ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HOÀI
NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP
CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN
CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN THỨC
xa so với lực lượng sản xuất.
Xuất phát từ thực tiễn đất nước và trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin, tại Đại hội VI năm 1986, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi
mới trong đó thể hiện tư duy mới của Đảng về quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trong điều kiện trình độ
lực lượng sản xuất ở nước ta còn thấp kém, để tạo ra một quan hệ sản xuất
phù hợp với lực lượng sản xuất đó, Đảng ta đã có những đổi mới quan trọng
2
trong nhận thức và xây dựng quan hệ sản xuất về cả ba nội dung sở hữu, quản
lý và phân phối. Thực tiễn đất nước sau hơn 20 năm qua đã chứng tỏ tính
đúng đắn của đường lối đổi mới nói chung, của những đổi mới trong nhận
thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất nói riêng.
Bên cạnh đó, cũng phải thấy rằng, quá trình đổi mới quan hệ sản xuất
tuy đang đi đúng hướng, nhưng trong nhiều trường hợp nó vẫn còn là nhân tố
cản trở quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, là nguyên nhân cơ bản dẫn
đến tình trạng: nhiều nguồn lực và tiềm năng trong nước chưa được huy động
và khai thác tốt. Hơn nữa, thực tiễn luôn vận động, lực lượng sản xuất phát
triển không ngừng, nó luôn đặt ra những yêu cầu mới trong quá trình phát
triển. Do vậy, vấn đề này cần phải tiếp tục có những nghiên cứu mới sâu sắc
hơn nữa để đưa ra những giải pháp thiết thực đáp ứng yêu cầu giải phóng,
phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời rút ra được những bài học kinh
nghiệm quý báu, tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục
những hạn chế đã mắc phải, góp phần tạo ra những cơ sở khoa học cho quá
trình vận dụng đúng đắn quy luật này ở nước ta trong những giai đoạn hiện
nay.
Vì vậy, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Nhận thức và vận dụng quy luật về
sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” làm đề tài luận văn của mình.
Xuân Tùng với “Các thành phần kinh tế và cách mạng quan hệ sản xuất”;
Nguyễn Thị Quý với “Xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới ở Việt
Nam”; Lương Xuân Quỳ với “Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội
chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam; Các tác giả
này đã tập trung làm rõ quan hệ sản xuất ở nước ta hiện nay, mối quan hệ giữa
quá trình đổi mới quan hệ sản xuất và nền kinh tế nhiều thành phần, vấn đề
định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới quan hệ sản xuất, Đây
4
là những công trình nghiên cứu rất có giá trị, là nguồn tài liệu tham khảo quý
báu đối với chúng tôi.
Bên cạnh đó, liên quan đến quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có những tác giả còn
nghiên cứu chi tiết hơn. Chẳng hạn như Nguyễn Trọng Chuẩn với “Đổi mới
quan niệm về chế độ sở hữu và ý nghĩa chiến lược của nó đối với sự phát triển
của Việt Nam hiện nay”, Phạm Văn Đức với “Đổi mới sở hữu ở Việt Nam:
một số cơ sở lý luận”, Vũ Văn Viên với “Cổ phần hóa - một phương diện
quan trọng để đa dạng hóa các hình thức sở hữu”, Đặng Hữu Toàn với “Sự
tồn tại đan xen các hình thức sở hữu - một tất yếu lịch sử, một yêu cầu bức
thiết trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Nguyễn
Đình Kháng với “Cơ sở để nhận thức về sở hữu và thành phần kinh tế trong
quá trình đổi mới ở Việt Nam”, Nguyễn Văn Thức với “Sở hữu: lý luận và
vận dụng ở Việt Nam”, Nguyễn Ngọc Hà với “Quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về vai trò động lực của chế độ sở hữu tư nhân trong điều kiện hiện
nay”,… Những tác giả này đã làm rõ cơ sở lý luận và tính tất yếu của việc đa
dạng hóa các loại hình sở hữu; vai trò của sở hữu nói chung, của các loại hình
sở hữu nói riêng đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện
nay.
Cũng nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quy luật về sự phù hợp
của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có tác giả
phối cũng như những quan điểm của Lý Bân về phân phối dưới chủ nghĩa xã
hội rất có ý nghĩa quan trọng đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
của mình.
Như vậy, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở những góc độ, mức độ,
phạm vi khác nhau mà trên đây chỉ là một số công trình mang tính điển hình
mà chúng tôi có dịp tìm hiểu. Đây sẽ là nguồn tư liệu quý báu và gợi mở cho
6
chúng tôi nhiều vấn đề trong quá trình nghiên cứu đề tài “Nhận thức và vận
dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: phân tích, làm rõ hơn sự nhận thức và vận
dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Thứ nhất, làm rõ hơn những vấn đề lý luận về
lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Thứ hai, phân tích thực
trạng nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam. Thứ ba, xây dựng một
số kiến nghị, giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất trên cơ
sở phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện
nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là quá trình Đảng Cộng sản Việt
Nam nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta từ năm 1986 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu
Cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ yếu là quan
Chương 1
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
VỀ QUY LUẬT: SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT
VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
1.1. Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là một trong những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa
duy vật lịch sử, theo Mác, đây là biểu thị mặt thứ nhất của “mối quan hệ song
trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội: “quan hệ của con người với tự nhiên
và quan hệ của con người với nhau” [52, tr.42]. Điều đó có nghĩa là nó biểu
hiện cho quá trình con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến và chinh
phục giới tự nhiên để sản xuất ra của cải vật chất, đảm bảo cho sự sinh tồn,
phát triển của con người và xã hội loài người.
Trong quá trình sản xuất, con người chinh phục tự nhiên bằng sức
mạnh hiện thực của mình, đó là sức mạnh cơ bắp và sức mạnh trí tuệ, Mác
viết: “Để chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hình thái có ích cho
đời sống của bản thân mình, con người vận dụng những sức tự nhiên thuộc về
thân thể của họ: tay và chân, đầu và hai bàn tay” [57, tr.266]. Tổng hợp những
sức mạnh của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên, tức là sức mạnh
của sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, được chủ nghĩa duy
vật lịch sử khái quát thành khái niệm lực lượng sản xuất.
Như vậy, những trình bày trên đây về lực lượng sản xuất có thể khái
quát lại như sau: Lực lượng sản xuất là một mặt của phương thức sản xuất,
biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất,
là tổng hợp sức mạnh hiện thực của con người (người lao động và tư liệu sản
xuất) trong quá trình chinh phục giới tự nhiên, thực hiện việc sản xuất xã hội.
9
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục
tự nhiên của con người, thể hiện năng lực thực tiễn cải tạo tự nhiên của con
triển liên tục từ thấp tới cao qua các thời đại.
Về mặt cấu trúc, lực lượng sản xuất được cấu thành từ hai yếu tố cơ
bản là người lao động và tư liệu sản xuất.
Người lao động: với tính cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất,
người lao động là những người có khả năng lao động, tức là phải có các phẩm
chất: sức mạnh trí tuệ, sức mạnh thể chất, kinh nghiệm và kỹ năng lao
động,…Ở những thời đại khác nhau, các phẩm chất trên cũng có những vai
trò khác nhau; trong các xã hội tiền tư bản, khi lực lượng sản xuất còn ở trình
độ thủ công, yếu tố thể chất nổi bật hơn cả; trong xã hội tư bản, yếu tố kinh
nghiệm và kỹ năng lao động trở nên đặc biệt quan trọng để phục vụ cho các
dây chuyền sản xuất công nghiệp, điều khiển các loại máy móc; hiện nay, khi
lực lượng sản xuất ngày càng hiện đại, tin học hóa, tự động hóa thì yếu tố tri
thức có vai trò đặc biệt quan trọng, lao động của con người ngày càng trở
thành lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ. Càng ngày hàm lượng trí tuệ
trong lao động càng cao, trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện nay,
con người trở thành một nguồn lực đặc biệt của sản xuất, là nguồn lực đặc
biệt và vô tận. Chính sức mạnh trí tuệ của con người đã đem lại những thành
tựu lớn lao trong nền sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, theo Mác, “tiến bộ của tri
thức chỉ là một mặt, một dạng thức biểu hiện của sự phát triển mới của lực
lượng sản xuất của con người, còn lực lượng sản xuất vĩ đại nhất chính là giai
cấp cách mạng” [41, tr.27].
Trong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố giữ vai trò quyết
định, Lênin khẳng định: "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại
là công nhân, là người lao động" [45, tr.430]. Khẳng định người lao động giữ
vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất là vì: suy cho cùng thì các tư liệu
sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, do người lao động tạo ra và
11
không ngừng đổi mới, cải tiến; giá trị và hiệu quả của các tư liệu sản xuất phụ
thuộc vào trình độ sử dụng và sáng tạo của người lao động (máy vi tính chỉ
đổi nào đó do lao động gây ra” [57, tr.268].
Trong quá trình sản xuất, để cải biến đối tượng lao động thành những
sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình, con người phải sử dụng tư liệu lao
động. Nếu đặt đối tượng lao động ở một cực, người lao động ở một cực thì tư
liệu lao động như là khâu trung gian giữa hai cực đó. Theo Mác, “nhờ những
tư liệu lao động, sự hoạt động của con người làm cho đối tượng lao động phải
biến đổi theo một mục đích đã định trước” [57, tr.271].
Vậy, tư liệu lao động là gì? theo Mác: “Tư liệu lao động là một vật, hay
là toàn bộ những vật mà con người đặt ở giữa họ và đối tượng lao động và
được họ đặt làm vật truyền dẫn hoạt động của họ vào đối tượng ấy” [57,
tr.268]. Với ý nghĩa như vậy, tư liệu lao động gồm những yếu tố cơ bản sau:
các công cụ lao động, những phương tiện vận chuyển hàng hóa, các loại vật
dụng để bảo quản những đối tượng lao động, nhà xưởng, bến cảng, đường
xá, Theo Mác, “Trong bản thân các tư liệu lao động, thì những tư liệu lao
động cơ khí mà toàn bộ có thể gọi là hệ thống xương cốt và bắp thịt của sản
xuất - lại cấu thành những dấu hiệu đặc trưng tiêu biểu cho một thời đại sản
xuất xã hội nhất định” [57, tr.270].
Công cụ lao động là yếu tố động nhất, quan trọng nhất trong tư liệu sản
xuất, tác động đến sự biến chuyển xã hội, và cũng là một trong những yếu tố
đặc trưng cho mỗi thời đại, Mác viết: “cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã
hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản
công nghiệp” [53, tr.187]. Công cụ lao động là yếu tố thường xuyên biến đổi
là vì nó thường xuyên được cải tiến để nâng cao năng suất lao động, giải
phóng sức lao động của con người. Nếu chỉ dừng lại ở những công cụ lao
động thủ công như cày, cuốc, liềm, hái,… thì năng suất lao động không cao,
mất nhiều sức lao động. Do vậy, phải cải tiến, chế tạo ra những công cụ lao
13
động mới như máy cày, máy gặt đập lúa liên hoàn,… năng suất lao động cao,
sức lao động được giải phóng mạnh mẽ. Máy móc ngày càng chinh phục
trước một bước, đóng vai trò dẫn đường và chi phối mạnh mẽ đối với sản xuất
nói chung. Chính sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ đang gây ra những biến đổi lớn trong xã hội nói chung, nền sản xuất vật
chất xã hội nói riêng. Chẳng hạn như đối với người lao động, họ không chỉ
được giải phóng khỏi các chức năng thực hiện mà cả chức năng kiểm tra,
quản lý trong quá trình sản xuất. Con người ngày càng không phải tham gia
vào quá trình sản xuất trực tiếp và họ, từ chỗ là người thực hiện giản đơn các
thao tác máy móc thành chủ thể của nền sản xuất với chức năng chủ yếu và
quan trọng nhất là sáng tạo. Điều đó càng cho thấy ý nghĩa lớn lao của tri thức
khoa học trong quá trình sản xuất của nền sản xuất hiện đại.
Như vậy, với tư cách là tổng hợp sức mạnh hiện thực của con người
trong quá trình chinh phục tự nhiên, là sự kết hợp giữa người lao động với tư
liệu sản xuất, lực lượng sản xuất chính là nội dung của sự sản xuất xã hội.
1.2. Quan hệ sản xuất
Cũng là một mặt của phương thức sản xuất, nhưng nếu như lực lượng
sản xuất là khái niệm biểu thị ở mặt thứ nhất của mối “quan hệ song trùng”
của bản thân sự sản xuất xã hội - quan hệ giữa con người với tự nhiên, thì
quan hệ sản xuất chính là sự biểu thị mặt thứ hai của quan hệ đó - quan hệ của
con người với con người trong sản xuất.
Quá trình sản xuất của xã hội chỉ có thể diễn ra một cách bình thường
khi mối quan hệ giữa người với người tồn tại thống nhất giữa mối quan hệ
giữa con người với tự nhiên. Mác khẳng định: “Trong sản xuất, người ta
không chỉ quan hệ với giới tự nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu
không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và trao đổi
hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ
và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là
15
việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xã
hội đó” [54, tr.552].
người với người trong quá trình sản xuất. Đây là quan hệ nảy sinh một cách
khách quan, tất yếu trong quá trình sản xuất, là quan hệ kinh tế cơ bản, nó
phản ánh hình thức xã hội của quá trình sản xuất; quan hệ sản xuất gồm có
quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất, trong việc tổ
chức và quản lý sản xuất, trong việc phân phối sản phẩm lao động trong quá
trình sản xuất.
Quan hệ sản xuất gồm có các mặt cơ bản sau: quan hệ giữa người với
người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất, trong việc tổ chức và quản lý sản
xuất, trong việc phân phối sản phẩm lao động trong quá trình sản xuất:
Ba mặt quan hệ đó trong quá trình sản xuất xã hội luôn gắn bó chặt chẽ
với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với vận
động không ngừng của lực lượng sản xuất. Các quan hệ sản xuất của một
phương thức sản xuất là một hệ thống bao gồm nhiều quan hệ phong phú, đa
dạng. Mỗi mặt quan hệ của hệ thống quan hệ sản xuất có vai trò và ý nghĩa
khác nhau trong mỗi nền sản xuất nói riêng và trong toàn bộ tiến trình lịch sử
nói chung.
Trong ba mặt trên của quan hệ sản xuất thì quan hệ giữa người với
người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất là quan hệ cơ bản nhất, nó là cơ sở
của các quan hệ sản xuất, quyết định các quan hệ khác trong xã hội.
Quan hệ sở hữu chính là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
chiếm hữu các tư liệu sản xuất. Tính chất của quan hệ sản xuất phụ thuộc vào
chỗ những tư liệu sản xuất cơ bản là sở hữu của ai. Quan hệ sở hữu đối với tư
liệu sản xuất (biểu hiện thành chế độ sở hữu) là đặc trưng cơ bản của mỗi hình
thái kinh tế xã hội nhất định, từ quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ hình
thành nên các quan hệ khác trong hệ thống quan hệ sản xuất của một chế độ
xã hội nhất định. Khi phương thức sản xuất thay đổi thì quan hệ sở hữu cũng
17
thay đổi theo, lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định sẽ xác lập nên một
quan hệ sở hữu tương ứng với nó. Theo Mác, trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất như thế ấy. Nếu như chế độ cộng sản nguyên thủy có hình thức tự
quản, tức là mọi người cùng làm, địa vị xã hội của mọi người như nhau,
không có kẻ thống trị và bị trị, thì ở chế độ nông nô, phong kiến và tư bản chủ
nghĩa chế độ tổ chức quản lý sản xuất lại mang một hình thức khác, thích hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và chế độ tư hữu. Trong những
chế độ sở hữu này thì người chiếm hữu tư liệu sản xuất trở thành kẻ tổ chức
quản lý sản xuất, người vô sản trở thành người bị quản lý, lao động sản xuất
theo sự tổ chức của kẻ chiếm hữu tư liệu sản xuất.
Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-lênin, trái với những hình thức
tổ chức và quản lý sản xuất dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, trong
xã hội xã hội chủ nghĩa thì chế độ tổ chức và quản lý sản xuất hoàn toàn khác.
Người lao động ở địa vị làm chủ, quan hệ giữa người với người trong sản xuất
là quan hệ hợp tác, bình đẳng. Do đó, việc tổ chức và quản lý sản xuất được
tiến hành theo chế độ dân chủ tập trung.
Cũng như quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản
phẩm trong quá trình sản xuất cũng chịu sự quy định của quan hệ sở hữu tư
liệu sản xuất. Đồng thời quan hệ phân phối sản phẩm lao động cũng bị phụ
thuộc vào trình độ tổ chức và quản lý sản xuất. Song, do có khả năng kích
thích trực tiếp vào lợi ích của con người nên các quan hệ phân phối cũng rất
có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Quan hệ phân phối có thể thúc
đẩy tốc độ và nhịp điệu của sự sản xuất, làm năng động toàn bộ đời sống kinh
tế - xã hội nếu nó phù hợp, có tác dụng kích thích mạnh mẽ người lao động;
hoặc trong trường hợp ngược lại, nó có khả năng kìm hãm sản xuất, kìm hãm
sự phát triển xã hội.
Trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội, để tỏ rõ sự khác biệt và tính ưu
việt của quan hệ phân phối xã hội chủ nghĩa, thì cần thiết phải xác lập nên
19
những mô hình phân phối có tính chất đặc trưng cho quan hệ sản xuất xã hội,
đó chính là mô hình hợp tác xã. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười
Để hiểu được quy luật này trì trước hết phải làm rõ các khái niệm: trình
độ và tính chất của lực lượng sản xuất.
Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con
người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến
giới tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình. Trình độ
lực lượng sản xuất thể hiện ở: trình độ của công cụ lao động, trình độ tổ chức
lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất; kinh nghiệm và kỹ
năng lao động của con người; trình độ phân công lao động.
Bên cạnh khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất còn có khái niệm
tính chất của lực lượng sản xuất. Ăngghen đã sử dụng khái niệm này để phân
tích lực lượng sản xuất. Trước đây, khi chưa có công nghiệp hiện đại, mỗi
người lao động riêng lẻ có thể sử dụng công cụ thủ công để sản xuất, công cụ
sản xuất thô sơ này không bắt buộc phải tập trung nhiều người để cùng sản
xuất ra một sản phẩm, mà chỉ cần một người vẫn có thể sản xuất được, cho
nên lực lượng sản xuất có tính chất cá thể. Nhưng khi máy móc xuất hiện, đòi
hỏi phải sản xuất dây chuyền, phải có nhiều người cùng lao động theo sự vận
động của máy móc, làm những phần việc khác nhau, do đó đòi hỏi quá trình
lao động phải xã hội hóa thì mới tạo ra sản phẩm được. Sản phẩm làm ra
không thể nào là kết quả của một người, mà là của nhiều người. Lúc này, lực
lượng sản xuất thay đổi tính chất của nó. Như vậy, tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất không tách rời nhau, trình độ nào thì tính chất ấy, ở trình
độ thủ công thì phổ biến là tính chất cá nhân, ở trình độ cơ khí công nghiệp
thì phổ biến là tính chất xã hội hóa. Do vậy, khi nói đến trình độ của lực
lượng sản xuất cũng đã phần nào bao hàm cả tính chất của nó.
Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực
lượng sản xuất giữ vai trò quyết định, chi phối quan hệ sản xuất:
21
Tính quy định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất trước
hết biểu hiện ở chỗ: lực lượng sản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất như
bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp” [53, tr.187].
Tuy nhiên, quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối với lực lượng
sản xuất, biểu hiện ở chỗ: nó sẽ thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng sản xuất phát
triển khi nó phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất; ngược lại, nó sẽ kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất khi nó không phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất:
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là một trạng thái mà trong đó tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều
"tạo địa bàn đầy đủ" cho lực lượng sản xuất phát triển. Nghĩa là, nó tạo điều
kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản
xuất, do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển, phát huy hết khả năng
của nó, thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền sản xuất vật chất xã hội. Cần
phải có sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là do yêu cầu của việc phát triển lực lượng sản xuất, nếu quan hệ sản
xuất không phù hợp thì lực lượng sản xuất không thể phát triển, nền sản xuất
sẽ trì trệ. Chẳng hạn như khi lực lượng sản xuất phát triển mang tính xã hội
hóa cao (của cải do số đông người lao động làm ra) mà quan hệ sản xuất vẫn
mang tính tư nhân (thiểu số nhà tư bản) thì sản xuất sẽ không thể phát triển,
muốn phát triển được thì quan hệ sản xuất buộc phải mang tính xã hội hóa
hóa.
Tuy nhiên, trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội không phải lúc nào quan
hệ sản xuất cũng phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự
không phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất tất yếu nảy sinh mâu thuẫn giữa chúng, mâu thuẫn này vận động tới một
giai đoạn nào đó sẽ được giải quyết. Mác-Ăngghen cho rằng: “tất cả mọi xung
đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và hình
23
thức giao tiếp” (lúc này Mác và Ăngghen vẫn gọi quan hệ sản xuất là hình
thức giao tiếp) [52, tr.107]. Mâu thuẫn này xuất hiện là do chúng có bản chất
tại” [58, tr.659] thì chính tính độc lập tương đối của quan hệ sản xuất đã làm
cho quá trình “thay đổi” đó nhiều khi diễn ra rất khó khăn, thậm chí còn có cả
những “hao phí sinh mạng và lực lượng sản xuất” rất nặng nề.
Rõ ràng là, khi không còn phù hợp với lực lượng sản xuất thì quan hệ
sản xuất trở nên kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất: nó cản trở quá
trình kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất; cản trở quá trình sử
dụng, giải phóng, phát huy các tư liệu sản xuất; không có khả năng kích thích
tính tích cực năng động, sáng tạo của người lao động. Quan hệ sản xuất “từ
chỗ là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành
những xiềng xích của lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại của một
cuộc cách mạng xã hội” [55, tr.15]. Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất
với quan hệ sản xuất được giải quyết, tức là một quan hệ sản xuất đã được xác
lập phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thì chính lúc này,
một lần nữa, tính độc lập tương đối của quan hệ sản xuất lại có điều kiện để
thể hiện ra, nhưng không phải là kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển mà
trái lại, nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển bởi nó phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dù
sớm hay muộn thì cũng sẽ nổ ra một cuộc cách mạng xã hội. Cách mạng xã
hội biểu hiện ra như là kết quả tất yếu của sự mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất với quan hệ sản xuất. Khi cách mạng xã hội thành công cũng là lúc mâu
thuẫn này được giải quyết, vì quy luật tất yếu khách quan đòi hỏi quan hệ sản
xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Khi cuộc cách mạng xã hội đã thành công thì ngay lúc đó những quan
hệ sản xuất mới được xác lập vẫn chưa phải là thực sự đã hoàn chỉnh. Việc
hoàn chỉnh các quan hệ sản xuất được diễn ra cùng với sự phát triển của thực