Sự hình thành xã hội dân sự ở Việt Nam thực trạng và giải pháp - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Thi Phương

Sự hình thành xã hội dân sự ở Việt Nam: thực trạng
và giải pháp

Luận văn ThS. Triết học: 60 22 80

Nghd. : GS.TS. Dương Xuân Ngọc
ba thành phần là: NNPQ, KTTT và XHDS. Đây là ba trụ cột của phát triển và vì
thế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa ba yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
Thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới cho thấy một XHDS mạnh có vai trò
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thông qua
những tác động tích cực đến sự phát triển của nền KTTT và hoàn thiện NNPQ,
bằng việc trực tiếp tự giải quyết những nhu cầu của người dân và cộng đồng.
XHDS là phương thức quan trọng để người dân tham gia vào công việc nhà
nước và xã hội. XHDS còn là phương thức kiểm soát quyền lực từ phía xã hội
đối với nhà nước, giám sát hoạt động của bộ máy công quyền.
Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, cùng với
phát triển KTTT định hướng XHCN, xây dựng NNPQ và dân chủ hoá đời sống
xã hội đang là môi trường lý tưởng cho XHDS hình thành và phát triển. Có thể
thấy Việt Nam đang đứng trước đòi hỏi dân chủ hoá xã hội rất lớn. Theo đó, yêu

2
cầu xây dựng XHDS bắt nguồn từ trong chính sự vận động và phát triển của xã
hội.
Hơn thế nữa, sự phát triển của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta
không chỉ tạo nên nền tảng vật chất cho XHDS có cơ hội phát triển mà còn tạo
ra cơ chế giải phóng các nguồn lực, trong đó có nguồn lực con người. Con người
được tự do phát triển theo pháp luật và đạo lý, dẫn đến sự tham gia của người
dân một cách chủ động, tự giác và tích cực hơn, đa dạng và thiết thực hơn vào
các tổ chức xã hội vì nhu cầu, lợi ích của mỗi thành viên và của cả cộng đồng.
KTTT đã tạo ra điều kiện kép cho sự hình thành và phát triển của XHDS - cơ sở
vật chất và sự tự do của những con người được giải phóng.
Cùng với việc thừa nhận phát triển KTTT định hướng XHCN, quá trình đổi
mới hệ thống chính trị nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN bảo
đảm toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân đã thu được những thành tựu đáng
khích lệ. Chính quá trình dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội, quá trình xây

điểm của Locke rằng XHDS được tạo ra bởi của cải, lao động, trao đổi và tiêu
dùng, Adam Smith đã xem xét XHDS với tư cách là lĩnh vực của nhu cầu do thị
trường tổ chức nên, được dẫn dắt bởi động lực là tư lợi của sở hữu tư nhân.
XHDS được coi như lĩnh vực tự trị, tự quản có thể biến sự đấu tranh vì được lợi
của cá nhân thành hàng hoá công cộng.
Quan niệm thứ hai bắt đầu từ Alexis de Tocqueville (1805 - 1859), một nhà
chính trị học người Pháp. Ông coi XHDS là lĩnh vực trung gian của các tổ chức
tự nguyện được duy trì bởi văn hoá tự tổ chức và hợp tác.
Các nghiên cứu trên thế giới có thể chia thành hai mảng lớn:
1. Nghiên cứu lý luận về XHDS.
2. Nghiên cứu thực tế về các mô hình, tổ chức XHDS trong thực tiễn.
Các nghiên cứu lý luận về XHDS, tập trung theo hai hướng tiếp cận chính:
Tư tưởng cổ điển coi quyền công dân như một thuộc tính được quyết định bởi
cộng đồng chung hơn là từng cá nhân, coi phẩm hạnh là sự phục tùng của ý chí
cá nhân trước ý chí chung của cộng đồng. Ngược lại, trào lưu tự do định nghĩa
quyền công dân như một thuộc tính cá nhân. Chính là chủ quyền tối cao của ý
chí và sự phán xét cá nhân xác lập con người như một thành viên của XHDS chứ
không phải là mệnh lệnh của một khái niệm trừu tượng như một cộng đồng hay

4
công cộng. Đứng ở trung tâm của trường phái tư tưởng này là sự quan tâm của
cá nhân này đối với những cá nhân khác, thừa nhận sự phụ thuộc qua lại, và khả
năng hành động hợp tác với nhau. Cá nhân vẫn được xem xét trong mối quan hệ
với xã hội như động lực thúc đẩy hành động vì lợi ích công cộng nằm ngay
trong mỗi cá nhân chứ không phải là sự áp đặt của xã hội lên bản thân cá nhân
đó.
Các nghiên cứu thực tế về mô hình và các tổ chức XHDS trên thế giới, đã
khảo sát các XHDS ở các nước đặc biệt là các nước châu Âu, châu Mỹ và một
số nước châu Á, theo dõi và nghiên cứu sự vận động của các mô hình XHDS
này.

niệm này, chỉ ra sự kế thừa và phát triển khái niệm ở các nhà tư tưởng khác
nhau, bước đầu thống nhất được các nguyên tắc hoạt động cơ bản của XHDS.
Tiêu biểu là các công trình sau: Thế nào là "xã hội công dân"?(2006) của tác giả
Quý Đỗ, Xã hội dân sự: Khái niệm và các vấn đề(2007) của Bùi Quang Dũng,
Hoàng Ngọc Giao với bài viết Bàn về xã hội dân sự (2006), Quan niệm về “xã
hội công dân” trong tư tưởng chính trị phương Tây(2006) của Bùi Việt Hương,
Tìm hiểu khái niệm xã hội dân sự(2006) của Nguyễn Như Phát Các công trình
này đều tìm cách tiếp cận, đưa ra những quan niệm về XHDS, làm rõ những đặc
trưng, vai trò, bản chất của XHDS.
Các học giả tập trung nghiên cứu XHDS trong mối quan hệ với NNPQ,
KTTT, liên quan đến những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam như xây
dựng NNPQ XHCN, xây dựng XHDS ở Việt Nam. Trước hết vấn đề XHDS
được nghiên cứu trong mối quan hệ với Nhà nước pháp quyền, và sau đó là
trong mối quan hệ kinh tế thị trường - Nhà nước pháp quyền – XHDS, trong đó
nhà nước pháp quyền là trung tâm. Tiêu biểu là các công trình: Xây dựng nền
dân chủ XHCN và nhà nước pháp quyền (1992) của tác giả Đỗ Nguyên Phương-
Trần Ngọc Đường, Mối quan hệ pháp lý giữa cá nhân công dân với nhà nước
(1994) của Trần Ngọc Đường - Chu Văn Thành, Quan hệ giữa Nhà nước và
XHDS Việt Nam, lịch sử và hiện đại (2004) của Lê Văn Quang, Mối liên hệ giữa
nhà nước với XHDS và vấn đề cải cách hành chính (2004) của Đào Trí Úc, Xây
dựng nhà nước pháp quyền từ sự hình thành XHCD (2004) của Nguyễn Thanh

6
Bình, Về mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền XHCN với đời sống XHDS
(2004) của Văn Đức Thanh, Một số vấn đề lý luận về quan hệ nhà nước, xã hội
và công dân trong nhà nước pháp quyền (2005) của Trần Hậu Thành v.v
Các công trình này chủ yếu trình bày những vấn đề cơ bản về quyền con
người, về NNPQ và quan hệ giữa xây dựng NNPQ với hình thành XHDS ở nước
ta. Nội dung cơ bản là: NNPQ phải được xây dựng trên cơ sở XHDS và trở thành
một bộ phận của XHDS. Trong một cơ cấu xã hội ngày càng hoàn thiện - tức

của người dân) đã thực hiện dự án nghiên cứu về XHDS ở nước ta. Kết quả
nghiên cứu gần đây nhất được công bố trong công trình Đánh giá ban đầu về
XHDS tại Việt Nam (H., 2006). Trên cơ sở phân tích bối cảnh lịch sử của
XHDS, hoạt động của các tổ chức, nhóm nghiên cứu đã phân tích XHDS theo
4 bình diện: cấu trúc, môi trường, các giá trị, tác động. Các tác giả đánh giá
những điểm mạnh, điểm yếu của XHDS Việt Nam và đưa ra những giải pháp
hoàn thiện XHDS ở Việt Nam.
- Dương Xuân Ngọc (2006): Về cách tiếp cận XHDS và xây dựng XHDS ở
Việt Nam, Website Học viện Báo chí và tuyên truyền. Tác giả khẳng định, từ
những năm 90 của thế kỷ XX, trên phạm vi toàn cầu, vai trò của các tổ chức
XHDS ngày càng được khẳng định. Ở Việt Nam, từ khi đất nước tiến hành công
cuộc đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy chính trị, việc nhìn nhận và
đánh giá về vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội cũng ngày càng cởi mở và
thực chất hơn. Và, do đó các tổ chức xã hội cũng có cơ hội phát triển và phát
huy vai trò to lớn của mình không chỉ trong lĩnh vực xã hội mà cả trong các lĩnh
vực kinh tế, chính trị. Tác giả cho rằng, ở nước ta, chỉ có thể xây dựng được Nhà
nước pháp quyền khi có XHDS thực sự.
Theo tác giả, để tiến tới việc đánh giá tổng thể về XHDS Việt Nam cần có
sự thống nhất một cách tương đối về: quan niệm về XHDS, chức năng của nó;
xác định các lĩnh vực của XHDS (nội hàm của XHDS); khẳng định những yếu
tố nền tảng bảo đảm cho việc xây dựng XHDS Việt Nam; cần quan tâm đến
những định hướng lớn để xây dựng và hoàn thiện XHDS ở Việt Nam. Trên cơ

8
sở đó, cần kết hợp với kinh nghiệm của các nước đi trước, chúng ta sẽ định hình
hệ thống những giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện XHDS Việt Nam.
Gần đây, trong cuốn sách: Xã hội dân sự một số vấn đề chọn lọc do
Nguyễn Duy Phú (chủ biên 2008) đã phân tích về lịch sử hình thành và những
khái niệm cơ bản của XHDS, đồng thời làm rõ XHDS trong bối cảnh phát triển
của thế giới. Các tác giả cũng đã chỉ ra tình hình và đặc điểm của XHDS ở Việt

- Bước đầu đề cập đến vai trò, chức năng, cấu trúc của XHDS ở Việt Nam
hiện nay, theo đó, cấu trúc của XHDS bao gồm một hệ thống tổ chức, thiết chế,
bộ máy và các nguồn lực để hoàn thiện và phát triển con người.
- Một số nghiên cứu đã bước đầu mô tả về XHDS, cũng như đã chỉ ra một
số tác động tích cực và những hạn chế của XHDS ở nước ta trong công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước. Đồng thời, đã chỉ ra một số rào cản làm cho hạn
chế sự phát triển XHDS và bước đầu đưa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sự
phát triển XHDS ở nước ta trong mối quan hệ với xây dựng NNPQ XHCN. Một
số tác giả cũng chỉ ra cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn để xây dựng XHDS ở Việt
Nam cũng như xu hướng vận động và phát triển của nó.
Tóm lại, hiện nay vấn đề XHDS đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của
nhiều nhà khoa học, nhưng kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu, chưa có công
trình nào nghiên cứu về đặc điểm, bản chất cũng như cơ sở kinh tế, chính trị và
văn hoá của XHDS ở Việt Nam. Các nghiên cứu chưa đưa ra được một hình
thức tổ chức hay đề xuất phương phương thức hoạt động của XHDS phù hợp
với nền KTTT và NNPQ XHCN. Đặc biệt chưa có một công trình nào nghiên
cứu về sự hình thành XHDS ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn
Làm rõ quá trình hình thành XHDS ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất giải
pháp xây dựng và phát triển XHDS ở Việt Nam.
- Nhiệm vụ của luận văn là:
+ Lược khảo lịch sử tư tưởng về XHDS.
+ Làm rõ khái niệm, bản chất, đặc điểm và chức năng của XHDS.
+ Khái quát về quá trình hình thành XHDS Việt Nam trong lịch sử.

10
+ Đánh giá khách quan thực trạng của quá trình hình thành XHDS ở Việt
Nam - những thách thức và thuận lợi.
+ Đề xuất những phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện XHDS

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ
SỰ HÌNH THÀNH XÃ HỘI DÂN SỰ VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ
1.1. Khái lƣợc lịch sử tƣ tƣởng về xã hội dân sự
1.1.1.Tư tưởng phương Tây về xã hội dân sự
Khái niệm xã hội dân sự chúng ta đang sử dụng được dịch ra từ thuật ngữ
“Civil society”. Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử cũng như ở
mỗi quốc gia phương Tây, nội hàm của khái niệm “Civil society” được hiểu rất
khác nhau.
Thời kỳ cổ đại
Khái niệm xã hội dân sự (koin nia politika) được Aristotle dùng đầu tiên
vào thời cổ đại Hy Lạp trong tác phẩm Chính trị. Các nhà nghiên cứu cho rằng,
vào thời đó, politika (mà sau này thường được dịch là “chính trị”) là một phạm
trù rộng lớn, bao gồm tất cả các mặt quan trọng nhất của đời sống xã hội: gia
đình, tôn giáo, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật Nó bắt nguồn từ từ polis có nghĩa
là Thành bang (City-state), hay cộng đồng dân cư thành bang, tức là một cộng
đồng xã hội nhất định. Thành ra, khi Aristotle định nghĩa “con người là động vật
chính trị” thì điều đó cũng đồng nhất với “con người là động vật xã hội”. Thành
viên của polis hay politika được coi là công dân. Đó là thành viên của một quốc
gia, phải sống và hoạt động theo luật pháp quốc gia và không được gây hại cho
các công dân khác. Trong học thuyết của Aristotle về con người, polis là cộng
đồng do con người tạo ra để đáp ứng nhu cầu tự nhiên của con người muốn hoàn
thiện mình để có cuộc sống hạnh phúc và thánh thiện, thực hiện mục đích tự
thân, bản chất của con người. Mục tiêu tối thượng của polis là đảm bảo sự phát
triển và hình thành nhân cách của các thành viên trong cộng đồng, trong đó,
“chính trị” là sự định hướng hành động của mỗi cá nhân để đạt tới mục đích
chung của cả cộng đồng. Polis là cộng đồng của những công dân tự do, tự chịu
trách nhiệm về hành động của mình, cùng nhau chia sẻ việc điều hành cộng
đồng hướng đến mục đích phát triển chung nhằm đạt tới cuộc sống toàn thiện.
Polis là nơi mà hoạt động cũng như mọi sinh hoạt xã hội khác của một cá nhân


hội cho trạng thái tự nhiên, cho việc đề cao tính cá nhân và tinh thần hiệp hội

13
đang nổi lên thời kỳ đó và đó chính là cơ sở lịch sử khiến xuất hiện khái niệm
XHDS thời kỳ đó” [11, 36].
J. Rodin, nhà chính luận và kinh tế học người Pháp vào thời xảy ra các
cuộc chiến tranh tôn giáo, đã đưa ra nguyên lý về tính tối thượng của nhà nước
(nhà nước - dân tộc). Theo ông, nhà nước có quyền tối thượng đối với tất cả các
thành viên xã hội và tất cả thuộc về nó. Nhà nước chỉ hình thành khi những
thành viên tản mạn của xã hội thống nhất lại dưới một quyền lực thống nhất.
Quan niệm đó đã nêu rõ trách nhiệm của nhà nước đối với các thành viên của xã
hội. Đồng thời, trong tác phẩm Bàn về cộng hoà, ông đã đề xướng thiết lập một
chế độ quân chủ ôn hoà với sự tham gia của các hội đồng đại biểu.
T. Hobbes, người coi trạng thái tự nhiên của xã hội là “chiến tranh của tất
cả chống lại tất cả”, cũng đặt rất cao vị trí của nhà nước. Ông cho rằng, nhà
nước có sứ mệnh khắc phục trạng thái “chiến tranh” ấy bằng cách thiết lập một
sự thoả thuận giữa tất cả các thành viên của xã hội. XHDS nảy sinh trên cơ sở
thoả thuận ấy được coi là đồng nghĩa với nhà nước và những luật pháp của nó.
Nói cách khác, Hobbes coi trạng thái tự nhiên của xã hội là tiêu cực, trong đó,
người là chó sói đối với người, nhưng lại coi XHDS là tích cực, trong đó, mọi
người đánh đổi tự do tuyệt đối lấy sự an ninh của mình (nhà nước bảo trợ).
XHDS là khái niệm cơ bản nhất để giải thích vì sao xã hội lại tồn tại và vì
sao các cá nhân lại chấp nhận sống trong xã hội, tham gia vào các tổ chức tự
nguyện và chấp nhận sự hợp pháp của những quyền lực bên ngoài đối với bản
thân họ trong khi xã hội đó, theo những cách khác nhau ngăn cản họ làm những
việc mà họ muốn làm. XHDS bắt đầu sự trao đổi, từ khế ước xã hội. Chính khế
ước xã hội đã đưa con người từ trạng thái “tự nhiên” sang trạng thái “công dân”.
J. Locke cho rằng một xã hội là một cộng đồng được ràng buộc chia thế giới
thành một bên là những người được chấp nhận và an toàn khi kết hợp với nhau
và một bên là những người không được kết nạp vào cộng đồng và phải đối mặt

thực hoá mục đích đạo đức của mình thông qua các nghĩa vụ do chính họ đặt ra
cho bản thân mình.
Khái niệm XHDS được Kant đề cập đến trong mối liên hệ với cơ sở luân lý
(đạo đức) của con người và xã hội với khái niệm tự do của con người. Khi bàn
về nền tảng của cuộc sống con người, Kant đã đồng ý với quan điểm của các

15
triết gia Hy Lạp cổ rằng, lợi ích cá nhân vị kỷ không thể là nền tảng của cuộc
sống con người. Theo Kant, nền tảng của XHDS phải dựa trên cơ sở nghĩa vụ
luân lý (đạo đức) cao cả là nghĩa vụ thống nhất mọi cá nhân con người trong tất
cả các xã hội. Cuộc sống của con người phải được xây dựng trên nền tảng đạo
đức phổ quát phù hợp sao cho con người có thể tự hành động và hành động có
trách nhiệm trong xã hội. Kant cho rằng, con người tự do về mặt đạo đức bởi vì
họ có thể biết điều gì là đúng (nên làm) mà không cần phải chỉ bảo hay ép buộc
từ bên ngoài. Con người có đạo đức là con người có khả năng tự đưa ra những
quy tắc đạo đức phù hợp cho chính bản thân họ. Triết học phê phán của Kant chỉ
ra sự khác biệt cơ bản giữa thế giới tự nhiên và thế giới đạo lý. Nhiệm vụ của
Đạo đức học phê phán là dựa vào “nhận thức lý tính thông thường về luân lý” để
tìm tòi và phát biểu những quy luật của cái phải là có giá trị phổ quát, vô điều
kiện. Theo Kant, tự do không phải là hành động theo ý thích tuỳ tiện của cá nhân
mà phải hành động theo cái phải là (mệnh lệnh tuyệt đối).
Trong quan điểm của Kant, chính trị phải dựa trên đạo đức. Các mối quan
hệ giữa người với người, các mâu thuẫn và xung đột phải được điều tiết và giải
quyết dựa trên các chuẩn mực phổ quát của mệnh lệnh tuyệt đối. Trong triết học
của Kant, con người không được hiểu là phương tiện mà phải là mục đích của
mọi hành động, do vậy XHDS là một nước cộng hoà được tổ chức dựa trên sự
tôn trọng tự do, bình đẳng và độc lập. XHDS là một lĩnh vực công tự do có thể
kết hợp tính cá biệt với tính phổ quát và sự đối kháng với tính thành viên thông
qua những cơ chế của một nền cộng hoà hoạt động theo pháp luật. Sẽ không có
tự do nếu không có pháp luật và không thể có XHDS mà không có nhà nước.

Chỉ có một quyền công cộng tối cao - tức là một nhà nước hợp hiến - mới có thể
giải quyết được những xung đột của XHDS với tính bất công của nó, mới tổng
hợp được những lợi ích cụ thể thành một cộng đồng chính trị chung.
Theo Hegel XHDS phải phục tùng nhà nước, vì chỉ có như vậy nhà nước
mới có thể bảo đảm quyền tự do cho nó. Tuy nhiên, XHDS vẫn là một yếu tố
cộng đồng có tổ chức về mặt chính trị. Sự liên kết giữa các thành viên trong
XHDS được dựa trên việc đáp ứng các nhu cầu và lợi ích.

17
Có thể nói trong quan niệm của Hegel thì XHDS là một “trung giới” quan
trọng trong sự hình thành của nhà nước hiện đại với tư cách là sự hiện thực hoá
của „tinh thần tuyệt đối‟.
Triết học phương Tây hiện đại
Đến thế kỷ XIX, nội dung của thuật ngữ “xã hội dân sự” đã trở nên đa
dạng. Các nhà xã hội học, đặc biệt là Tocqueville đã định nghĩa XHDS là lĩnh
vực đời sống công cộng ngoài gia đình, được tạo ra bởi sự gia tăng các tổ chức
xã hội tự thân. Sau này người ta nhấn mạnh vào sự tự nguyện, tinh thần cộng
đồng và đời sống hiệp hội, coi đó là đặc trưng bản chất của khu vực dân sự,
cũng chính nó góp phần vào hoạt động có hiệu quả của nhà nước.
“Cuối thế kỷ XIX, xã hội dân sự trở thành trung tâm hoạt động chính trị tự
do chống lại sự độc tài sau những bài viết của A. Gram-xi (1891-1937). Gram-xi
đã mở rộng khái niệm nhà nước của Hegel, cho rằng nhà nước là phép cộng của
xã hội chính trị và XHCD. Tuy nhiên, Gram-xi tiến tới một khái niệm hẹp hơn
về nhà nước, theo đó, nhà nước đồng nghĩa với xã hội chính trị và đối lập với
XHCD. XHCD là lĩnh vực của văn hoá, tư tưởng, cụ thể hơn, đó là lĩnh vực của
các tổ chức (như nhà thờ, nghiệp đoàn ) thông qua đó, nhà nước, trong điều
kiện bình thường, duy trì sự thống trị của mình. Khi sử dụng nhà nước theo
nghĩa hẹp, tức là nhà nước ngang bằng với xã hội chính trị, ông cho rằng XHCD
hoạt động như một lớp ở giữa nhà nước và cấu trúc kinh tế” [21, 63].
Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đồng nhất XHDS với các tổ chức xã hội,

đặc biệt, bởi những hình thức quan hệ và đấu tranh giai cấp được bảo vệ bởi
những cơ chế chính trị - pháp lý tương ứng [xem: 30, 12].
Trong các tác phẩm giai đoạn đầu, đặc biệt là trong bản thảo “Góp phần
phê phán triết học pháp quyền Hegel” (1843), K. Marx trực tiếp chống lại những
ý kiến của Hegel về XHDS và nhà nước. Ở đây, ông vừa chống lại sự tuyệt đối
hoá nhà nước của Hegel, vừa phê phán cơ sở chủ yếu của XHDS là chế độ sở
hữu tư nhân. Theo Marx, không phải nhà nước như là “đỉnh cao của toàn bộ
ngôi nhà”, mà ngược lại xã hội công dân bị Hegel rất coi thường, đây mới là lĩnh

19
vực người ta phải đi vào, để tìm ra chiếc chìa khoá, qua đó hiểu được quá trình
phát triển lịch sử của loài người [xem: 28, 307-506].
Trong các tác phẩm sau này, khi chuyển hẳn sang lập trường chủ nghĩa duy
vật, K. Marx hầu như không nói tới những nền tảng tinh thần, tôn giáo của
XHDS nữa. Ông chỉ nói tới những nền tảng vật chất của nó: các phương thức
sản xuất của xã hội.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1845 - 1846), K. Marx và F. Engels đã
sử dụng khái niệm “Xã hội dân sự” để chỉ toàn bộ các quan hệ giao tiếp vật chất
của cá nhân trong một giai đoạn phát triển nhất định của phương thức sản xuất
trong đó đặc biệt phải kể đến quan hệ giao tiếp trong quan hệ sản xuất; và đóng
vai trò là cơ sở của toàn bộ lịch sử (sinh hoạt nhà nước, sản phẩm lý luận, mọi
hình thái ý thức v.v hay của nhà nước và kiến trúc thượng tầng tư tưởng). Về
đối ngoại, nó thể hiện ra như một dân tộc và về đối nội nó vẫn phải tự tổ chức
thành một nhà nước [xem: 30, 52-54]. Và trong một tác phẩm khác K. Marx và
F. Engels đã khẳng định: “Không phải Nhà nước chế định và quyết định XHDS
mà XHDS chế định và quyết định nhà nước” [31, 321].
XHDS chính là sự biểu hiện trên mặt quan hệ sản xuất của phương thức sản
xuất TBCN, chứa đựng những đối kháng không thể dung hoà - một bên là giai
cấp tư sản nắm mọi tư liệu sản xuất và của cải, và bên kia là giai cấp vô sản bị
vét cạn sức lao động để duy trì chế độ xã hội đó. Sự đối kháng trong lòng XHDS

con người cá nhân vị kỷ, nô lệ cho kinh tế thị trường, nô lệ cho nhu cầu hám lợi
của mình và của người khác.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và chức năng của xã hội dân sự
1.2.1. Khái niệm và bản chất xã hội dân sự
Trước khi phân tích khái niệm XHDS cần làm rõ hai thuật ngữ: “xã hội
dân sự” và “xã hội công dân”, hai thuật ngữ đó có đồng nghĩa hay không? Theo
chúng tôi hai thuật ngữ đó là không đồng nghĩa. Khái niệm XHDS có nội hàm
phong phú hơn khái niệm XHCD. Lúc mới ra đời, quan niệm về XHDS gần như
đồng nhất với quan niệm về XHCD, nhưng trong quá trình phát triển của
phương diện tư duy nhận thức lẫn ở phương diện hiện thực hai khái niệm đó dần
dần tách khỏi nhau và được phân định rõ nội hàm của mình. Điều đó thể hiện ở
chỗ người công dân là con người với tất cả những đặc tính, đặc điểm phong phú

21
của nó, bởi vậy không thể quy toàn bộ tính phong phú đó vào trong khái niệm
“công dân”. Cùng với sự phát triển toàn diện xã hội, vai trò của cá nhân càng
được đề cao và nổi bật, ngày càng được tôn trọng, mối quan hệ giữa các cá nhân
ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn và ngoài mối quan hệ với Nhà nước
họ còn có nhu cầu thiết lập quan hệ với nhau dưới những hình thức đa dạng
thích hợp.
Thực tế, ở Việt Nam chưa có một văn bản pháp lý nào trực tiếp đưa ra
định nghĩa về “XHDS” hay “XHCD”. Hiện nay khuynh hướng sử dụng
“XHDS” trở nên phổ biến hơn.
Thường thì người ta hiểu XHDS là cộng đồng dân cư (theo quốc tịch) của
một quốc gia. Cộng đồng ấy có thể bao gồm nhiều sắc tộc, và nhiều nền văn hoá
khác nhau, nhưng cùng chịu sự quản lý từ một chính quyền trung ương.
Mạch nguồn tư tưởng có tác dụng xâu chuỗi các triết thuyết trong lịch sử
để hình thành nên cách hiểu truyền thống về XHDS, đó là các luận điểm cho
rằng:
Nền kinh tế thị trường đã tạo ra hai tiền đề cốt tử cho việc ra đời XHDS:

XHDS chỉ khai nở trọn vẹn ở các quốc gia dân chủ.
Sự phát triển tiếp theo sau này của nền kinh tế thị trường và mô hình nhà
nước đã làm nảy sinh nhiều chiều cạnh mới của khái niệm XHDS (hoặc mở rộng
hơn, hoặc thu hẹp lại ngoại diên - tùy từng trường phái) và gây ra những cuộc
thảo luận lớn xung quanh khái niệm này. Về đại thể, bên cạnh cách hiểu truyền
thống, các học giả hiện nay đưa ra những cách hiểu chính về XHDS như sau:
1. XHDS là lĩnh vực phi nhà nước. Chẳng hạn CIVICUS (Liên minh Thế
giới vì sự tham gia của công dân) định nghĩa về XHDS như sau: XHDS là “môi
trường bên ngoài Gia đình, Nhà nước và Thị trường, là nơi quần chúng liên hiệp
với nhau để phát triển những quyền lợi chung”[77].
2. XHDS là khu vực phi lợi nhuận. Quan điểm này thường quy XHDS về
các loại hình của tổ chức phi chính phủ (NGO) [13].
3. XHDS được hiểu là một bộ phận của xã hội, có “biên giới” với hai hiện
tượng khác trong xã hội là nhà nước và thị trường. Bộ phận “thứ ba” này của xã

23
hội tồn tại độc lập với các doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận, với quân đội,
chính phủ. Như thế, xã hội dân sự bao gồm hàng loạt các lực lượng, được thiết
chế hay không được thiết chế hóa. Họ tồn tại và hoạt động vì lợi ích riêng rẽ của
họ, nhưng suy cho cùng đều vì mục tiêu phát triển [39, 3].
4. XHDS là xã hội dân chủ của những con người tự do tự quyết định lấy
số phận của mình. Con người tự do tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần, và do
vậy, xã hội công dân là xã hội tự do về kinh tế, đa dạng các hình thức sở hữu,
các quan hệ thị trường [55, 9].
5. XHDS đặc trưng cho lợi ích tư, và nó là cơ sở để phân biệt với nhà
nước - cái thiết chế đặc trưng cho lợi ích công [68].
6. XHDS chính là hệ thống các tổ chức xã hội của công dân được gắn kết
bởi những nhu cầu, lợi ích chung, các giá trị hoặc truyền thống chung để tiến
hành nhiều hoạt động khác nhau nhằm phối hợp với nhà nước, bổ xung cho
những khiếm khuyết của nhà nước, đảm bảo sự ổn định, cân bằng và phát triển

cộng đồng.
1.2.2. Đặc điểm của xã hội dân sự
Việc đưa ra những dấu hiệu để dựa vào đó chúng ta có thể phân định được
XHDS với xã hội không phải hoặc chưa phải là XHDS, những đặc điểm đó là gì,
có nội dung như thế nào là một trong những nhiệm vụ của luận văn. Dựa trên cơ
sở nghiên cứu và kết hợp tham khảo các công trình nghiên cứu về XHDS, có thể
nêu lên những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, XHDS là một lĩnh vực nằm ngoài nhà nước, không có tính chất
công quyền. Trong xã hội dân sự mối quan hệ giữa con người với nhau dựa trên
sự tự thảo luận và tạo ra sự đồng thuận trên các vấn đề của cuộc sống mà không
cần có sự can thiệp của nhà nước. Trước đây, người ta luôn cho rằng nhà nước
phải có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; người ta hình dung nhà
nước như “phật bà nghìn tai, nghìn mắt” có thể giải quyết tất cả các vấn đề trong
xã hội. Thực ra, nhà nước là bộ phận nối dài của XHDS để giải quyết những
công việc mà bản thân xã hội không giải quyết được, nói cách khác, xã hội dân
sự là xã hội tự quản lấy mình và đến một mức độ mà nó không có khả năng để
tự quản nữa thì phần còn lại rơi vào nhà nước.

Trích đoạn Cách tiếp cận trong đánh giá xã hội dân sự SỰ HÌNH THÀNH XÃ HỘI DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG Những nhân tố tác động đến quá trình hình thành, phát triển xã hội dân sự Việt Nam hiện đạ Yêu cầu xây dựng và phát triển xã hội dân sự ở Việt Nam Một số giải pháp nhằm xây dựng và phát triển xã hội dân sự theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status