Sự kế thừa và phát triển của Hồ Chí Minh đối với những tư tưởng đạo đức cơ bản của Khổng Tử - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HOC KHOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHÂN VĂN

LẠI THỊ THANH BÌNH
sụ KÊ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN c ủ a Hổ CHÍ MINH
ĐỐI VỚI NHỮNG Tư TƯỞNG ĐẠO ĐỨC c ơ BẢN
CỦA KHỔNG TỬ
Chuyên ngằnh: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VÃN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
• • •
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Đ ỗ THỊ HOÀ HỚI
HÀ NỘI, 2006
A. MỞ ĐẦU
MỤC LỤC
B. NỘI DU N G
Chưưng I: CÁC TIEN ĐỂ VÀ NỘI DUNG Tư TƯỞNG ĐẠO ĐỨC cơ BẢN
CỦA KHỔNG TỬ
1.1- Các tiền đề cho sự hình thành tư tưởng đạo đức Khổng tử
1.1.1. Cơ sở thực tiễn
1.1.2. Tiền đề tir tưởng
1.2. Những nội đung co bản trong tư tuỏng đạo đức của Khổng tử
1.2.1. Cách tiếp cận và các nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức ở
Khổng t ử
a. Quan niệm của Khổng tử về bản tính cúa con người

b. Quan niệm của Khổng tử về mẫu hình con người lý tưởng

c. Quan niệm của Khổng tử vể giáo d ụ c
d. Quan niệm của Khổng tử về các phạm trù đạo đức cụ th ể


riêng, từ đó vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn để giải quyết những vấn
đề mà thực tế công cuộc đổi mới ở nước ta đặt ra.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã tổng kết:
Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta, công cuộc đôi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to
lớn và có ý nghĩa lịch sử.
Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản
và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dược đẩy
mạnh. Đời sốne nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại
đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định.
Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế
không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất
nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp.
Những thành tựu đó chứng tỏ ràng đường lối đổi mới của Đảng ta là
đúns đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Vai trò nền tảng tư
tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và dân tộc ta của chù nghĩa
Mác - Lênin và tư tường Hồ Chí Minh đã được thực tiễn khẳno định.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công cuộc đôi mới
đất nước cũng cho thấy vẫn còn có những yểu kém cần tiếp tục khắc phục,
2
chăng hạn như trong lĩnh vực văn hóa, xã hội đang tồn tại tinh trạng suy thoái,
xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo
ngại, nhất là trong lớp trẻ, v.v Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của
Dáng tiếp tục khẳng định, để khẳc phục và vượt qua những yếu kém ấy, cần
tiếp tục đi sâu nhận thức và vận dụng một cách có hiệu quả hơn nữa chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức, là một nhiệm vụ quan trong và cấp hách.
về nguồn gốc tư tường Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh nói riêng, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến cội nguồn các giá trị

“Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được
những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”. Lênin dạy
chúng ta như vậy [57, tr.46].
Hơn nữa, nghiên cứu việc Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển các giá trị
trong tư tưởng của Khổng tử không những là để hiểu đúng hơn và đủ hơn về
tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn thông qua đó còn góp phần nhận thức và tiếp
tục kế thừa, phát triển những hạt nhân tư tưởng có giá trị của Khổng tử trong
thời đại hiện nay. Chúng ta biết ràng, điều này cũng rất quan trọng, khi mà
trên thế giới ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng, sở dĩ các nước châu Á như
Nhật Bản, Hàn Quốc, Singgapo có thể phát triển một cách nhanh chóng chính
là vì họ đã biết kế thừa và phát triển nhiều nội dung tư tưởng có ý nghĩa tích
cực của Khổng tử, của Nho giáo, và kết họp những giá trị ấy với khoa học kỹ
thuật của phương Tây Xuất phát từ thực tế lịch sử, xã hội, văn hóa, con
người Việt Nam, chính Hồ Chí Minh đã từ rất sớm thấy rõ sự cần thiết phải
học những điều hay trone tư tưởng của Khổng tử, và chúng ta cần phải tiếp
tục thực hiện nhiệm vụ này.
4
Chính với những lý do trên cùng mong muốn góp phần hiểu rõ hơn tư
tưởng Hồ Chí Minh, nên chúng tôi đã triển khai hướng nghiên cứu này trong
một đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên (và đã được giải nhì nghiên cứu
khoa học cấp Bộ), trong khóa luận tốt nghiệp. Những kết quả đã đạt được
trong quá trình nghiên cứu đó đã tạo điều kiện thuận lợi và có ý nghĩa động
viên đê chúng tôi tiếp tục triên khai mở rộns hướng nghiên cứu này trong
luận văn thạc sĩ với tên goi: “Sự kế thừa và phát triển của Hồ Chí Minh đối
với nhữns tư tưởng đạo đức cơ bản của Khổng tử”
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN cứ u
Nghiên cứu sự kế thừa và phát triển của Hồ Chí Minh đối với di sản tư
tường nhân loại trong đó có tư tưởng của Khổng tử, của Nho giáo đã sớm
dược đặt ra trong các đề tài cấp Nhà nước, như đề tài KX02.08 với sự tham
gia của các nhà nghiên cứu hàng đầu như GS. Đặng Xuân Kỳ, GS. Vũ Khiêu,

độ ảnh hưởng của Nho giáo đến Hồ Chí Minh được nhận định ở những nhà
nghiên cứu còn khác nhau.
Nhìn một cách chung nhất, để đi đến kết luận về mối quan hệ giữa tư
tưởng Nho giáo (trong đó có Khổng tử) và tư tưởng Hồ Chí Minh, đại thể các
nhà nghiên cứu đã đi theo mấy hướng sau. Thứ nhất, đi từ sự phân tích về
hoàn cảnh gia đình, quê hương xuất thân và những hoạt động cùng tư tưởng
của Hồ Chí Minh, đặc biệt các công trình khảo sát kỹ thời kỳ Người còn nhỏ
tuổi. Thứ hai, đi từ khảo sát phong cách ứng xử, phong cách sống của Hồ Chí
Minh, tìm kiếm trong đó nhừnẹ điểm tương đồng với thuyết tu, tề, trị, bình
của Nho giáo. Thứ ba, đi từ khảo sát những luận điểm tư tưởng do Hồ Chí
Minh phát biểu (kể cả những luận điểm của Người, cũng như những luận
điêm của Nho giáo được Người sử dụng) đê lại trong Hồ Chí Minh toàn tập
6
Nhừns cách làm trên đều có tính hợp lý của nó, và trên thực tế đã góp phần
không nhỏ vào việc làm rõ mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh với Nho giáo.
Mong muốn góp phần giải quyết vấn đề đã đặt ra, chúng tôi suy nghĩ
tìm cách tiếp cận vấn đề từ một khía cạnh khác.
Trước hết, để phù hợp với điều kiện và khuôn khổ của một luận văn
thạc sĩ ngành Triết học, chúng tôi giới hạn trong việc nghiên cứu việc Hồ Chí
Minh kế thừa và phát triển những tư tưởng đạo đức cơ bản của Không tử, chứ
không có tham vọng đi vào nghiên cứu toàn bộ mối quan hệ của Nho giáo hay
toàn bộ tư tưởng của Khổng từ đối với Hồ Chí Minh. Trong phạm vi có hạn
này, nhờ các công trình đi trước, chúng tôi lựa chọn phương pháp tiếp cận so
sánh theo lát cắt tổng thế tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với tư tưởng đạo đức
của Khổng tử, chứ không dừng lại ở việc so sánh, đối chiếu một vài luận điểm
cụ thể (nhờ có các công trình trước đã giải quyết).
Bấy lâu nay, nghiên cứu tư tưởng của một con người, điều quan trọng
là phải căn cứ vào những luận điểm (mệnh đề, câu nói, v.v.) do người ấy phát
biểu. Đây là một thao tác không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học. Những
mệnh đề ngôn ngữ chính là hình thức vật chất của tư tưởng, là cái vỏ vật chất

Hồ Chí Minh sử dụng, cải còn lại mới là cái của riêng Hồ Chí Minh. Những
cách quan niệm như thế thể hiện một phương pháp siêu hình trong nghiên cứu
tư tưởng, và sẽ không thể đạt kết quả tốt, đặc biệt là khi nghiên cứu tư tưởng
phươns Đône.
Vậy là không thể không căn cứ vào những luận điểm cụ thể, nhưng
cũng không thể dừng lại ở những luận điểm cụ thể. Cách làm hợp lý nhất là
nghiên cứu các luận điểm cụ thể trong moi quan hệ với các luận điểm khác,
trong tỉnh hệ thống của nó và nhất là cần đặt vào hoàn cảnh lịch sử rộng lớn
8
mà nó xuất hiện. Cách làm này có cơ sở từ chính những nguyên lý căn bản
của phép biện chứng duy vật - nguyên lý về mối liên hệ phổ biển và nguyên
lý về sự phát triển của các sự vật hiện lượng. Neu như nghiên cứu các luận
diêm cụ thê là nghiên cứu cái riêng, cái cá biệt thì nghiên cứu các luận điểm
ấy trong tính hệ thống của nó chính là nhằm phát hiện ra cái chung, cái phổ
biến. Theo cách nói của những nhà triết học phương Đông là để phát hiện ra
cái “nhất dĩ quán chi”. Chính việc phát hiện ra tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt
qua các luận điểm cụ thể sẽ quay trở lại giúp chúng ta nhận thức các luận
điểm cụ thể dúns đắn hơn.
Với quan điểm xuất phát như thế, để góp phần làm rõ mối quan hệ giữa
tư tường đạo đức của Khổng tử với tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh, chúng
tôi sẽ không đi quá sâu vào những nội dung tư tưởng cụ thể, những luận điểm
cụ thể mà cố gắng có cái nhìn so sánh tổng thể: điểm xuất phát vấn đề đạo
đức, nội dung cơ bản trong tư tưởng đạo đức, những vấn đề có tính nguyên
tắc khi tiếp cận và giải quyết các vấn đề thực tiễn đạo đức.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ NGHIÊN cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xác định mục tiêu là: Tim
hiểu sự kế thừa và phát triển của Hồ Chí Minh đối với những nội dung tư
tưởng đạo đức cơ bản của Khổng tử.
Để đạt được mục tiêu nói trên, nhiệm vụ của luận văn là:
Thứ nhất, làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong tư tưởng đạo đức

đúng đắn hơn. sâu sắc hơn về tư tưởng Hồ Chí Minh.
10
* Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn có thê sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên,
nghiên cứu sinh khoa Triết học trong nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hổ
Chí Minh, đạo đức Hổ Chí Minh.
7. KẾT CÁU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung chính của luận văn gồm 2 chương. 4 tiết.
NÖI DUNG
Chuong 1
CÄC TlßN DE VÄ NÖI DUNG TU TUÖNG DAO DUC CÖ BAN
CÜA KHÖNG TU
1.1. Cäc tien de cho su hinh thänh tu’ tuffng dao due Khöng tu-
Khong tü (551- 479 trirac Cöng nguyen), ten Khäu, tu Trong Ni. Öng
lä ngiräi nuac Lö, sinh ra trong mot gia dinh quy toc nhö da sa süt.
Thöi dai cüa Khöng tü lä thai dai mä xä hoi Trung Quöc cö rät nhieu
bien dong säu säe tren tat cä cäc mät, cäc linh vue cüa dai söng xä hoi. Tren
binh dien chinh tri vä tö chüc xä höi, dö lä thai ky mä su thöng tri cüa nhä
Chu ngäy cäng suy yeu vä düng truac ba vue cüa sir sup do. Bä dao - dao cüa
chir hau nöi len län ät Vuong dao - dao cüa thien tü nhä Chu. Te Cänh Cöng
da tüng than thö: “Quän bat quän, thän bat thän, phu bat phu, tü bat tü” -
“Vua chäng ra vua, toi chäng ra toi, cha chäng ra cha, con chäng ra con” [11,
tr. 189],
Khöng tü dai dien cho bö phän quy töc cäp tien. Öng khöng chäp nhan
cäch mang, cüng khöng chäp nhan hien trang xä höi duang thai, mä muön cäi
tao nö, cäi tao theo hiröng khöi phuc lai nhung giä tri cö hCru cüa Chu Le. De
thirc hien y nguyen cüa minh, öng da mö truang day hoc, sang lap hoc thuyet
vä cüng hoc trö di truyen bä hoc thuyet cüa minh a nhieu nuac chu hau.
Hoc thuyet cüa Khöng tü chü yeu de cäp den nhirng van de chinh tri -

chư hầu không phục tùng vương mệnh, đem quân thôn tính lẫn nhau, tự xưng
13
Chúng ta đều biết rằng, sau khi tiêu diệt nhà Ân, Chu Võ vương lên
ngôi Thiên tử, lập nên nhà Chu (Tây Chu). Tuy nhiên, người có công lớn
trong việc xây dựng mô hình tô chức và cơ chế hoạt động cho toàn bộ chế độ
xã hội nhà Chu là Chu Công Đán (Chu Cône). Nhà Chu đã thực hiện chế độ
phong kiến (“phân phong kiến quốc”) để tổ chức và củng cố địa vị thống trị
của mình. Giữa chế độ phong kiến với quan hệ huyết thống có quan hệ mật
thiêt với nhau. Theo chế độ nàv, nguyên tắc con trưởng thế tập là rất quan
trọng, quán xuyến từ ngôi thiên tử đến tận tế bào xã hội là gia đình, tạo nên
một hệ thống thống nhất trong toàn xã hội, một chế độ quản lý xã hội dựa trên
quan hệ huyết thống. Sir phân chia tầng bậc trong mọi cấp độ tổ chức xã hội
cũng như giữa các tầng bậc ấy và di cùng với nó là những ranh giới không thể
vượt qua là điều kiện sống còn của cách thức tổ chức xã hội dưới thời nhà
Chu.
Với sự xuất hiện của các thế lực cát cứ không ngừng thôn tính tranh
đoạt lẫn nhau, sự hỗn loạn trong trật tự xã hội đã đẩy nhà Chu đến bờ diệt
vong. Mặt khác, nó cũng tạo ra một tỉnh trạng phi nhân tính đang thống trị
trong xã hội. Mọi mối quan hệ giữa con người với con người đều bị biến dạng
ghê gớm. Những chuyện con cái giết cha mẹ, anh giết em, vợ giết chồng đã
trở thành phổ biến. Các cuộc chiến tranh nổ ra liên miên đã đẩy nhân dân tới
tình trạng khốn cùng, V.V
Hiện thực xã hội đã đặt ra một vấn đề lớn: Cách thức tổ chức và quản
lý xã hội theo mô hình nhà Chu đã suy đòi, tỏ ra không còn có hiệu quả trên
thực tế. Vậy cần phải làm thế nào để thiết lập lại trật tự xã hội, đưa xã hội
vào thế ổn định đế phát triển?
Chúng ta có thể thấy rõ tính bức xúc của vấn đề này qua những điều ghi
chép trong sách Luận ngữ. Rất nhiều đoạn chép lại lời của Vệ Linh công, Quí
Klurcme tử, v.v , hái Khổng tử về cách thức cai trị, về sự lựa chọn giữa việc
14

những điện thờ đa thần giáo mang tính tản mát đã dần hình thành những điện
thờ có trật tự và tập trung theo hướne nhất thần giáo. Vai trò cùa các vị thần
đổi với đời sống xã hội vốn được tâm thức dân gian xây dựng nên dần bị tầng
lóp thống tri trong xã hội (vương quyền) nắm lấy. củng cố và tăne cường
thêm, và dựa vào dó củng cố và tăna cườne địa vị thống trị của họ trong xã
hội. Được
vương quyển sử dụng và trở thành một chồ dựa của vương quyền,
sức mạnh của các vị thần từ chỗ chỉ chi phối một cách vô hình trong đời sống
tinh thần của xã hội đã trở thành một sức mạnh hữu hình và chi phối đời sống
hiện thực dưới những hình thức cũng rất hiện thực - Thần quyền ra đời. Theo
nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ rõ, trong xã hội Trung Quốc thời nhà Hạ,
Thương (Ân), quyền lực của tầng lớp tăng lữ rất to lớn, thậm chí chi phối và
điều khiển cả những người làm chính trị. Lã Trấn Vũ đã viết trong cuốn Lịch
sử tư tưởng chính trị Trung Quốc như sau:
Uy quyền của bọn tăng lữ vu giáo về chính trị có thể trực
tiếp sai khiến cả nhà vua. A - Hành của Vu giáo là đại biểu có uy
quyền to nhất. Các đế vương trừ quyền quân sự ra còn đều là
công cụ cho bọn họ sử dụng cả [85, tr. 21-22].
Tuy nhiên, có một sự thật là trong điều kiện xã hội Trung Quốc đương
thời, tầng lớp thống trị không thể không sử dụng thần quyền để củng cố và
thực hiện vương quyền, nhưng lại không thể chấp nhận sự lấn át của thần
quyền đối với vương quyền. Với tính cách là lĩnh vực liên hệ mật thiết với đời
sống kinh tế và là “biểu hiện tập trung” của đời sống kinh tế - một lĩnh vực
thực dụng nhất, sớm hay muộn, lực lượng chính trị trần thế sẽ phải khẳng
định địa vị đứng trên của nó đối với lực lượng thần thánh, vương quyền sẽ
16
phủi khăng dịnh địa vị dứng trên của nó đối với thần quyền. Xu thể này dược
cung cấp cơ sở vừng chắc trên cơ sở con người từng bước khẳng định năng
lực hoạt động thực tiễn của mình trước các lực lượng tự nhiên và xã hội.
Xu thế trên đà trở thành hiện thực vào cuối thời Ân. Sách Thượns Thư

sự quan tâm đến đời sống của nhân dân. Thậm chí, những người cầm quvền
đã tiến hành thống nhất sức mạnh của thần quyền với sức mạnh của nhân dân,
chẳng hạn cái gọi là “thiên mệnh” tuy có uy quyền tối cao, song lại thể hiện ra,
thậm chí đồng nhất với “ý dân”. Những câu như: “Trời nhìn tự dân ta nhìn,
trời nghe tự dân ta nghe”, “sự sáng suốt ở trời thể hiện ra ở sự sáng suốt của
dân”, “dân muốn gỉ trời cũng theo”, V.V., không phải là ít trong cuốn sách này.
Điều đó nói lên rằng, việc quan tâm đến đời sống của nhân dân đã trở thành
một yêu cầu thường xuyên trong đời sổng chính trị ở các nước phương Đông
[85, tr. 48-49],
Như vậy, song song với quá trình vương quyền vượt lên trên thần
quyền và tiếp tục sử dụng thần quyền làm chỗ dựa cho vương quyền, thì xu
hướng đạo đức hóa chính trị cũng dần trở nên rõ nét. Đây chính là những tiền
đề tư tưởng quan trọng mà từ đó sẽ hình thành nên tư tưởng chính trị - đạo
đức của Khổng tử.
Đen cuối thời Xuân Thu, nghĩa là thời mà Khổng tử sống, sụ suy đồi
trong tầng lớp thống trị, sự khốn cùng của đời sống nhân dân đã một lần nữa
lay chuyển, và lần này là làm rung chuyến tận gốc rễ địa vị của thần quyền,
chính vì thế, hơn lúc nào hết, nhu cầu tìm kiếm nhừna, điểm tựa mới, trần tục
hơn, nhưng có sức mạnh hơn của tầng lớp thống trị đã được đặt ra một cách
cấp hách. Xu hướng vốn tiềm ẩn trong dòng tư tường chính trị Trung Quốc
khi dó là đề cao nhân to con người với những phẩm chất đạo đức nổi bật đã
ỉ ĐA I H O C Q U Ố C G IA HA NỌ|
-1 'ỉ!' rÂM THÔNG T!N THƯ VIỀN
18
bộc lộ mạnh mẽ. Xu hướne khách quan này đã được Khổng tử nhận thức và
nắm lấy. Chính vì vậy, học thuyết chính trị - dạo đức của ông mà nội dung
chính là sự “tập đại thành” khuynh hướng ấy đã được các tầng lóp thống trị
trong xã hội chuyên chế phương Đông sử dụng và đưa lên địa vị độc tôn.
Tóm lại, toàn bộ những điều kiện kinh tế - xã hội và những tiền đề tư
tưởng như trên vừa đặt ra vấn đề, vừa cung cấp điều kiện để giải quyết những

neười tạo phúc lớn cho thiên hạ là người có thể thi hành nhân đức, bình ổn xã
hội.
Đồng thời với việc đề cao địa vị của lĩnh vực chính trị, Khổng tử đặc
biệt nhấn mạnh đến nhân tố con người. Chính nhân tố con người sẽ quyết
định sự vận hành của bộ máy cai trị, quyết định chất lượng và hiệu quả của
các quyết sách chính trị. Khổng tử từng nói:
Việc chính trị của vua Văn vua Vũ bày ra ở trong sách.
Neu những người như vua Văn vua Vũ còn thì chính trị ấy được
thi hành, nếu những người ấy mất thì chính trị ấy ngừng. Đạo của
người làm cho chính trị hoá tốt, cũng như đạo của đất làm cho
cây tốt [39, tr. 246],
Đi đôi với việc đề cao nhân tố con người, Khổng tử có xu hướng né
tránh (chứ không phải là bác bỏ) những vấn đề liên quan đến các lực lượng
siêu nhiên, thần thánh, liên quan đến quỷ thần. Chẳng hạn trong thiên Ưng Dã,
Khổng tử nói: “Kính quỷ thần nhi viễn chi” - “tôn kính nhưng tránh xa quỷ
thần”, hay như trong thiên Thuật Nhi có ghi: “Tử bất ngừ: Quái, lực, loạn,
thần” - “Thầy Khổne không nói đến những vấn đề: Quái dị, bạo lực, làm loạn,
quỷ thần”, v.v
20
Việc Không tử dề cao nhân tổ con người chứ không phải là các lực
lượng siêu nhiên thần thánh, trong đời sống chính trị, xét trong bối cảnh xã
hội Trung Quốc dương thời, là một quan điêm tiến bộ, vừa phù hợp với sự
phát triển của đời sống xã hội, của hoạt động thực tiễn của con người, vừa
tiếp nổi và phát triển xu thế vận động nội tại của đời sống tư tường từ trước
đó. Đó là sự thừa nhận, đồng thời là sự khẳng định vai trò chù thể của con
nsười đổi với đời sống của chính mình - lưc lương thực sự có sức mạnh chi
phối đời sống xã hội của con người chính là con người chứ không phải là bất
cứ lực lượng siêu nhiên, thần thánh nào khác, và lĩnh vực có sức chi phối
mạnh mẽ nhất chính là chính trị. Chính ở đây, chúng ta sẽ thấy sự gặp gỡ giữa
Khổng tử - nhà tư tưởng chính trị 2500 năm trước - với Hồ Chí Minh - nhà tư

quốc Nho gia. Nói một cách cụ thể, Nho gia cho rằng: Mỗi người
đều có bản tính tiên thiên giống nhau, bản tính này đã quyết định
tính khả năng hậu thiên là thiện hay ác của con người; thông qua
giáo hoá đạo đức một cách chặt chẽ, mọi người đều có thể trở
thành quân tử; nhưng trong hiện thực xã hội, do sự không giổng
nhau về trình độ tiếp nhận giáo dục, mà tồn tại quân từ tiểu nhân.
Cho nên đạo trị quốc tốt nhất là dùng nhân nghĩa đạo đức rèn
luyện con người, tức là điều mà Khổng tử nói: đạo chi dĩ đức;
cuối cùng làm cho mọi người đều trở thành quân tử đạo đức [70,
tr. 40-41],
Chúng tôi tán thành với cách đặt vấn đề này. Không thể hoàn toàn và
đơn giản quy quan niệm của Khổng tử về quân tử và tiểu nhân thành quan
niệm về giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Có hai lý do để nói như vậy. Thứ
nhắt, Khổng tử là người nhiều lần phê phán gay gắt thực trạng xã hội đảo lộn,
22
“danh không chính, ngôn không thuận”, trong đó “vua không dúng với đạo
vua, tôi khôrm đúng với đạo tôi, và chính ông cũng phê phán thẳng thừng
không ít kẻ ở địa vị thống trị song lại không là quân tử, không có tầm suy
nghĩ và hành độna tương xứng với địa vị ấy. Thứ hai, Khống tử cho rằng dù
là bất cứ ai, một khi đã trải qua quá trình được giáo dục và tự giáo dục về đạo
đức thì đều có thể trờ thành chính nhân quân tử. Neu đồng nhất quan điểm
của Khổng tử về quan tử và tiểu nhân với quan niệm về các giai cấp thống trị
và bị trị thi sẽ không thể lý giải được quan điểm “hữu giáo vô loại” trong tư
tưởng giáo dục của Khổng tử - một vấn đề mà đối với ông có tầm quan trọng
không nhỏ trong việc thực thi chính đạo trong xã hội. Tất nhiên, trong tư
tưởng đạo đức của Khổng tử có thể hiện tính đẳng cấp khi thừa nhận người
đời cũng có bậc ‘‘thượng trí” và kẻ “hạ ngu”, song phải hiểu đó là tính đẳng
cấp xét về mặt thành tựu tu dưỡng đạo đức.
Để đi tới quan niệm về mẫu hình quân tử và tiểu nhân, Khổng tử trước
hết đã đặt vấn đề và tiến hành lý giải về bàn tính của con người. Quan niệm

người được xét trong quan hệ với người khác, trong sự gần gũi, cố kết nhau
lại thành cộng đồng.
Khi nói “tập tương viễn”, Khổng tử quan niệm rằng, con người về bản
tính là gần gũi nhau, cố kết nhau lại thành cộng đồng, nhưng để cộng đồng
tồn tại thi cần có sự phân biệt, hay nói cách khác, bản thân xã hội là một cộng
đồng các cá thể gắn kết với nhau trên cơ sở phân biệt nhau về địa vị và chức
phận. Đe thấy ra người khác giống với mình, cũng như để người khác thấy
mình giống với họ, từ đó sần gũi, cố kết với nhau, thi điều cần thiết chính là
phải phân biệt được minh với người khác. Thực chất đây là hai mặt của cùng
một thể thống nhất trong quan hệ của con người, và hai mặt này sinh thành ra

Trích đoạn Quan niệm của Khổng tử về mẫu hình con người lý tưởng Quan niệm của Khổng tử về các phạm trù đạo đức cụ thể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status