Các loại hình doanh nghiệp Việt Nam - Pdf 25

MỤC LỤC Trang
1. Phụ lục:………………………………………………………………… 1
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn:……………………………………….. 3
• Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:…………………….. 3
• Công ty trách nhiệm hữu hai thanh viên trở lên:………………….. 6
3. Doanh nghiệp tư nhân:………………………………………………. 8
4. Công ty hợp danh:……………………………………………………. 10
5. Công ty cổ phần:……………………………………………………… 13
6. Nhóm công ty:………………………………………………………… 15
• Tập đoàn kinh tế:………………………………………………… 15
• Công ty mẹ-công ty con:…………………………………………. 17
Nguồn:
Luật doanh nghiêp 2005 và văn bản sửa đổi bổ xung năm 2010
Webside tham khảo:
1. .
2. .
3. .
4. .
5. .
6. .
7. .
8. .
9. .
10..
Mở đầu
1
1. Đặt vấn đề.
Việt Nam hiện tại là một nền kinh tế đa thành phần với sự định hướng phát triển
của nền kinh tế quốc doanh. Nhưng các thành phần kinh tế khác cũng có vai trò hết
sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Chúng ta phải có những
hiểu biết nhất định về các loại hình doanh nghiệp

khác đến hạn phải trả.
Tùy thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Chủ
tịch công ty và Giám đốc.
Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn có đầy đủ các đặc thù của công ty trách
nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên. Điểm khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên là công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất và thành viên này
phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân.
I.2. Ưu điểm, nhược điểm
I.2.1. Ưu điểm
• Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ trách nhiệm về các hoạt động
của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn;
• Số lượng thành viên công ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên thường là
người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp;
• Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát
được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty.
I.2.2. Nhược điểm:
• Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng
phần nào bị ảnh hưởng;
• Công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh
nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh;
• Việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyền
phát hành cổ phiếu.
I.3. Nội dung tranh luận
Công ty một người, tại sao không? - Khái niệm truyền thống coi công ty là sự canh ty
của nhiều người, nên các quy định của luật công ty ở các nước thường quy định số thành
viên tối thiểu phải có trong một công ty. Luật Công ty của Thái Lan quy định công ty trách
nhiệm hữu hạn (TNHH) phải có ít nhất 5 thành viên. Luật DN 1999 của Việt Nam quy
3

không quy định về cơ cấu tổ chức, hoạt động và quản trị công ty, nên đương nhiên DN
100% vốn nước ngoài có quyền áp dụng mô hình công ty TNHH theo Luật DN. Trong khi
đó, Luật DN lại không quy định loại công ty TNHH một thành viên là cá nhân.
Đó chẳng phải là sự khập khiễng của hệ thống pháp luật Việt Nam? Tại sao một Việt
kiều, một công dân nước ngoài có quyền lập một DN 100% vốn là pháp nhân Việt Nam,
còn một công dân Việt Nam lại không được thành lập công ty là pháp nhân do mình sở hữu
vốn? Khi thảo luận Luật DN 1999 đã có nhiều ý kiến đề nghị phải coi DN tư nhân là pháp
nhân, tức là thừa nhận công ty TNHH một thành viên là cá nhân, nhưng ý kiến đó không
được chấp thuận, có lẽ lý do đưa ra là sở hữu tài sản cá nhân với tài sản DN tư nhân không
phân biệt nên dễ có nguy cơ làm phương hại lợi ích của chủ nợ. Có thể lý do này sẽ không
còn đứng vững, nếu như một ông chủ hoàn toàn phân biệt được một cách minh bạch giữa
tài sản kinh doanh của công ty với tài sản riêng của cá nhân.
Thứ ba, kinh doanh ngày càng có nhiều cơ hội, nhưng cũng có nhiều rủi ro, nên nhu
cầu lập các công ty TNHH một chủ để phân tán rủi ro ngày càng trở nên cấp bách. Ngay
các công ty lớn ở các nước khi đầu tư vào những thị trường mới hoặc thị trường có nhiều
yếu tố rủi ro, họ đều lập ra các công ty con một thành viên với số vốn điều lệ chỉ tượng
trưng vài đô-la. Vốn hoạt động của công ty con sẽ do công ty mẹ cho vay bằng hợp đồng
4
vay vốn. Khi ký kết các hợp đồng vay, công ty mẹ và công ty con là 2 pháp nhân độc lập.
Nếu có rủi ro và công ty con phá sản thì công ty mẹ trở thành chủ nợ không đảm bảo và
được ưu tiên đòi nợ theo Luật Phá sản. Như vậy, công ty mẹ cùng lắm chỉ mất vài đô-la đã
đăng ký và rủi ro được phân bổ cho các chủ nợ khác.
Công ty TNHH một thành viên ngày nay là công cụ hữu hiệu cho các nhà đầu tư phân
tán rủi ro, vì vậy một số nước đã chấp nhận cho cá nhân thành lập công ty TNHH một
thành viên, thay vì họ chỉ được thành lập DN tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước đây.
Vấn đề cốt lõi là phải phân biệt minh bạch tài sản riêng của cá nhân và tài sản kinh doanh
mang tên công ty.
Thứ tư, việc quy định số thành viên tối thiểu trong công ty sẽ buộc các nhà đầu tư phải
đối phó, vì họ phải nhờ người khác đứng tên đăng ký hộ. Người đứng tên này hoàn toàn vô
trách nhiệm với công ty, thậm chí còn lợi dụng công ty để thu lợi riêng, làm phương hại

a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm
mươi;
b) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;
c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều
43, 44 và 45 của Luật doanh nghiệp 2005.
I.2.1.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh.
II.2.1.3 Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần.
Điều 45 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định cơ cấu tổ chức quản lý công ty trách
nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên như sau:
Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên,
Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc và nếu có trên mười một thành viên phải có Ban
kiểm soát.Quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn, điều kiện và chế độ làm việc của Ban kiểm soát,
Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định.
Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo
pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty. Người đại diện theo pháp luật của
công ty phải thường trú tại Việt Nam; trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên ba mươi ngày thì
phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty.
I.2.2. Điều kiện thành lập Công ty TNHH 2 thành viên trở lên:
Theo quy định tại Điều 38 Luật Doanh nghiệp các chủ thể tham gia thành lập Công ty
TNHH 2 thành viên trơ lên có thể là một tổ chức hoặc là một cá nhâ, số lượng tối thiểu là hai
và số lượng thành viên không vượt quá năm mươi (50).
Ngoài ra các tổ chức, cá nhân tham gia thành lập Công ty TNHH một thành viên phải đáp
ứng được các điều kiện sau đây (Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005):
I.2.2.1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản
lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều này.
I.2.2.2. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status