Lời mở đầu
Lịch sử lập hiến Việt nam được đánh dấu bằng bốn bản hiến pháp : hiến
pháp năm 1946, hiến pháp 1959, hiến pháp 1980 và hiến pháp 1992 mà thời điểm
ra đời của mỗi hiến pháp gắn liền với thời điểm có tính chất đổi mới của cả dân
tộc. Tuy tuổi đời chưa nhiều nhưng nền lập hiến Việt Nam đã phản ánh được một
thời kỳ pháp triển sôi động khẩn trương của xã hội Việt Nam, đã đạt đến độ trưởng
thành. Có thể từ đó rút ra điểm chung, tính phổ biến của các nền lập hiến nói chung
vừa có thể rút ra những nét đặc thù, những nét đặc trưng ít trùng lặp trong quá trình
phát triển và kế thừa của các hiến pháp Việt Nam về chế độ chính trị, kinh tế, văn
hóa, giáo dục, tư tưởng, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… “ Sự kế thừa và
phát triển các quyền về văn hoá, giáo dục của công dân trong lịch sử lập hiến Việt
Nam” cũng là một trong những nét đặc thù như vậy.
Nội dung
I.Sự ra đời và phát triển của nền lập hiến Việt Nam
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta là một nước thuộc địa nửa
phong kiến với chính thể quân chủ chuyên chế và không có hiến pháp. Sau khi đọc
bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày
2/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của chính phủ ngày 3/9/1945 , chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của chính phủ, một trong số đó là xây dụng
hiến pháp. Vào ngày 9/11/1945, tại kỳ họp thứ II quốc hội khoá I, bản hiến pháp
đầu tiên của nước ta đã được quốc hội thông qua. Nhưng ngay sau đó thực dân
Pháp lại gây chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa. Với chiến thắng Điện Biên
Phủ và hiệp đinh Giơvevơ thắng lợi, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng
nhưng đất nước còn tạm thời chia làm hai miền. Hiến pháp 1946 đã hoàn thành sứ
mệnh của nó nhưng so với nhiệm vụ và tình hình cách mạng mới nó cần được thay
đổi và bổ sung. Vì vậy vào ngày 31/12/1959, tại kì họp thứ XI, quốc hội khoá I,
1
hiến pháp mới đã được thông qua. Và thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh
lịch sử mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc ra đã được mở ra một giai đoạn mới :
đất nước hoàn toàn độc lập, tự do. Hoàn cảnh này đòi hỏi phải có một bản hiến
pháp mới thay thế hiến pháp năm 1959. Tại kì họp thứ VII quốc hội khoá VI, ngày
Học trò nghèo được chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo
chương trình nhà nước”. Quy định hiến pháp về quyền học tập hoàn toàn phù hợp
với điều kiện hoàn cảnh ở nước ta lúc bấy giờ : Sau khi giành được độc lập và có
tới 90% số dân Việt Nam mù chữ. Bởi vậy diệt giặc dốt là một trong những nhiệm
vụ cấp bách và vô cùng quan trọng của nhà nước và toàn dân. Hiến pháp 1946 chỉ
có một điều quy định về giáo dục bởi lẽ khi đó nước ta mới giành được độc lập, lại
đang chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần 2.
trình độ khoa học, kĩ thuật, dân trí còn thấp kém nên chưa có đủ khả năng và điều
kiện về vật chất, tinh thần để hiến pháp 1946 quy định các quyền công dân khác về
khoa học kĩ thuật, văn hoá và nghệ thuật.
Nhưng văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, khoa học, kĩ thuật lại là các lực lượng
hoạt động xã hội nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam hiện đại đậm
đà bản sắc dân tộc, góp phần hình thành và nâng cao ý thức công dân, bồi dưỡng
nhân cách và tâm hồn con người Việt Nam, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ người lao
động có phẩm chất và trình độ, xây dựng nền sản xuất tiên tiến. Vì vậy nó có vai
trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc đấu
tranh giải phóng miền Nam sau khi hiệp định Giơnevơ được kí kết. Với mục tiêu,
nhiệm vụ như vậy, hiến pháp 1959 đã kế thừa, phát triển và mở rộng các quyền văn
hoá giáo dục công dân bằng những quy định được thể hiện ở điều 33 và 34. Ngoài
quy định về quyền học tập (điều 33) đã được ghi nhận từ hiến pháp 1946, hiến
pháp 1959 còn có những quyền mới về văn hoá : quyền tự do nghiên cứu khoa học,
3
quyền sáng tác văn học. nghệ thuật, và tiến hành các hoạt động văn hoá khác (điều
34). Nhằm bảo đảm các quyền này, tại điều 34, hiến pháp 1959 còn quy định nhà
nước khuyến khích và giúp đỡ tính sáng tạo của những công dân theo đuổi sự
nghiệp khoa học, văn học, nghệ thuật và các sự nghiệp văn hoá khác. Ngoài ra ở
điều 33 về quyền học tập của công dân, hiến pháp 1959 còn bổ sung quy định về
nghĩa vụ trách nhiệm của nhà nước trong việc phát triển các hình thức giáo dục,
thực hiện từng bước chế độ giáo dục bắt buộc, phát triển dần các trường học, cơ
quan văn hoá, phát triển các hình thức giáo dục bổ túc văn hoá, kỹ thuật, nghiệp vụ
bổng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân học tập”. Kế thừa các bản hiến pháp
trước, hiến pháp 1980 cũng quy định học tập là quyền của công dân. Tuy nhiên,
không dừng lại ở mức độ là một quyền, hiến pháp 1980 còn nâng học tập lên thành
nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người. Điều này cho thấy nhà nước đặc biệt quan
tâm, chú trọng tới vấn đề giáo dục, nâng cao dân trí. Để lí giải được sự phát triển
tiến bộ này, chúng ta căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử, hiến pháp 1959 ra đời trong
hoàn cảnh đất nước bước vào một giai đoạn cách mạng mới, miền Bắc tiến hành
cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân. Nhiệm vụ cấp bách được đặt ra là phải đánh đổ đế quốc, thống nhất đất
nước đòi hỏi toàn dân phải ra sức thi đua, sản xuất và chiến đấu nên thực hiện
nghĩa vụ học tập rất khó khăn. Đến hiến pháp 1980, bản hiến pháp này ra đời trong
hoàn cảnh đất nước thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội, người dân có điều kiện
để học tập, đất nước có nhu cầu phải phát triển nên học tập đã được nâng lên thành
nghĩa vụ. Ngoài ra, nhà nước đã xác lập chế độ bao cấp về học tập bằng việc quy
định “tiến hành tưng bước chế độ giáo dục phổ thông bắt buộc” . và đề ra những
quy định mới để khuyến khích công dân học tập : “tiến hành chế độ học không trả
tiền và chính sách cấp học bổng”. Có thể thấy điều này đã góp phần thể hiện tính
5