt động là cơ sở của nhân cách, phân tích các yếu tố và xác lập
mối quan hệ giữa động cơ, cảm xúc và nhân cách, phần cuối cùng nêu lên quá
trình hình thành nhân cách.
Cuốn “Chủ nghĩa xã hội và nhân cách” [6 và 7], gồm 2 tập, là công trình
chuyên khảo về đề tài nhân cách cũng đã được dịch và xuất bản. Lấy xuất phát
điểm là đề cao và bảo vệ học thuyết Mác-xít về nhân cách từ đó giải đáp những
vấn đề liên quan tới sự phát triển nhân cách trong xã hội xã hội chủ nghĩa là
những nội dung cơ bản được nghiên cứu và trình bày trong tác phẩm này. Ở
phương diện nào đó, có thể coi công trình là một lý luận tương đối hệ thống về
nhân cách trong đó một số vấn đề triết học cũng đã được nêu lên.
Ngoài ra, cũng có một số bài viết là tài liệu dịch thuộc hệ đề tài này như:
“Tiến tới xây dựng lý luận triết học về cá nhân” của M. X. Cagan [4], “Chủ
nghĩa Mác và cá nhân” của Adam Schaff [40], “Về tính toàn vẹn của cá nhân”
của V. A. Phanaxêep [37]… Trong các tài liệu dịch đó, đối tượng chính được
đề cập đến là “cá nhân”, còn “nhân cách” được nói đến không nhiều. Tuy
nhiên, khái niệm “cá nhân” ở đây nhiều khi được luận giải như là “nhân cách”.
Vì vậy, khi tiếp cận với nguồn tài liệu này người thực hiện đề tài không khỏi
băn khoăn và đặt ra cho mình nhiệm vụ quan trọng cần giải quyết trong đề tài,
đó là phải phân định một cách chi tiết, tường minh về mặt nội hàm các khái
niệm: cá nhân, nhân cách, cá tính, cá thể, cái đơn nhất, tính không lặp lại, bản
sắc, tính độc đáo để sử dụng hợp lý và tránh những nhầm lẫn đáng tiếc.

số La Mã (như I, II,…) sau dấu phẩy cũng chỉ tập của tài liệu trích. Bên cạnh đó, trong ngoặc vuông khi trích dẫn các số liên tục liền nhau
được ngăn cách bởi dấu chấm phẩy (;) đó là số thứ tự của các tài liệu tham khảo cùng được trích dẫn.

5
Đặc biệt, không thể không nhắc tới học giả người Pháp Luyxiêng Sevơ

Ở nước ta, các khái niệm cá nhân, nhân cách được sử dụng khá phổ biến
trong các nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn. Song, về cơ bản, vấn đề
nhân cách chủ yếu mới chỉ được tiếp cận dưới góc độ của khoa học tâm lý. Các
nghiên cứu xã hội học đo lường giá trị nhân cách đã bước đầu được thực hiện
nhưng chưa nhiều. Có một số công trình chuyên khảo tiếp cận nhân cách từ góc
độ tâm lý học đã được xuất bản như:
- Tâm lý học nhân cách: một số vấn đề lí luận [2]
- Vấn đề nhân cách trong tâm lý học ngày nay [36]
- Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách [14]
Đúng như nhan đề của các tài liệu, hệ thống các vấn đề lý luận, các quan
điểm, lý thuyết về nhân cách đã được các tác giả giới thiệu và khái quát một
cách tương đối có hệ thống. Bên cạnh đó, các công trình, tài liệu nghiên cứu
tâm lý học đại cương về con người của các tác giả Đỗ Long, Phạm Minh Hạc,
v.v cũng đã đề cập đến những vấn đề nhân cách mới được đặt ra, từ đó cũng
gợi mở các hướng nghiên cứu khả thi và có ý nghĩa.
Trong những năm gần đây, nghiên cứu liên ngành đã thể hiện những thế
mạnh khá tích cực của nó. Công trình “Nghiên cứu giá trị nhân cách theo
phương pháp NEO PI-R cải biên” do Phạm Minh Hạc chủ biên [15] được xuất
bản mới đây là kết quả của nghiên cứu liên ngành tâm lý học và xã hội học.
Đây là đề tài thuộc chương trình khoa học cấp Nhà nước đã áp dụng phương
pháp đo đạc tâm lý NEO PI-R có sửa chữa và bổ dung cho phù hợp với thực tế
Việt Nam để điều tra, đo đạc những đặc điểm giá trị nhân cách của một số tầng
lớp người Việt Nam hiện nay.
Trên các tạp chí chuyên ngành như: Cộng sản, tâm lý học, triết học, và các
tạp chí khoa học xã hội khác v.v cũng xuất hiện nhiều bài viết chuyên sâu về
vấn đề nhân cách. Có thể kể đến tên tuổi của một số tác giả tiêu biểu như
Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Ngọc Bích, Đỗ Long, Nguyễn Công Khanh, Cao Thu
Hằng, Trần Hiệp, Lê Hương, Trần Trọng Thủy [Xem 1; 3; 16; 17; 20; 21; 22;
23; 25; 26; 30; 49]. Nội dung của các bài viết tập trung vào việc phân tích sự



8
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tìm
hiểu về vấn đề con người và nhân cách, đặc biệt là những người làm trong lĩnh
vực giáo dục, văn hóa, tư tưởng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được kết cấu thành 2 chương, 7 tiết.

CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NHÂN CÁCH
1.1. Nhân cách với tư cách là khách thể nghiên cứu của triết học
Nhân cách không chỉ là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học mà còn là
khách thể quan tâm nghiên cứu của nhiều khoa học xã hội và nhân văn khác
như: triết học, giáo dục học, xã hội học, luật học…. Mỗi một ngành khoa học
khác nhau lại nghiên cứu nhân cách trên một bình diện khác nhau.
Trong tâm lý học, vấn đề nhân cách được nghiên cứu khá sớm và hiện nay
đang tồn tại nhiều quan niệm rất đa dạng thậm chí đối lập nhau về nhân cách.
Dựa trên nguyên tắc quyết định luận tâm lý, chúng ta có thể khái quát các trào
lưu nghiên cứu về nhân cách ở phương Tây ngoài Mác - xít hiện nay thành 3 xu
hướng sau: [Theo 14, 131].
Xu hướng thứ nhất – nhấn mạnh khía cạnh tâm lý trong nguồn gốc, biểu
hiện của nhân cách. Tiêu biểu cho xu hướng này là các nhà tâm lý học
W.Wundt, W. Stern.
W. Wundt là nhà tâm lý học nội quan nổi tiếng. Ông là người thành lập
phòng thực nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới. Nghiên cứu về nhân cách,
ông và các học trò của mình đã đi theo cách thức thực nghiệm của khoa học tự
nhiên. Cách thức đó đã làm cho nhân cách mất đi sự thống nhất và bị chia thành


10
thuộc loại gày gò, mảnh khảnh, trong khi đó, đa số bác sĩ, các nhà thực nghiệm
khoa học tự nhiên lại thuộc loại béo [Trích theo 14, 42]. W. H. Scheldon cũng
có những miêu tả tương tự. Ông cũng quan niệm rằng giữa đặc điểm cấu tạo cơ
thể và những đặc điểm trong phạm vi thuộc tính tâm lý có mối quan hệ với
nhau [Trích theo 14, 42]. S. Freud cho rằng nhân cách là một tổ hợp của ba bộ
phận: vô thức, ý thức và siêu thức. Các bộ phận trên tồn tại không ôn hòa trong
nhân cách con người mà giữa chúng luôn mâu thuẫn, đấu tranh với nhau và bao
giờ bộ phận “vô thức” với các bản năng tình dục cũng chiến thắng và quyết
định cho toàn bộ hành vi ứng xử, tâm lý của con người.
Các thuộc tính nhân chủng của cá thể như các đặc điểm hình thể, thể tạng
hay giải phẫu – sinh lý, kiểu loại thần kinh,… được nêu ra trên đây rõ ràng
không thể quy định nhân cách hoặc tham gia vào cấu trúc nhân cách mà chỉ là
điều kiện về mặt phát sinh để hình thành nên nhân cách. Các thuộc tính đó đồng
thời không phải là yếu tố quy định các nét tâm lý của nhân cách mà chỉ quy
định các hình thái và phương thức thể hiện những nét tâm lý ấy mà thôi. Cho
nên, những quan niệm theo xu hướng này chỉ mô tả mối quan hệ bề ngoài giữa
các thành phần tâm lý với các thành phần cấu tạo cơ thể chứ chưa làm rõ bản
chất thực sự của nhân cách con người.
Xu hướng thứ ba – nhấn mạnh đến yếu tố nhân văn, xã hội của con người.
Đây được coi là xu hướng xã hội hóa nhân cách. Các học thuyết theo xu hướng
này là thuyết hành vi của F. B. Watson, thuyết siêu đẳng và bù trừ của Alfred
Adler, thuyết lo lắng của K. Horney, thuyết phát huy bản ngã của A. Maslow,
thuyết tương tác xã hội của G. H. Mead, thuyết Liên cá nhân của R. Sears,
thuyết “cái Tôi” của C. Rogers, thuyết Trường tâm lý của K.Lewin, thuyết chạy
trốn tự do của E. Fromm, thuyết Đặc trưng của G. Allport, thuyết nhu cầu tâm
lý của H. Murray, …
Tâm lý học hành vi sử dụng cách thức nghiên cứu của khoa học tự nhiên
thực nghiệm, đối tượng nghiên cứu của nó là hành vi của con người. Họ quan


12
triết học về con người. Trường phái này không tạo nên một bộ máy lý luận
thống nhất về nhân cách mà là sự tổng hợp nhiều khuynh hướng mới và những
trường phái tư tưởng khác nhau. Họ đều có chung những tư tưởng là tôn trọng
con người, tôn trọng giá trị sáng tạo, tôn trọng các phẩm giá cá nhân và trách
nhiệm con người. Tuy nhiên, nếu như chủ nghĩa hành vi dựa vào phương pháp
thực nghiệm để nghiên cứu thì tâm lý học nhân văn lại dựa vào những kinh
nghiệm chủ quan để phân tích nhân cách con người. Họ từ chối việc tiếp thu
những yếu tố tiến bộ của nhiều trào lưu tâm lý học mà lại quay về với truyền
thống tôn giáo nên rơi vào quan niệm duy tâm, phản khoa học. Sự ra đời của
tâm lý học nhân văn là thể hiện sự khủng hoảng về hệ thống phương pháp
nghiên cứu về tâm lý học trong các nước tư bản chủ nghĩa. [Theo 2, 76]
Học thuyết siêu đẳng và bù trừ của A. Adler phủ nhận sự quyết định trực
tiếp của cái sinh vật tới sự phát triển nhân cách, coi nhân cách phát triển theo
lôgic của xã hội. Mặc dù là học trò của Freud nhưng A. Adler đã đi theo hướng
chống lại thuyết sinh học của thầy mình. Có thể coi rằng “Adler là dấu nối đầy
màu sắc từ Freud tới tâm lý học nhân văn trong vấn đề nhân cách” [14, 139]
Nhìn chung, các học thuyết theo xu hướng thứ 3 này, ít nhiều vẫn mang
dấu ấn của phân tâm học, song họ đã đặt yếu tố sinh vật học xuống vị trí phụ,
thay vào đó nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các nhân tố xã hội và văn hóa
trong sự phát triển con người và trong việc biểu lộ các hành vi cụ thể.
Như vậy, có thể nhận thấy, hiện nay, trong tâm lý học phương Tây ngoài
Mác-xít, mỗi một xu hướng nghiên cứu lại nhấn mạnh đến một khía cạnh, một
mặt nào đó của nhân cách con người. Trong khi nhân cách lại tồn tại như một
chỉnh thể sống động, toàn vẹn, độc đáo, nên việc đưa ra một cái nhìn tổng thể,
chung nhất, khái quát nhất về nhân cách là nhiệm vụ mà triết học cần hướng
tới. Nghĩa là, về lý luận, triết học sẽ phải giải đáp các vấn đề như: Bản chất của
nhân cách là gì? Mối quan hệ giữa con người, cá nhân và nhân cách ra sao?
Nhân cách được hình thành khi nào? Yếu tố nào – sinh học hay xã hội mang


14
riêng biệt nào: “Hệ thống của Hêghen là một hình thức triết học cuối cùng,
hoàn chỉnh nhất, trong chừng mực triết học ấy được coi như là môn khoa học
đặc biệt đứng trên tất cả các môn khoa học khác. Cùng với nó, toàn bộ triết học
đã sụp đổ. Chỉ còn lại có phương pháp tư duy biện chứng và quan niệm về toàn
bộ thế giới tự nhiên, lịch sử, trí tuệ như một thế giới không ngừng vận động,
biến đổi, nằm trong một quá trình thường xuyên xuất hiện và hủy diệt. Ngày
nay, không chỉ đứng trước triết học mà cả trước mọi khoa học đều đặt ra một
yêu cầu là phát hiện ra các quy luật vận động của quá trình biến đổi vĩnh viễn
đó trong mỗi lĩnh vực đặc biệt” [33, 21, 449].
Chính vì thế, những quan điểm mà chúng tôi lựa chọn làm cơ sở cho
nghiên cứu những vấn đề lý luận về nhân cách cũng như việc giải quyết các vấn
đề đang đặt ra là theo xu hướng này.
Nhân cách và con người vốn là chỉnh thể không tách rời nhau. Trong tiến
trình phát triển của mình, trải qua các thời kỳ, giai đoạn khác nhau, từ cổ đại
cho đến ngày nay, triết học không trực diện trả lời rõ ràng từng vấn đề, từng
câu hỏi về nhân cách như đã nêu trên mà việc giải quyết chúng thường gắn liền
với việc tìm kiếm các câu trả lời cho vấn đề con người: Con người là gì: là
“động vật chính trị”, là động vật kinh tế” hay là “thực thể sinh học – xã hội”?
Con người có vai trò gì trong “tồn tại người” và trong thế giới xung quanh nó?
Con người được sinh ra từ đâu – từ ý chí thượng đế hay từ sự tiến hóa của vũ
trụ? Vai trò của con người có ý nghĩa đến đâu trong cuộc sống của chính mình?
Số phận của con người sẽ ra sao?
Cuộc đấu tranh về lý luận và tư tưởng xung quanh việc giải quyết những
vấn đề của đề tài con người là những nét nổi bật trong lịch sử triết học. Do xuất
phát từ những lập trường và thế giới quan khác nhau, hoặc từ những phương
pháp luận khác nhau, nên những lý giải của các trường phái triết học về con
người thường rất khác nhau, đôi khi hoàn toàn đối lập nhau.

15

người cũng không đồng nhất một cách giản đơn với động vật hoặc thần linh,
mà hòa hợp với trời đất để trở thành “tam tài”.
Xung quanh vấn đề bản chất con người, nhìn chung triết học cổ đại Trung
Quốc quan tâm nhiều đến “tính”, “tâm”, “lý”, tức là bàn đến phẩm chất tinh
thần, ý thức, tâm lý, tư tưởng của con người. Về cơ bản, các triết gia Trung
Quốc cổ đại xem “tính người” như là cái biểu hiện của cái thiện hoặc của cái
ác, của cái tính trời hoặc của cái tính thuộc nhân tâm. Theo họ, tính người
không tách rời “tính trời” hoặc “đạo trời”.
Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng, việc quan tâm lý giải về con người và
vận mệnh con người của các triết gia cổ đại Trung Quốc dẫu sao vẫn không
thoát khỏi quỹ đạo của chủ nghĩa duy tâm và ít nhiều thần bí. Quan niệm về
“thiên mệnh”, cái quy định về vận mệnh con người là một trong những biểu
hiện của điều đó. Quan niệm này cho rằng, bất kể ai cũng đều phải tuân theo số
mệnh, tuân theo sự xếp đặt, thưởng phạt của trời.
Nói tới con người và quan hệ xã hội của con người, triết học cổ đại Trung
Quốc lấy đạo đức – luân lý làm nội dung chủ yếu cho các luận thuyết. Đạo đức
– luân lý ở đây thuộc tính đẳng cấp xã hội của con người, một thuộc tính quyết
định bản chất thiện hay ác của con người. Luân thường đạo lý nằm trong cả vạn
vật, trời đất. Trời là hóa thân, đại diện của đạo đức – luân lý và “thiên đạo”
(đạo của trời) trở thành chuẩn mực của “đạo người” và là minh chứng cho nhân
tình thế thái. Phạm trù “thiện – ác” trong quan hệ với “đạo người” và “thiên
đạo” trở nên có ý nghĩa đặc biệt: cái “thiện” và cái “ác” trở thành một chủ đề
tranh cãi đặc biệt quan trọng trong triết học cổ đại Trung Quốc.
Quan hệ nhân luân, nhân tính theo tinh thần đức trị là thước đo đánh giá
tốt, xấu đối với hệ thống chính trị, quan hệ xã hội và đời sống con người. Nó là
sản phẩm thực tiễn của xã hội Trung Quốc cổ đại.

17
Với những nội dung trên đây có thể khẳng định triết học cổ đại Trung
Quốc là triết học về xã hội – con người. Bản chất nhân cách như chúng ta hiểu

đây, các quan niệm nhân đạo tư sản về con người và giải phóng con người đã
chiếm được vị trí tôn vinh trong xã hội. Vào thời đại ấy, các giá trị “tự do”,
“bình đẳng”, “bác ái” của con người đã được khẳng định một cách rõ ràng.
Kế thừa những quan điểm tiến bộ của các nhà Khai sáng Pháp, trong triết
học Cổ điển Đức, một trong những đặc điểm quan trọng của nó là việc đề cao
vai trò tích cực của hoạt động người, đề cao tinh thần đấu tranh chống lại sự trì
trệ và bất công của xã hội Đức lúc bấy giờ. Ở triết học cổ điển Đức, nhìn chung
con người hiện ra như là một chủ thể, đồng thời lại như là một sản phẩm của
quá trình hoạt động của chính mình, mặc dù một số nhà tư tưởng của dòng triết
học này đôi khi đã thần thánh hóa sức mạnh của con người, đặc biệt là thần
thánh hóa trí tuệ, ý thức, biến trí tuệ thành lực lượng siêu tự nhiên.
Tóm lại, trong lịch sử phát triển lâu dài của triết học, các nhà tư tưởng
không trực diện giải quyết vấn đề nhân cách mà thông qua việc giải đáp các vấn
đề con người. Vấn đề con người, bằng cách này hay cách khác, đều đã được
mọi triết học, từ triết học cổ đại ở phương Đông và phương Tây cho đến triết
học cổ điển Đức, xem xét và lý giải.
Việc giải quyết các vấn đề con người sẽ là cơ sở, là nền tảng căn bản để
giải quyết vấn đề nhân cách. Tuy vậy, do những hạn chế về mặt lịch sử, triết
học trước Mác đã không tránh khỏi tìm đến bản chất con người ở một cái gì đó
có tính chất siêu nhiên hoặc khi vào cuộc sống trần thế thì lại vô tình hạ thấp
con người xuống hàng động vật, hoặc coi con người không hơn gì cái máy,
nhiều lắm thì cũng chỉ nhìn con người chung chung, trừu tượng với một bản
chất bất biến nào đó… Như thế là trước khi học thuyết Mác ra đời, những cố
gắng của tư duy triết học nhằm tìm hiểu bản chất con người đều không đủ khả

19
năng đưa lại một cái nhìn toàn diện về con người. Rút cuộc chủ nghĩa duy tâm
vẫn ngự trị trong nhận thức về con người và về xã hội. Sự hạn chế này khiến
cho việc lý giải những vấn đề nhân cách cũng gặp những khó khăn nhất định.
Nếu không có một cơ sở triết học đúng đắn, người ta sẽ dễ đi đến những kết

các tác phẩm. Trên thực tế, Mác cũng không có ý định xây dựng một hệ thống
lý luận triết học “thuần túy” về con người, vấn đề nhân cách theo đó không
được đưa ra để xem xét một cách trực diện. Tuy nhiên, khi theo dõi tiến trình
phát triển về mặt tư tưởng và về mặt lý luận từ những tác phẩm thời kỳ đầu của
Mác trước năm 1844 đến những tác phẩm sau này, chúng ta có thể nhận thấy,
triết học Mác xuất phát từ con người và trở lại con người, mục đích cuối cùng
là hướng tới giải phóng con người. Những cách thức trong nghiên cứu con
người đồng thời cũng là những chỉ dẫn mang tính phương pháp luận cho nghiên
cứu nhân cách đã hình thành dần dần trong quá trình hoàn thiện, phát triển về
mặt tư tưởng của Mác, thể hiện những bước tiến, những “vượt bỏ” của ông về
mặt lý luận.
Nội dung cơ bản trong học thuyết về con người của Mác là làm sáng tỏ
nguồn gốc, bản chất của con người, đồng thời khẳng định tính tất yếu của sự
giải phóng con người.
Những nhà triết học trước Mác khi luận giải về vấn đề nguồn gốc, bản chất
của con người thường bàn luận, tìm kiếm ở một cái gì đó có tính chất siêu nhiên
hoặc nếu có đi vào cuộc sống trần thế thì lại hạ thấp con người xuống hàng
động vật, hoặc coi con người không hơn gì cái máy, nhiều lắm thì cũng cho là
con người trừu tượng, chung chung với một bản chất tộc loài, bất biến nào đó.
Với việc nghiên cứu sâu sắc các thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã
hội, dựa vào đó mà nêu ra những khái quát về mặt thế giới quan, triết học Mác
đã chỉ ra: Con người không do ai sáng tạo ra mà là sản phẩm cao nhất trong quá
trình phát triển và tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên. Bản chất của con người chỉ
có thể được giải thích một cách khoa học nếu được đặt trên cơ sở đó, tức là trên
cơ sở thừa nhận những nguồn gốc tự nhiên khách quan của sự tồn tại người.

21
Những điều này được thể hiện rõ thông qua việc Mác phân tích về mối
quan hệ giữa con người và tự nhiên - con người tồn tại trong tự nhiên, gắn bó
chặt chẽ với tự nhiên, giới tự nhiên là thân thể vô cô của con người. Mác viết:

hội” [33, 3, 11].
Theo quan điểm của Mác, bản chất con người không phải là trừu tượng mà
là hiện thực. Trong tính hiện thực của nó thì bản chất ấy không phải là bản chất
tự nhiên mà là bản chất xã hội – lịch sử. Bản chất ấy cũng không phải là vốn có
trong mỗi cơ thể riêng lẻ mà là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Cái tổng hoà
này có cơ sở, nguồn gốc hiện thực là tổng thể những hoạt động, quan hệ xã hội
liên hệ với cá nhân một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong hoạt động sinh
sống cá nhân tổng hợp và kết tinh vào mình hệ thống những quan hệ ấy, theo
cách của mình và chúng hình thành, tồn tại trong thân thể cá nhân dưới dạng
tiềm năng (vật chất và tinh thần) và khi cá nhân hoạt động, cái tiềm năng ấy lại
biểu hiện ra, được khẳng định trong một tổng thể những quan hệ xã hội của nó.
Song luận điểm đó không có nghĩa bản chất con người là một cái gì ngưng
đọng, nhất thành bất biến. Bản chất con người, mà đặc biệt là bản chất con
người cá nhân cũng cần phải được xem xét trong quá trình hình thành và phát
triển không ngừng. Nghĩa là, khi coi bản chất con người là tổng hòa các quan
hệ xã hội, thì con người tất yếu sẽ được hiện ra không chỉ trong các quan hệ
đồng đại mà còn cả trong quan hệ lịch sử. Điều đó đòi hỏi con người còn phải
được xét theo quan điểm phát triển. Đương nhiên, trong đời sống xã hội, quan
điểm phát triển gắn liền với quá trình thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội.
Vì thế, theo triết học Mác: mỗi cá thể không những là sản phẩm của các quan
hệ xã hội hiện có mà còn là sản phẩm của các quan hệ lịch sử, là sự đúc kết của
toàn bộ quá khứ. C. Mác viết: “Con người làm ra lịch sử của mình, nhưng
không phải làm theo ý muốn tùy tiện của mình, trong những điều kiện tự mình
chọn lấy, mà là trong những điều kiện trực tiếp có trước mắt, đã cho sẵn và do
quá khứ để lại. Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng như quả núi
lên đầu óc những người đang sống… [33, 8, 145].

Trích đoạn Quan điểm về nhân cách của A N Lêônchiep
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status